Trên Tia Sáng có một bài của "nhà
nghiên cứu Trần Trọng Dương" với nhan đề "Truy tìm nguồn gốc loài thú lạ trên mái chùa Một
Cột"
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=5071&CategoryID=41
Thực ra, GS. Hà Văn Tấn đã có bài nghiên cứu về vấn đề này
cách đây khá lâu, ông Trần Trọng Dương khi viết về chủ đề này đã không chịu tìm
hiểu tài liệu của người đi trước để biết và để đánh giá những luận điểm của
người nghiên cứu khác, để kế thừa hay phản bác (yêu cầu tối thiểu của một nghiên
cứu là phải có phần lịch sử nghiên cứu vấn đề). Tia Sáng cũng hồ đồ khi đăng bài
mà không xem xét, tạp chí Tia Sáng là tạp chí khoa học của Bộ Khoa học và Công
nghệ chứ không phải là một trang báo mạng bình
thường.
Đây
là bài của GS. Hà Văn Tấn (copy từ fb của TS. Nguyễn Hồng
Kiên)
“XI VẪN” TRONG BÀI THƠ VỀ CHÙA MỘT CỘT CỦA NHÀ SƯ HUYỀN QUANG
by Nguyễn Hồng
Kiên on Thursday, April 12, 2012 at 11:54am ·
Vị tổ thứ ba của phái
thiền Trúc Lâm thời Trần, ngài Huyền Quang, có một bài thơ rất hay về chùa Diên
Hựu, tức chùa Một Cột, biểu hiện một triết lý thiền sâu sắc. Bài thơ đó đã được
công bố nhiều nơi, ở đây tôi xin phép không nhắc lại, mà chỉ nói tới hai câu thứ
ba và thứ tư, tả cảnh chùa:
Xi vẫn đảo miên
phương kính lãnh,
Tháp quang song trĩ
ngọc tiêm hàn.
Trong
tập Thơ văn Lý Trần xuất bản gần đây, hai câu
đó được dịch nghĩa như sau:
Bóng “xi
vẫn” nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh
giá.
Hai ngọn tháp đứng
song song như ngón tay ngọc rét buốt.
Dịch như thế là được,
không có vấn đề gì.
Vấn đề là ở chỗ chú
thích: “Xi vẫn” hoặc còn gọi là xi vĩ, là hình
những con cú được chạm hoặc đắp nổi trên nóc đình, chùa. Ở chùa Một Cột ngày nay
là hình con rồng.
Do hiểu “xi vẫn”
là hình con cú. Huệ Chi đã dịch hai câu trên trong bài thơ như
sau:
In ngược hình chim,
gương nước lạnh,
Sẫm đôi bóng tháp,
ngón tiên hàn (1).
Mới đây, trong
quyển Những ngôi chùa danh tiếng, khi viết về chùa Một
Cột, Nguyễn Quảng Tuân đã chép lại bài thơ dịch của Huệ Chi và bình luận thêm
như sau:
“Qua bài thơ chúng ta
thấy tác giả tả cảnh chùa Diên Hựu với bóng xi
vẫn (hình một loài chim) nằm ngủ in ngược xuống dưới mặt hồ
trông như tấm gương vuông lạnh giá và với hai ngọn tháp đứng song song như ngón
tay ngọc rét buốt”. Ngày nay ao Bích Trì, cầu vồng và bảo tháp đã không còn. Và
các con Xi vẫn ở trên mái đã được thay thế
bằng những con rồng”(2).
Có
thật Xi vẫn là hình chim cú, như Huệ Chi nói:
hay hình một loài chim, như Nguyễn Quảng Tuân nói hay
không?
Đúng là có một loài cú
mèo mà tên Trung Quốc đọc theo âm Hán Việt là Xi hưu.
Nhưng trong trường hợp Xi
vẫn thì Xi không phải là
một loài chim, càng không phải là cú.
Ai lại đắp hình chim cú
lên nóc đình chùa !
Xi
cũng có khi viết là
(蚩) ở đây là một loài động vật ở biển,
được nói đến trong truyền thuyết Trung Quốc.
Về động vật truyền thuyết
này, có sách nói đó là loài cá, có sách nói đó là loài
thú.
Sách Loại
yếu chép: “Ở BIỂN ĐÔNG có loài cá giống con Xi, phun sóng
tức mưa xuống, từ đời Đường về sau đắp tượng nó ở trên nóc
nhà”.
Sách Tô
chí diễn nghĩa chép: “Xi là loài thú
ở biển, vua Hán Vũ Đế xây điện Bá Lương cho Xi vĩ là tinh của nước, có thể trừ
được hoả tai, nên đặt hình tượng của nó ở trên
điện”.
Trong khi đó,
sách Đường hội yếu lại viết: “Sau khi
điện Bá Lương thời Hán bị hoả tai, CÓ VU SƯ NGƯỜI VIỆT NÓI RẰNG trong biển có
loài cá cuộn đuôi như con Xi, đập vào sóng thì mưa xuống, bèn làm hình tượng của
nó trên nóc nhà để làm điềm trừ
lửa “.
Như
vậy, xi là loài động vật biển mà theo truyền
thuyết, có thể gây ra mưa, nên người Trung Quốc đắp hình nó trên nóc nhà với ý
nghĩa phòng ngừa hoả hoạn.
Chú
thích Thơ văn Lý Trần ghi rằng: “Xi
vẫn hoặc còn gọi là Xi vĩ. Thực
ra Xi vĩ là hình đuôi con Xi,
còn Xi vẫn là hình miệng
con Xi.
Tuy vậy, do thói quen,
người ta thường gọi lẫn lộn xi
vẫn với xi vĩ.
Chẳng hạn,
sách Cựu Đường thư của Lưu Tuân, người thời
Ngũ Đại, chép năm Khai Nguyên thứ 14 (năm 726), có một trận gió lớn làm cho
các xi vẫn trên của Đoan Môn rơi hết. Cũng sự
kiện đó, trong Tân Đường thư, Âu Dương Tu đời Tống lại
chép là các Xi vĩ rơi
hết.
Trong thực tế, sự biến
chuyển từ hình Xi vĩ đến
hình Xi vẫn là một quá trình khá dài trong
lịch sử kiến trúc Trung Quốc.
Vì chùa Một Cột thời
Trần, theo ngài Huyền Quang, có hình Xi
vẫn trên mái, tôi nghĩ rằng chúng ta cũng nên biết đến sự ra
đời và biến chuyển của Xi vẫn trong kiến trúc
Trung Quốc.
Như trên đã dẫn, một số
sách có nói về hình Xi vĩ (đuôi con Xi) trên
điện Bá Lương thời Hán, nhưng các nhà lịch sử kiến trúc Trung Quốc đã nghi ngờ
về điều này.
Họ cho
rằng xi vĩ chỉ xuất hiện trên nóc các kiến
trúc từ thời Tấn về sau mà chưa có ở thời Hán.
Họ dựa vào câu chép trong
sách Bắc sử (Vũ Văn Khải truyện): “Từ Tấn về trước chưa
có Xi vĩ ”, và câu chép
trong Tấn thư (An Đế kỷ): “Tháng 6 năm Nghĩa Hy thứ nhất
(năm 405) sét đánh vào Xi vĩ ở nhà Thái
miếu”. Những câu này trong các bộ chính sử xác nhận sự xuất hiện
của Xi vĩ ở đời
Tấn.
Dựa vào các di tích kiến
trúc, đặc biệt là dựa vào các hình nhà trong các bích hoạ, các nhà lịch sử kiến
trúc Trung Quốc đã phác hoạ được con đường phát triển của Xi
vĩ (3).
Đại thể từ thời Tấn đến
Nam Bắc triều, hình xi vĩ còn khá đơn giản,
chỉ là hai cái mấu cong ở hai đầu nóc nhà (xem hình
dưới).
Đến đời Tuỳ,
Đường, xi vĩ đã phát triển đến các hình thức
đẹp, có dạng cao lớn, phía sau (tức phía trở ra hồi nhà) thường có hai hàng kỳ
nổi lên. Còn phía trước, có những hình trang trí như những u tròn, được gọi là
“bảo châu” (xem hình dưới).
Nhiều ngôi chùa cổ ở Nhật
Bản còn giữ được kiểu Xi vĩ đời Đường, mà
người Nhật gọi là shibi. Tôi đã có dịp xem
các shibi như vậy ở chùa Horyu, Tosho, tại
Nara, Nhật Bản.
Nhưng từ thời Trung
Đường, hoặc cuối Đường, hình dạng Xi vĩ có sự
biến chuyển quan trọng.
Phía sau
của Xi vĩ không thay đổi mấy nhưng phía trước
dần dần trở thành miệng con thú đang há ra. Như thế là Xi
vĩ đã trở thành Xi
vẫn.
Từ cuối Đường đến Tống,
hình Xi vẫn càng ngày càng đa dạng. Trong tấm
đuôi ngược lên phía trên, thường có những dạng có vẩy, làm
cho Xi vẫn đã khá gần với hình rồng (xem hình
dưới).
Trong Doanh
tạo pháp thức của Lý Minh Trọng soạn năm 1100, có mục nói
về Xi vĩ, nhưng cũng đã đề cập đến Long
vĩ (đuôi rồng), mà thực chất là Long
vẫn (miệng rồng).
Qua các đời Nguyên, Minh,
Thanh, dần dần có những Long vẫn, hay đúng ra là hình
rồng, với các dạng thức hoàn thiện (xem hình).
Đời Thanh, gọi
chung Xi vẫn hay Long
vẫn là Chính
vẫn hay Đại
vẫn.
Như vậy là chúng ta đã
điểm qua lịch sử phát triển của Xi
vĩ và Xi vẫn, một hình thức trang trí
hai đầu nóc nhà, trong kiến trúc Trung Quốc.
Điều chúng ta quan tâm ở
đây là hình thức trang trí nóc nhà đó ảnh hưởng đến kiến trúc hay không? Liệu
bài thơ của ngài Huyền Quang có phải đã đưa ra một sự miêu tả hiện thực hay
từ Xi vẫn ở đây chỉ là một từ có sẵn mà tác
giả mượn để chỉ các trang trí trên nóc nhà nói chung?
Tôi nghiêng về ý kiến cho
rằng trên nóc chùa Một Cột thời Trần thực đã có các hình Xi
vẫn.
Các ảnh hưởng của kiến
trúc Trung Quốc đến kiến trúc Việt Nam thời kỳ Lý Trần rõ ràng không thể phủ
nhận. Ta có thể thấy được điều này qua các tháp hiện còn ảnh hưởng của kiến trúc
Trung Quốc đến Việt Nam trong thời kỳ Lý Trần chỉ có thể là những ảnh hưởng của
kiến trúc từ cuối Đường đến Tống Nguyên.
Mà trong giai đoạn này
của lịch sử kiến trúc cổ Trung Quốc, kiểu trang trí xi
vẫn trong thơ Huyền Quang là hoàn toàn hợp lý. Điều đó có
nghĩa là trên nóc chùa Một Cột thời Trần, có hình miệng
con xi (xi vẫn) chứ không phải là
hình đuôi con xi (xi vĩ) nữa. Mà đã
là hình miệng con xi thì trên thực tế, rất
gần với hình rồng.
Phải chăng hình rồng có
vảy thời Trần là có ảnh hưởng nào đó của Xi
vẫn thời Tống, Nguyên?
Một điều đáng suy nghĩ
nữa là trên nóc chùa Một Cột thời Lý là đã có Xi
vẫn hay chưa? Chúng ta biết rằng chùa Một Cột thời Lý có quy
mô to lớn hơn và khác với chùa Một Cột ngày nay.
Quy mô đó có thể thấy qua
những điều miêu tả trong Đại Việt sử ký toàn
thư và trong văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi, Hà
Nam. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, quyển
3, tr.15a) chép: “Mùa Thu, tháng Chín (năm Long Phù thứ năm, 1105), làm hai
ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu... Bấy giờ vua (Lý Nhân Tông) cho chữa lại
chùa Diên Hựu đẹp hơn cũ, đào hồ ở đài hoa sen, gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ
có hành lang chạm vẽ chạy chung quanh, ngoài hành lang lại đào hồ gọi là Bích
Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây bảo tháp”. Bia
tháp Sùng Thiện Diên Linh (dựng năm 1122)
cũng có đoạn tương tự: “Mở chùa Diên Hựu ở vườn Tây Cấm, dấu theo quy mô
thủa trước, lo toan thánh ý ngày nay. Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao chồi lên
một cột đá, trên cột có một đoá hoa sen nghìn cánh xoè ra. Trên hoa dựng ngôi
đền đỏ sẫm, trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang vẽ bao bọc.
Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. Ở sân trước cầu,
hai bên tả hữu, xây tháp báu lưu ly”.
Như vậy là ở chùa Một Cột
thời Lý, có hai ngôi tháp được xây dựng năm 1105. Trong thơ của Huyền Quang thời
Trần có nói đến hai ngôi tháp, hẳn đó là những ngôi tháp có từ thời Lý. Có điều
là ngôi chùa Một Cột thời Trần không còn là ngôi chùa thời
Lý. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ,
q.5.tr.16b) chép: “Năm Kỷ Dậu (Thiên ứng Chính Bình thứ 18, 1249), mùa Xuân,
tháng Giêng, trùng tu chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ”. Nói
rằng chùa được trùng tu trên nền cũ, có nghĩa là ngôi chùa trước đó không còn
nữa.
Mà ngày xưa, trùng tu,
tức xây dựng lại, không ai bắt buộc phải theo đúng hình mẫu cũ như công việc
trùng tu di tích hiện nay. Do đó, chúng ta hoàn toàn không thể biết được
những Xi vẫn có trên ngôi chùa thời Trần đã
tồn tại trên ngôi chùa thời Lý hay chưa. Nếu có, thì cũng là Xi
vẫn, đầu kiểu khác, chứ không thể là Xi
vĩ.
Viết bài này, tác giả
không chỉ nhằm đính chính một chỗ hiểu sai trong bài thơ nổi tiếng về chùa Một
Cột của ngài Huyền Quang, mà muốn gợi ra một số vấn đề về kiến trúc Phật giáo Lý
Trần, một giai đoạn rực rỡ trong lịch sử kiến trúc Việt
Nam.
(*) Đã in
trong Nghiên cứu Phật học, số
3/1991.
(1) Thơ
văn Lý Trần, Tập II, quyển Thượng- Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà
Nội.1989.tr.705.
(2) Nguyễn Quảng
Tuân. Những ngôi chùa danh tiếng- Viện nghiên cứu Phật học
Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh,1990,
tr.18.
(3) Về quá trình biến
chuyển của Xi vĩ và Xi
vẫn, có thể xem bài “Trung Quốc cổ đại kiến trúc đích tích sức”
(Hình trang trí nóc nhà trong kiến trúc cổ đại Trung Quốc) của Kỳ Anh Đào, trong
tạp chí Văn vật số 3, 1978, tr.62-70.
Bonus
Note của TS. Nguyễn Hồng
Kiên ĐÁNG LƯU Ý là:
"Sách Loại yếu chép: “Ở BIỂN ĐÔNG có loài cá giống con Xi, phun sóng tức mưa xuống, từ đời Đường về sau đắp tượng nó ở trên nóc nhà”.
Sách Tô chí diễn nghĩa chép: “Xi là loài thú ở biển, vua Hán Vũ Đế xây điện Bá Lương cho Xi vĩ là tinh của nước, có thể trừ được hoả tai, nên đặt hình tượng của nó ở trên điện”.
Trong khi đó, sách Đường hội yếu lại viết: “Sau khi điện Bá Lương thời Hán bị hoả tai, CÓ VU SƯ NGƯỜI VIỆT NÓI RẰNG trong biển có loài cá cuộn đuôi như con Xi, đập vào sóng thì mưa xuống, bèn làm hình tượng của nó trên nóc nhà để làm điềm trừ lửa “."
"Sách Loại yếu chép: “Ở BIỂN ĐÔNG có loài cá giống con Xi, phun sóng tức mưa xuống, từ đời Đường về sau đắp tượng nó ở trên nóc nhà”.
Sách Tô chí diễn nghĩa chép: “Xi là loài thú ở biển, vua Hán Vũ Đế xây điện Bá Lương cho Xi vĩ là tinh của nước, có thể trừ được hoả tai, nên đặt hình tượng của nó ở trên điện”.
Trong khi đó, sách Đường hội yếu lại viết: “Sau khi điện Bá Lương thời Hán bị hoả tai, CÓ VU SƯ NGƯỜI VIỆT NÓI RẰNG trong biển có loài cá cuộn đuôi như con Xi, đập vào sóng thì mưa xuống, bèn làm hình tượng của nó trên nóc nhà để làm điềm trừ lửa “."
Nguồn:
http://www.facebook.com/notes/nguy%E1%BB%85n-h%E1%BB%93ng-ki%C3%AAn/xi-v%E1%BA%ABn-trong-b%C3%A0i-th%C6%A1-v%E1%BB%81-ch%C3%B9a-m%E1%BB%99t-c%E1%BB%99t-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A0-s%C6%B0-huy%E1%BB%81n-quang/229652080475741?notif_t=note_reply



00:48
danillewoods7537368
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét