Tóm
tắt
Giai
đoạn từ TK 5 TCN đến TK 5 CN là
giai đoạn bản lề trong diễn biến lịch
sử và văn
hoá ở miền Trung Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung.Những
tiếp xúc văn hoá nhiều
chiều đã
diễn ra trên địa bàn này tương ứng với sự hình thành và phát triển của một loạt
những chính thể sớm dạng “lãnh địa”và
đặc biệt là sự biến chuyển từ các dạng xã hội này hay những dạng xã hội với mức
độ phức hợp thấp tương đương sang những hình thức chính thể dạng nhà nước với
mức độ phức hợp cao hơn. Những chuyển biến diễn ra trong nhiều lĩnh vực của
thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở từ chính trị, kinh tế, cấu trúc xã hội,
tổ chức không gian sống/chết đến đời sống văn hoá vật chất, tinh
thần...
Quá
trình chuyển biến trong cấu trúc chính trị của xã hội thời kỳ từ sơ sử sang thời
kỳ đầu của lịch sử này (tức sự hình thành các dạng nhà nước sớm kiểu Lâm Ấp kế
thừa từ những chính thể dạng lãnh địa thời Sa Huỳnh) ở miền Trung Việt Nam
không mang tính ngẫu nhiên, đột ngột, đây là một quá trình chuyển dịch nhanh
mạnh dần theo thời gian được khởi nguồn từ cơ tầng bản địa dưới tác động của
những nhu cầu phát triển bên trong và những động lực từ bên ngoài bất kể chính
trị, kinh tế, văn hoá hay môi
trường....
Từ
khoá:
Văn hoá Sa Huỳnh, Chămpa sớm, Chămpa, Lâm Ấp, Lãnh
địa, Mandala, Phức hợp xã hội, Miền Trung Việt
Nam
Abstract
Central
Vietnam during the Period of Emergence of Early States Studies on the
Distribution and Nature of Archaeological
Sites
The time from
500 BC to AD 500 is defined by scholars as the critical period in the cultural
and historical process of Vietnam in particular and in Southeast Asia in
general. Recent archaeological finds and discoveries lead us to recognize the
dynamic cultural contacts of the area with the external world and strong
acculturation between the exogenous and indigenous factors which led the
emergence and development of the early polity so-called chiefdom and the
transformation from chiefdom which
evidenced the low social complexity to the state polity with the higher social
complexity.
This
transformation process of political structures in the societies from the
proto-historic to early historic periods (i.e the formation of the early states
of Linyi inherited the Sa
Huỳnh chiefdom) in Central
Vietnam is not of radical, sudden nature. This is the results of the gradual
transformation process, which based on the local ground and influenced by the
internal needs and external impacts including political, economic, cultural or
environmental...
Key
worlds:Sa
Huỳnh culture, Early Champa, Champa, Linyi,
Chiefdom, Mandala, Social complexity, Central
Vietnam.
1. Văn
hoá Sa Huỳnh – sự hiện diện của những quần thể cư trú-mộ táng chứng tích của
lãnh địa ở lưu vực
sông
Từ
khi phát hiện đến nay, khoảng 90 địa điểm văn hoá Sa Huỳnh đã được phát hiện,
trong đó 37 địa điểm đã được khai quật và thám sát (bản
đồ
1).
Bản
đồ 1
Những
di tích văn hoá Sa Huỳnh được phát hiện ở hầu hết mọi địa bàn từ vùng rừng núi
đến các đảo ven bờ. Có ba dạng địa hình chính là vùng núi và đồi gò trước núi
ven sông (thượng nguồn sông), vùng đồng bằng trên các cồn/gò cát ven sông, cửa
sông biển, ven biển và vùng hải
đảo.
Vùng núi và đồi gò trước núi ven sông:
Khoảng gần 20 di tích Sa Huỳnh phân bố trên địa bàn vùng núi phía tây Quảng Nam
(thượng nguồn sông Thu Bồn) tạo thành các nhóm tập trung. Ở Quảng Ngãi di tích
tập trung ở thung lũng sông Tang và những di tích Sa Huỳnh ở đây được xác định
có nguồn gốc từ những di tích Tiền Sa Huỳnh trong cùng không gian, ở Phú Yên mới
phát hiện một di tích Suối Mây thuộc huyện sông Hinh. Độ mật tập của các di tích
văn hoá Sa Huỳnh, trong đó có nhiều di tích là khu mộ táng/cư trú rộng lớn, giàu
có ở vùng rừng núi nơi thượng lưu của các sông lớn, đặc biệt là sông Thu Bồn cho
thấy phương thức mưu sinh của cộng đồng dân cư chủ yếu dựa vào khai thác sản
phẩm lâm thổ sản và trao đổi buôn bán với bên ngoài bằng đường sông, đường bộ và
đường
biển.
Cồn
cát ven sông, biển, cửa sông-biển:
Các di tích phân bố trên các cồn cát ven sông ven biển được phát hiện ngay từ
giai đoạn đầu và hiện có số lượng lớn nhất và hệ sinh thái Cồn – Bàu (chữ dùng
của GS.Trần Quốc Vượng) là hệ sinh thái nhân văn tiêu biểu của văn hoá Sa Huỳnh,
cư dân sinh sống ở hệ sinh thái này có thể cùng kết hợp nhiều phương thức kiếm
sống như khai thác rừng, làm nông nghiệp, khai thác sông biển và buôn bán gần,
buôn bán đường
trường.
Vùng
hải đảo:
Cho đến nay, những di tích phân bố trên đảo được biết đến chưa nhiều, gồm có hai
di tích Suối Chình và Xóm Ốc được phát hiện trên đảo Lý
Sơn.
Có
thể xác định một số không gian sống - cụm di tích từ Bắc vào Nam và từ Tây sang
Đông như
sau:
Hà
Tĩnh: Bãi Cọi, Bãi Lồi, Bãi Phôi Phối, Bãi Lòi….
Quảng
Bình: Cương
Hà, Cổ Giang...
Thừa
Thiên-Huế: Cồn Ràng và Cồn Dài (xã Hương
Chữ, huyện Hương Trà, Cửa
Thiềng (thị trấn Phú Ốc, huyện Hương
Trà) và dấu tích chum ở Phú Thượng (huyện Phú Vang).
Thành
phố Đà Nẵng: Ngũ Hành Sơn,
bán đảo Sơn Trà
Quảng
Nam: Phú
Hoà, Tam Mỹ (huyện Núi Thành), Quế Lộc, Bình Yên, (huyện Quế Sơn),
Tiên Hà (huyện
Tiên Phước),
Đại Lãnh,
Đồi Vàng, Gò Mùn, (huyện Đại Lộc), Paxua, Tabhing (huyện
Giằng), cụm
di tích văn hoá Sa Huỳnh Gò Mả Vôi/Gò Miếu Ông, Thôn Tư
(di chỉ cư trú), Gò
Dừa (huyện Duy Xuyên), Bàu
Trám và Trảng Đổng Du (huyện Núi Thành), Lai
Nghi (huyện Điện Bàn), cụm
di tích văn hoá Sa Huỳnh trên cồn cát Cẩm Hà (thị xã Hội An)...
Nếu
đi dọc sông Thu Bồn chúng ta có thể nhận biết một kiểu phân bố di tích như
sau:
Hạ
lưu sông Thu Bồn: Hội
An- Điện Bàn, gồm các di tích Lai Nghi, An Bang, Hậu Xá I, Hậu Xá II, Xuân Lâm,
Tứ Câu, Thanh Quýt, Điện Ngọc, Điện Tiến,… Cụm di tích này có quy mô lớn, nằm
ngay sát vùng cửa sông Hội An đổ ra
biển..
Trung
lưu sông Thu Bồn và Duy Xuyên, gồm các di tích Thôn Tư, Gò Mả Vôi, Gò Miếu Ông,
Gò Bà Hòm, Gò Ông Nhạn, Gò Bờ Rang, Gò Tây An… Trung tâm Gò Dừa, Phú Đa, Dinh
Ông, Vườn nhà ông Mười
Linh.
Thượng
lưu sông Thu Bồn với trung tâm Gò Đình (Đại Lãnh), Gò Ngoài, Gò Đình II, nhóm
này phân bố ở vùng đồi gò trước núi ven sông ở huyện Đại
Lộc.
Trong
mỗi cụm/nhóm cư trú mộ táng này luôn có sự hiện diện của những địa điểm trung
tâm và vệ tinh tạo thành một mạng nhỏ trong một mạng lưới xã hội rộng hơn kết
nối với khu vực bằng đường sông, biển, sự phân hoá và chênh lệch trong quy mô
mộ, đồ chôn theo mộ cho thấy sự hiện diện của tầng lớp “quý tộc” trong mỗi cộng
đồng dân cư
(Lâm Mỹ Dung 2009:
4).
Quảng
Ngãi: Trà Xuân, huyện Trà Bồng, Đồi Đông Tranh, huyện Sơn Tịnh, cụm di tích mộ
táng cư trú thung lũng sông Tang, huyện Tây Trà, Sa Huỳnh, Phú Khương, Thạnh
Đức, Long Thạnh, huyện Đức Phổ, Bình Châu I và Bình Châu II (lớp trên), Gò Quê,
huyện Bình Sơn, Cù Lao Ré (huyện đảo Lý Sơn) ... Quảng Ngãi cũng là địa bàn
trung tâm của văn hoá Sa Huỳnh, nhưng tại đây mức độ nghiên cứu chưa xứng với
tiềm năng di
tích.
Bình
Định: Thuận Đạo, Chánh Trạch, Động
Cườm...
Phú
Yên: Rừng Long Thuỷ (hay Gò Bộng Dầu) (RLT – GBD), Suối Mây, Khe Ông Dậu, Bầu
Sấu...
Khánh
Hoà: Diên Sơn, Phước Hải, Vĩnh Yên, Hoà
Diêm...
Ninh,
Bình Thuận: Mỹ Tường (lớp trên), Bàu Hoè, Phú
Trường....
Đông
Nam Bộ: Suối Chồn, Phú Hoà, Hàng Gòn, Dầu Giây... (Đồng Nai) và những di tích mộ
chum tại khu vực Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh)...
Trong
không gian phân bố trên, đáng chú ý là sự hình thành những cụm dân cư tập trung
ở khu vực thượng nguồn và cửa sông ven biển cho thấy sự hiện diện của những cộng
đồng cư dân lớn Cồn Dàng, Gò Mả Vôi, Hậu Xá, Đại Lãnh, Lai Nghi,
Gò Quê, Động Cườm, Hoà Diêm, Phú Trường, Suối Chồn, Giồng Cá Vồ...) với chế độ
thủ lĩnh kế thừa theo huyết thống, bên cạnh đó còn có những cộng đồng với số
lượng cư dân ít hơn cũng với chế độ thủ lĩnh cha truyền con nối. Tư liệu dân tộc
học lịch sử người Tà Ôi (Việt Nam) (Trần
Quốc Vượng và Hayden 1996:
11-14), một
số tộc người ở Việt Nam, Thái Lan, Phillipin (Junker
Lee Laura 1993:1-36)...cho thấy điều này.
Những mộ địa Sa Huỳnh dù phân bố trên bất kỳ địa hình nào cũng đều chiếm cứ
không gian cao ráo, gần đường giao thông/thương và sát nơi cư trú (khu cư trú
thường ở địa hình thấp hơn, cận kề bàu nước ngọt hay sông), những khu mộ địa có
diện tích rộng tới chục nghìn mét vuông và thường là phức hợp di tích của nhiều
mộ địa tồn tại liên tục trong vòng thời gian từ một đến vài trăm năm. Những khu
mộ điển hình như Cồn Ràng, Gò Mả Vôi, Lai Nghi, Hoà Diêm, Giồng Cá Vồ... cung
cấp những chứng cứ về một dạng xã hội phức hợp phân tầng với sự phân hóa xã hội,
địa vị và của cải ở mức độ cao và không kém so với những xã hội đương thời ở khu
vực, “Sức sản xuất Sa Huỳnh không kém gì Đông Sơn của thời đại các vua Hùng Việt
cổ. Quan hệ xã hội đã phân hoá khá rõ rệt. Thanh gươm sắt đã xuất hiện khá phổ
biến trong các khu mộ chum Sa Huỳnh muộn. Mà thanh gươm là biểu trưng của quyền
lực: “Thanh gươm và cái lưỡi hợp với nhau tạo nên ông vua” (V.V. Durant). Tầng
lớp quý tộc Sa Huỳnh- qua chứng cứ khảo cổ học đã ưa chuộng
sự xa hoa, sự lộng lẫy,
sự phô trươngmà lại vẫn tinh tế, trang nhã và không phải là
không có ý thiết thực. Quý tộc Đông Sơn chuộng đồ đồng. Quý tộc Sa Huỳnh chuộng
đồ ngọc.
Đó đã là một lối sống văn minh, kiêu sa. Từ Đông Sơn đã ra đời nhà nước đầu tiên
của các vua Hùng (Pò Khun). Từ Sa Huỳnh không thể không ra đời Nhà nước đầu tiên
của các Kurung” (Trần
Quốc Vượng (chủ biên) 1985:
109-110).
2. Champa
thời kỳ sớm – Lâm Ấp và tương đương Lâm Ấp và những trung tâm hành chính-chính
trị - quân sự ở miền Trung Việt Nam đầu Công nguyên (bản
đồ 2)
Bản
đồ 2
Thành
Lồi qua những kết quả nghiên cứu mới và sự hiện diện của một trung tâm Hành
chính-Chính trị-Quân sự ở lưu vực sông
Hương.
Thành
Lồi hiện nay thuộc địa phận 3 phường: Thủy Xuân, Thủy Biều và phường
Phường Đúc (thành phố Huế); cách trung tâm thành phố Huế 7 km về phía
Tây. Toàn
bộ luỹ
của Thành
Lồi bao quanh đồi Long Thọ (Long Thọ Cương), bên tả ngạn sông Hương, đối diện
bên hữu ngạn là chùa Thiên Mụ được xây dựng trên đồi Hà Khê. Long Thọ Cương – Hà
Khê được xem là tỏa khẩu thứ nhất của dòng Hương giang. Dấu vết hiện còn cho
chúng ta thấy Thành Lồi có cấu trúc dạng gần vuông, các lũy thành nằm đúng theo
hướng Tây - Bắc - Đông – Nam (Sơ
đồ 1), dấu tích của Thành Lồi vẫn còn tương đối
nguyên vẹn so với nhiều toà thành Chămpa cổ khác. Thành Lồi được xây dựng trên
cơ sở tận dụng một cách tối đa địa thế tự nhiên của vùng đồi Long Thọ và Sông
Hương, những mảnh gốm và mảnh ngói phát hiện được ở luỹ Tây và
luỹ Nam đợt khảo sát 2013 cho thấy chúng mang nhiều nét đặc trưng của đồ gốm
thô, mịn và ngói Chămpa thuộc tầng văn hoá trên của Trà Kiệu tức từ sau thế kỷ
IV-V (Lâm
Thị Mỹ Dung và cộng sự
2013).
Sơ đồ
1
Tại
khu vực Huế đã phát hiện tấm bia ký trong đó nhắc tới Kandarpapura, kinh đô của
ông vua tên là Kandarpadharma, ông lên ngôi trị vì vào thế kỷ 6 ở trong vùng và
là vị vua đầu tiên của vương quốc Chămpa mà chúng ta biết, Prakashadrma với tên
gọi lúc lên ngôi là Vikrantavarman năm 658 ở Mỹ Sơn (Anne-Valérie Schweyer 2011:
204). Tuy
nhiên khó mà gắn nội dung tấm bia này với Thành Lồi hay bất cứ di tích nào ở Huế
trong tình hình nghiên cứu hiện
nay.
Cho tới nay ở lưu vực Sông Hương chưa phát
hiện được bất cứ địa điểm nào có niên đại Chămpa sớm tương đương với giai đoạn
trước Lâm Ấp và Lâm Ấp, TK 1,2 CN như đã phát hiện ở Hội An, Trà Kiệu, Gò Cấm
lưu vực sông Thu Bồn. Tuy nhiên trong một số sưu tập tư nhân, đặc biệt là sưu
tập của ông Hồ Tấn Phan, Tp. Huế có khá nhiều di vật gốm được xác định vớt từ
sông Hương có niên đại tương đương với đồ gốm trong lớp sớm nhất ở Trà Kiệu với
những loại hình tiêu biểu như bình hình trứng, ngói sớm mặt bụng in dấu vải, bếp
lò đất nung (cà ràng) (Lâm
Thị Mỹ Dung và nnk 2011:
157), tổ hợp hiện vật sớm này cho
thấy có nhiều khả năng lưu vực sông Hương có những
di tích kiểu Trà Kiệu – Gò Cấm và cũng là một trong những trung tâm chính trị -
kinh tế - văn hóa phân bố ở lưu vực sông như các trường hợp Thu Bồn, Trà Khúc,
Đà Rằng. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là những hiện vật sưu tầm và vì vậy vấn đề liên
quan đến những khu vực cư trú và không gian xã hội của những cộng đồng cư dân
giai đoạn Lâm Ấp cũng như cương vực của Lâm Ấp ở Bắc Đèo Hải Vân ở lưu vực sông
Hương vẫn còn để ngỏ đợi những kết quả nghiên cứu mới trong tương
lai.
Lưu vực sông Thu Bồn và dấu vết
khảo cổ học liên quan đến sự hình thành và phát triển của trung tâm hành chính –
chính trị - quân sự sớm những thế kỷ đầu Công nguyên
Khu
vực cửa sông ven biển Hội An: Trên các dải cồn cát ven dòng chảy cổ (dấu
tích đổi dòng của sông Thu Bồn) một loạt các di tích Chămpa sớm đã được phát lộ
và nghiên cứu. Niên đại khởi đầu của các di tích này là từ cuối thế kỷ 1 đến đầu
thế kỷ 2 CN, đa số các di tích có tầng văn hoá phát triển liên tục qua nhiều thế
kỷ, bao trùm suốt giai đoạn hình thành (nửa đầu TNK I CN) và cực thịnh của vương
quốc Chămpa (thế kỷ 7-10). Như vậy về tính chất đây là những di tích giai đoạn
Chămpa sớm - Lâm Ấp và
Chămpa.
Hầu
hết các di tích phân bố ven các dòng chảy cổ (hiện là các bàu nước ngọt), trên
cùng một địa bàn với những di tích mộ chum. Về đại thể, những di tích mộ chum
nằm phía trong của cồn cát, các di tích Chămpa Lâm Ấp và Chămpa phân bố ở phía
ngoài, đều ven các dòng sông cổ. Các địa điểm này có tính chất khác nhau từ
làng-bến chợ ven sông, làng cư trú, nơi thờ
tự...
Ngoài
những dấu tích cư trú, bến cảng, ở khu vực Hội An còn có nhiều dấu tích kiến
trúc, điêu khắc có niên đại từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 12 và một loạt những giếng
Chămpa được xác định có liên quan đếnnhững hoạt động của Lâm Ấp Phố, một trung
tâm thương mại quan trọng của vương quốc Chămpa giai đoạn Lâm Ấp và giai đoạn
Chămpa.
Phức
hợp di tích Gò Cấm- Trà Kiệu: Cư trú sớm, thành luỹ và đền tháp cung điện từ TK
1 đến TK 8-
9
Tại
khu vực hiện nay là Trà Kiệu và vùng phụ cận, một loạt những địa điểm có niên
đại cận kề với thời điểm kết thúc của văn hoá Sa Huỳnh, từ nửa sau TK 1 CN với
nhiều chức năng, tính chất khác nhau đã được phát hiện và nghiên
cứu.
Gò
Cấm: Tích tụ văn hoá vật chất ở Gò Cấm không dày, dưới lớp đất mặt hiện nay, dày
từ 5-20cm là tầng văn hoá dày không đều từ 50-70cm. Ở một số điểm của Gò Cấm,
đặc biệt là ở khu vực tìm thấy sàn nhà bằng gỗ cháy, tầng văn hoá Gò Cấm nằm
chồng lên tầng văn hoá của di chỉ cư trú Thôn Tư có niên đại sơ kỳ sắt (văn hoá
Sa Huỳnh). Ở một số điểm khác không thấy tầng văn hoá Sa Huỳnh này. Như vậy ở Gò
Cấm có lớp văn hoá Sa Huỳnh (lớp dưới) và bên trên nó là lớp văn hoá Gò Cấm (lớp
trên, lớp Chămpa sớm). Bộ di vật cho thấy niên đại khởi đầu của lớp văn hoá trên
là từ nửa sau TK 1 CN và kết thúc vào cuối TK 1 CN. Trong bộ di vật tìm thấy ở
đây có gốm Chămpa sớm, hiện vật có nguồn gốc Đông Hán (và cả hiện vật mang phong
cánh Đông Hán) như bình, vò gốm cứng văn in, mũi tên đồng, khuyên tai thủy tinh
hình trụ lõm ở giữa, phong nê... và một số hiện vật gốm thương mại Nam
Ấn (Nguyễn
Kim Dung
2007).
Vị
thế của Gò Cấm cùng tính chất của hiện vật cho thấy Gò Cấm có những chức năng
chuyên biệt nào đó về kinh tế và chính trị án ngữ trên con đường từ hạ lưu lên
thượng nguồn sông Thu
Bồn.
Trà
Kiệu: Tại Trà Kiệu các nhà khảo cổ đã phát hiện những dấu tích cư trú Chămpa sớm
ở khu vực Gò Dũ Dẻ, Hoàn Châu, Bửu Châu.... Dấu vết cư trú sớm có diện tích khá
lớn, trải rộng ở phần phía bắc của nội thành Trà Kiệu và tập trung nhất ở chân
núi Bửu Châu, dấu tích cư trú và kiến trúc muộn hơn phủ lên cư trú sớm và mở
rộng ở nhiều điểm, hoạt động cư trú muộn hơn cùng với các công trình kiến trúc
nhiều thời kỳ đã làm xáo trộn và phá huỷ tầng cư trú
sớm.
Dấu
vết cư trú ở Trà Kiệu có thể được phân thành hai thời kỳ dựa vào di tích và di
vật, thời kỳ sớm từ giữa thế kỷ 1 Công
nguyên đến thế kỷ 3 Công nguyên, tương ứng với thời kỳ kết thúc của văn hoá Sa
Huỳnh và thành lập Lâm Ấp, thời kỳ muộn từ thế kỷ 4 đến thế
kỷ 7, 8 Công nguyên và kéo dài sau đó, tương ứng với thời kỳ Lâm Ấp –
Chămpa. Địa tầng khảo cổ, di tích và di vật trong địa tầng cho
thấy giữa hai thời kỳ này không có sự gián đoạn và đứt gãy
văn hoá, chỉ là sự diễn biến nội tại phản ánh một quá trình sinh sống liên tục
với những biến đổi trong cả lĩnh vực văn hoá vật chất và tinh
thần.
Trong
thời kỳ sớm đã xuất lộ một số công trình kiến trúc gỗ (kiểu nhà có sàn bằng gỗ
như Gò Cấm), mái lợp ngói mặt bụng in dấu vải, hoặc bằng chất liệu thực vật nào
đó, đây chủ yếu là những kiến trúc công cộng, hành chính và dân dụng, chưa thấy
biểu hiện rõ nét của kiến trúc tôn giáo và tâm
linh.
Tất
cả các công trình kiến trúc xây gạch, lợp ngói in khuôn hay dải cuộn, mặt bụng
không có dấu vải, mặt lưng có vết chải sâu và đầu ngói ống trang trí mặt người,
linh thú, hoạ tiết hoa lá... đều thuộc thời kỳ muộn hơn, những công trình này có
thể có chức năng liên quan đến thủ phủ của Lâm Ấp và sau đó là kinh thành
Simhapura của Chămpa Amaravati trong lịch
sử.
Luỹ
thành Trà Kiệu: Những kết quả cắt tường thành Nam và Đông của thành Trà Kiệu cho
biết về kỹ thuật đắp thành, kết cấu lõi thành được nện bằng đất sét thuần, với
nhiều lớp. Hai bên được xây ốp bằng hai tường gạch, mặt cắt ngang của đoạn tường
thành cho thấy có nhiều giai đoạn xây dựng hoặc trùng tu. Một số dấu tích của
nền sỏi bên trên bờ gạch xây tường Đông phát hiện trong đợt khai quật năm 2013
được cho có thể liên quan đến “điếm canh”, “trạm gác”... hay mái che dọc bờ
thành? (Nguyễn
Kim Dung và cộng sự 2014: 667-668), 01 mẫu lấy ở khai quật
tường thành Đông phân tích tại Nhật Bản cho kết quả 1.730 ±
20BP (Mariko
YAMAGATA và cộng sự, 2013: 666). Dựa vào kỹ thuật xây
thành và hiện vật khảo cổ, có thể cho rằng thành Trà Kiệu có niên đại khởi xây
từ khoảng đầu thế kỷ thứ 4 CN, niên đại sớm nhất của tường thành Nam và Đông này
tương đương với niên đại đầu của tầng văn hoá trên Trà Kiệu, thành đã được sửa
chữa và đắp lại vài lần ở những giai đoạn muộn
hơn.
Niên
đại của phức hợp Thành luỹ - Cư trú – Đền tháp Trà Kiệu có thể được phác như
sau:
Cư
trú ở Trà Kiệu: Sớm nhất là từ TK 1 CN và kéo dài qua giai đoạn Lâm Ấp - Chămpa,
Chămpa, Đại
Việt.
Các toà thành: Khởi xây từ cuối TK 3 đầu thế kỷ
4
Dấu tích kiến trúc gỗ, lợp ngói in dấu vải từ TK
2
Dấu tích kiến trúc gạch, ngói, đầu ngói ống: Từ sau thế kỷ
3
Dấu tích đền tháp gạch và điêu khắc đá: Từ thế kỷ 7 về
sau
Như vậy có thể nhận thấy, những nhóm di tích Chămpa giai đoạn Lâm Ấp và Chămpa
khu vực Hội An có mối liên quan mật thiết với nhóm di tích cùng thời ở vùng Duy
Xuyên, đặc biệt là Trà Kiệu và tạo thành một khu vực văn hoá – kinh tế - chính
trị có quy mô lớn và quan trọng ở hạ lưu sông Thu Bồn trong những thế kỷ đầu
Công nguyên. Sự có mặt của những di tích này củng cố thêm vị trí quan trọng của
lưu vực sông Thu Bồn những thế kỷ trước và cận kề Công nguyên và giúp khẳng
định chắc chắn hơn Trà Kiệu là trung tâm hành chính-chính trị của Chămpa thời kỳ
Lâm Ấp và muộn
hơn.
Cổ
Luỹ - Phú Thọ và những dấu vết văn hoá thế kỷ 1-5 Công nguyên ở lưu vực sông Trà
Khúc (Quảng Ngãi)
Khu
vực núi Phú Thọ- Cổ Lũy đã được H. Parmentier khảo tả sơ bộ vào đầu thế kỷ 20,
phía trước núi Bàn Cờ đã tìm thấy một lanh tô và một bò Nandin, trên lanh tô này
có hình tượng Visnu giống như trên lanh tô tìm thấy ở tháp E1, Mỹ Sơn và ông
cũng đã khảo sát phế tích thành Cổ Lũy mà theo ông là tiền đồn của thành
Châu Sa
(Parmentier 1909:
234-235).
Những kết quả nghiên cứu
những năm 1998 và 2004 (Lâm
Thị Mỹ Dung cộng sự 2009: 45-62) cho thấy đây cũng là phức
hợp di tích cư trú thành đền tháp lớn. Cư trú được phân
thành hai thời kỳ, thời kỳ sớm - tầng văn hoá dưới II, dày khoảng 0.70cm, gồm
các lớp đào từ 9-14 và không có vết tích kiến trúc gạch,
ngói, có một số vết tích liên quan đến sinh hoạt của người xưa như bếp
và hố cột, niên đại từ cuối thế kỷ 1 đến thế kỷ 3 CN. Thời kỳ muộn- tầng văn hoá
trên I, dày khoảng 0.80m chứa vết tích của hai thời kỳ kiến
trúc sớm và muộn, niên đại từ thế kỷ 3 đến thế kỷ
7.
Từ
kết quả khai quật có thể dựng lại quá trình hình thành văn hoá vật chất của cư
dân cổ. Trên nền sinh thổ loại đất lẫn đá Granit phong hóa (mặt bằng cách bề mặt
giông đất hiện tại gần 2 m- có lẽ là thềm bậc cao của sông Trà Khúc- di tích nằm
ở khu vực ngã ba sông Trà Khúc và Phú Thọ, ngay cửa sông Trà đổ ra biển- Cửa
Đại), lớp cư dân giai đoạn sớm đã tụ cư sinh sống ở đây từ khoảng cuối thế kỷ 1
đầu thế kỷ 2 đến thế kỷ 3 Công nguyên. Trong đồ gốm mà họ sử dụng hàng ngaỳ có
lưu giữ một số truyền thống của dòng gốm văn hóa Sa Huỳnh trước đó, một số đồ
trang sức- tức các hạt chuỗi bằng vàng, thủy tinh, và bằng chất liệu chưa xác
định tiếp tục được sản xuất và sử dụng. Loại hạt
chuỗi Indo-Pacific này đã tìm thấy trong
các địa điểm của văn hoá Sa Huỳnh và tiếp tục tồn tại những địa điểm muộn hơn,
như Nam Thổ Sơn, Tp. Đà Nẵng (TK 10-11), Bãi Làng, Cù Lao Chàm ( TK
9-10)...
Cư
dân sinh sống liên tục ở đây, vào khoảng thế kỷ 4, khi ảnh hưởng từ bên ngoài
gia tăng, đặc biệt là ảnh hưởng của các tôn giáo từ Ấn Độ, họ đã xây dựng những
công trình kiến trúc tâm linh đầu tiên, những công trình thời kỳ sớm có qui mô
lớn, qui chỉnh, có những gia hạ của móng? dày gần một mét được xử lý kỹ càng đào
vào sinh thổ/đất cái (điển hình là F 9). Khi xây dựng những công trình kiến trúc
sớm này, người ta đã phá huỷ lớp cư trú sớm hơn gây ra một số xáo trộn cục bộ
được nhận biết qua địa tầng và di vật. Lớp kiến trúc sớm có niên đại khoảng cuối
thế kỷ 3, việc xác định niên đại dựa trên so sánh di vật tìm thấy ở đây với
những di vật trong các địa điểm Trà Kiệu (Quảng Nam), Thành Hồ (Phú Yên). Lớp
kiến trúc này sau đó đã bị phá huỷ và được thay thế bằng những kiến trúc của
thời kỳ muộn hơn mà vết tích chỉ cách bề mặt hiện nay từ 15-20cm. Lớp này cũng
đã bị phá hủy nghiêm trọng và hầu như tại khu vực của di tích không thấy những
hiện vật có niên đại muộn hơn thế kỷ thứ 7, niên đại của lớp kiến trúc muộn
khoảng thế kỷ thứ 4, những đầu ngói ống trang trí mặt người gắn với kiến trúc
giai đoạn muộn cho thấy những tương đồng với những hiện vật tương tự ở Trà Kiệu,
Thành Hồ và ở Nam Kinh có niên đại Lục Triều sớm giúp định niên đại những vết
tích kiến trúc thời kỳ muộn
này.
Tại
đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré), Quảng Ngãi đã phát hiện những dấu tích vật chất của thời
kỳ Chămpa sớm tương đương với lớp dưới cùng và lớp dưới Trà
Kiệu (Phạm
Thị Ninh và cộng sự: 14-39), sự có mặt của loại bình
hình trứng ở đây cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa đất liền và hải đảo trong
giai đoạn sớm của văn hoá
Chămpa.
Cơ
tầng Chămpa sớm và Chămpa đảo Lý Sơn cùng với những phát hiện trong đất liền
minh chứng vai trò quan trọng của sông Trà Khúc, duyên hải và đảo ven bờ Quảng
Ngãi trong quá trình hình thành những trung tâm chính trị - kinh tế đầu Công
nguyên. Những phát hiện ở đảo Lý Sơn còn cho thấy sự phát triển văn hoá liền
mạch từ Sơ sử sang Lịch sử
sớm.
Cổ
Lũy cùng với Trà Kiệu (Quảng Nam), Thành Hồ (Phú Yên)... tạo thành một hệ thống
di tích thành lũy đa chức năng thuộc giai đoạn Chămpa sớm (hay giai đoạn hình
thành nước Lâm Ấp) và giai đoạn muộn hơn(giai đoạn Chămpa). Trong đó, thuộc giai
đoạn sớm (tầng văn hoá dưới) là khu vực cư trú, ở Trà Kiệu có thể có kiến trúc
gỗ lợp ngói văn thừng in dấu vải, ở Cổ Luỹ-Phú Thọ và Thành Hồ chưa phát hiện
thấy dấu tích liên quan đến kiến trúc gỗ, lợp ngói sớm ngói in dấu vải như Gò
Cấm hay Trà Kiệu, kiến trúc xây gạch và lợp ngói (loại ngói muộn, không có dấu
vải ở mặt bụng) và luỹ thành bắt đầu từ tầng văn hoá muộn (từ sau thế kỷ
3).
Những
phát hiện khảo cổ học ở những địa điểm này một mặt cho thấy có sự tương đồng về
văn hóa vật chất và đời sống tâm linh của cư dân ở các vùng khác nhau ngay từ
giai đoạn sớm, mặt khác lại thể hiện kết quả của các mối quan hệ với thế giới
bên ngoài cả từ phía Bắc và cả từ phía
Nam.
Kết
quả khai quật Cổ Luỹ, Trà Kiệu và kết quả khảo sát một số thành cổ của Champa
như tháp Bình Lâm (Bình Định), thành Hồ cho thấy những công trình kiến trúc tâm
linh, công cộng và thành của các nhóm cư dân vương quốc Chămpa thường được xây
dựng trên cơ tầng cư trú sớm hơn. Hiện tượng này cũng không phải hiếm gặp ở Đông
Nam Á , ví dụ như cuộc khai quật ở Angkor Borei cho thấy kiến trúc xây bằng gạch
được xây dựng trên nền cư trú sớm hơn (Miriam
Stark 1998:
189-195).
Toàn
bộ khu vực Cổ Luỹ - Phú Thọ là phức hợp di tích lớn về cả quy mô lẫn chức năng
và nằm ở địa thế cao (trên các giồng đất) ở vị trí ngã ba sông sát cửa biển và
là tổ hợp di tích đa chức năng kinh tế-chính trị- quân sự-tôn giáo, tại đây có
cả thành, đền tháp và những điểm cư trú lớn. Những đặc điểm di tích và di vật
trong các cuộc khai quật và những phát hiện điêu khắc kiến trúc cho thấy quy mô
của Cổ Luỹ - Phú Thọ không kém so với Trà Kiệu. Cổ Luỹ - Phú Thọ có nhiều khả
năng là trung tâm hành chính-chính trị của một chính thể nhà nước sớm dạng
mandala tương dồng và tương đương Lâm Ấp. Giữa hai vùng/trung tâm này có mối
liên tương chặt chẽ và có cùng quá trình chuyển biến kinh tế chính trị trong
những thế kỷ đầu Công
nguyên.
Tuy
nhiên ở thời điểm nghiên cứu hiện nay chúng ta chưa thể xác định được Cổ Luỹ -
Phú Thọ cùng với những di tích Chămpa sớm ở lưu vực sông Trà Khúc tạo thành một
trung tâm chính trị - kinh tế thuộc về nước /tiểu quốc nào ghi trong thư tịch cổ
(hay một nhà nước sớm dạng mandala nào đó giống
Lâm Ấp).
Lưu
vực sông Ba- Đà
Rằng
Phức
hợp di tích cư trú thành luỹ Chămpa, nay thuộc địa phận thôn Định Thọ, xã Hoà
Định Đông, huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên, cách thị xã Tuy Hoà 12km, nằm bên bờ Bắc
(tả ngạn) của sông Ba (Đà Rằng) và cách cửa sông Đà Rằng 15km về hướng
Đông.
Thành
Hồ đã được miêu tả khá kỹ trong cuốn “Thống kê khảo tả các di tích Chăm ở Trung
Kỳ” của H. Parmentier, theo khảo tả này, từ những năm đầu thế kỷ XX, khu thành
có hình vuông, mỗi cạnh độ 700m, bờ thành Nam đã bị mất từng phần do sông xói
lở, ba bờ thành còn lại được nhận biết qua những dải đất đắp cùng với các gò,
các cửa… Khoảng tam giác nằm giữa ngọn núi, toà thành và con sông được bảo vệ
bởi một bức tường thành xiên dọc chiều sườn đồi, mặt Bắc có sáu tháp canh, mặt
Đông có bảy kể cả cái ở góc. Giữa mặt Đông có một pháo đài phòng ngự, rộng
17,5m, dài từ 10m-13m, dọc theo luỹ pháo đài được xây bằng gạch lớn, tường dày
1,7m, mặt Nam tuy đã bị sụt lở, song phía Tây còn lại ụ đất, trong đó ụ đất ở
góc có thể cũng là tháp
canh.
Những
kết quả nghiên cứu từ năm 2000 đến nay cho thấy toà thành được xây dựng trên một
khu cư trú Chămpa sớm, dấu tích của khu cư trú này được tìm thấy ở nhiểu điểm
bên trong và bên ngoài luỹ thành như phía dưới Cột Cờ, trong khu vực nhà ông
Nguyễn Sáu (ôngSáu Ất), thôn Định Thọ, phía bờ thành Tây, Thổ Đạo hay Hưng Đạo,
bờ thành Đông, đoàn đã tìm thấy nhiều hiện vật gốm, song chưa phát hiện thấy
tầng văn hoá. Nhóm gốm có nhiều loại hình như bình, vòi Kendi, cà ràng… một số
bình vò có thân trang trí văn in ô vuông, sóng nước, hồi văn, xương cá… những
hiện vật gốm này khá giống các loại hình gốm Chămpa ở tầng văn hoá trên của di
chỉ Trà Kiệu, Cẩm Phô và một số di tích Chămpa khác ở Quảng Nam, Quảng
Ngãi…
Bên
trong thành có nhiều công trình kiến trúc dân dụng và tâm linh chủ yếu được xây
bằng gạch, lợp ngói... dựa vào loại hình, chất liệu, trang trí của vật liệu xây
dựng, chi tiết trang trí kiến trúc và những đồ đất nung, kim loại... kèm theo,
những người nghiên cứu xác định toà thành được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 4,
thứ 5 CN và được sử dụng trong một thời gian dài sau đó dựa vào niên đại của
kiến trúc và điêu khắc tìm thấy ở đây.
Kết
quả của những nghiên cứu và khai quật cho thấy, thành Hồ được xây dựng sớm trong
lịch sử Chămpa, có quy mô xây dựng lớn, thành là một công trình kiến trúc hoàn
thiện, một trung tâm lớn của cư dân Champa trong thời kỳ đầu lịch sử và có thể
là trung tâm chính trị, kinh tế của một vùng-tiểu quốc, trung tâm này được xây
dựng và phát triển rực rỡ không thua kém bất cứ một trung tâm nào của cư dân
vương quốc Chămpa, tương đương với kinh đô Trà Kiệu (Quảng Nam) (Lê
Đình Phụng và cộng sự 2004:
35).
Dấu
tích Chămpa sớm ở thượng nguồn sông Ba: Tại địa điểm Bang Khleng ở vùng Ayunpa,
tỉnh Gialai, những người khai quật đã phát hiện đầu ngói trang trí mặt hề thế kỷ
3,4 ở một đền tháp nhỏ xây bằng gạchnhững
đầu ngói này giống những đầu ngói tìm thấy ở lớp văn hoá trên của Trà Kiệu, Cổ
Luỹ - Phú Thọ, Thành
Hồ...
Kết
quả khảo sát thực địa và nghiên cứu so sánh loại hình di vật của thành Hồ với
Trà Kiệu, Gò Cấm, Cổ Luỹ-Phú Thọ... cho thấy niên đại thế kỷ 5-7 Công nguyên mà
các nhà nghiên cứu đưa ra là niên đại của bản thân toà thành và những công trình
kiến trúc của thành, thành Hồ được xây dựng trên khu vực cư trú sớm hơn, có thể
khu cư trú này tương đương với lớp dưới của Trà Kiệu và Cổ Luỹ-Phú Thọ, có niên
đại từ khoảng thế kỷ 2 CN. Sự có mặt của đầu ngói ống hình mặt hề có niên đại
Lục Triều sớm (thế kỷ 3) tại Thành Hồ giống như những đầu ngói ống tương tự ở
Trà Kiệu và Cổ Luỹ-Phú Thọ giúp chúng tôi đưa ra nhận định chung về niên đại
xuất hiện của những di tích kiến trúc sử dụng đầu ngói ống loại này trong văn
hoá Chămpa là từ thế kỷ thứ 3
CN.
Sự
đồng nhất trong tiêu chuẩn loại hình và kỹ thuật chế tác của những vật liệu xây
dựng, kiến trúc như đầu ngói ống, gạch, ngói giai đoạn muộn (loại làm bằng dải
cuộn, khuôn in, mặt bụng không có dấu vải, lưng có dấu văn chải, văn thừng, in ô
vuông), gốm hình con tiện, chốt/đinh gốm của thời kỳ này (từ sau thế kỷ 3) cho
thấy có sự thống nhất tương đối giữa các trung tâm kinh tế - chính trị của của
các chính thể nhà nước sớm và nhà nước phát triển hình thành và phát triển từ
sau thế kỷ
2.
3. Một
số thay đổi trong không gian xã hội từ Sa Huỳnh tới Chămpa sớm qua nghiên cứu
phân bố và tính chất của các địa điểm khảo cổ
học
Những
lãnh địa Sa
Huỳnh
Trên
dải đất miền Trung ngay từ thời tiền, sơ sử đã tồn tại cơ tầng văn hoá vật chất
tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh. Cơ tầng văn hoá này như đã trình bày ở trên dù có
nhiều nét chung nhưng cũng thể hiện tính địa phương vùng miền rõ nét. Những đặc
thù sinh thái và địa hình miền Trung có vai trò quyết định đối với sự phân đoạn
và phân vùng văn hoá này. Những lãnh địa thời Sa Huỳnh về cơ bản ứng với những
loại hình văn hoá địa phương Bắc Sa Huỳnh, Nam Sa Huỳnh và có thể có cả vùng hay
loại hình Trung Sa Huỳnh (Bình Định và một phần Phú Yên hiện nay). Ngoài ra có
thể còn có một số lãnh địa nhỏ hơn ở những vùng núi trong không gian văn hoá Sa
Huỳnh, nghĩa là có những lãnh địa lớn nhỏ khác nhau phân bố theo chiều bắc nam
và tây
đông.
So
sánh các nền văn hoá thời Sơ sử trên lãnh thổ Việt Nam (Đông Sơn, Sa Huỳnh và
Đồng Nai), văn hoá Sa Huỳnh mang tính đa dạng lớn hơn so với văn hoá Đông Sơn và
sự phát triển của văn hoá Sa Huỳnh vẫn còn ở dạng đặc thù. Kết hợp tư
liệu khảo cổ về sự chưa thống nhất cao của văn hoá Sa Huỳnh với xem xét thông
tin từ những thư tịch cổ Trung Hoa về sự tồn tại của các nước như Hồ Tôn, Chi Kỳ
Quốc, Bà Lị, Thù Nại, Xích Thổ trong khu vực phân bố của văn hoá Sa Huỳnh và
Đồng Nai, Diệp Đình
Hoa đi tới kết luận rằng đây là những tiểu “vương
quốc” độc lập, hay là những khu vực độc lập của những nhóm tộc người của một
xã
hội phát triển nhưng
chưa cần đến nhà nước, những nhóm xã
hội chưa
cần đến nhà nước này vẫn còn
ở vị trí độc lập, truyền thống xã hội của mình vẫn được bảo lưu một cách đậm nét
dưới sự đa dạng (cát cứ cố hữu) (Diệp
Đình Hoa 2004:
830).
Những
chứng cứ khảo cổ thời sơ
sử cho thấy về sự xuất hiện sớm và lớn mạnh của những lãnh
địa ở một số vùng miền Trung Việt Nam, những khám phá khảo cổ học bắt đầu đánh
dấu sự tiến hoá của những lãnh địa qua biểu đồ lớn mạnh của phân tầng chính trị
trong những mẫu hình cư
trú vùng đã
được nghiên cứu và những khai quật ở những trung tâm lãnh địa lớn dọc theo những
hệ thống sông quan trọng. Nghiên cứu khảo cổ học ở miền Trung đã bắt đầu chú
trọng đến quá trình phân hoá xã hội mở rộng phản ánh trong việc phân bố của
những hàng hoá biểu thị địa vị, thân thế trong những khu mộ táng và
nơi
cư trú, sự lớn mạnh của những hệ thống chuyên nghiệp phát triển của việc chuyên
hoá sản xuất gốm và kim loại, những thay đổi trong mức độ to lớn, tiếp cận địa
lý,
và tính phức hợp của mạng lưới
buôn bán sông, biển và sự mở rộng hội lễ và những dạng khác của cạnh tranh hàng
hoá biểu thị địa vị, thân thế. Những nghiên cứu khảo cổ học loại này bắt đầu đề
cập tới hàng loạt những yếu tố dân số, sinh thái, xã hội, kinh tế, tư tưởng bản
địa đóng góp vào sự hình thành và quá trình tiến hoá của những xã hội phức hợp
tiền nhà nước ở miền Trung Việt Nam cũng như ở Việt
Nam.
Dù
vậy, quá trình tiến hoá chính trị- xã hội ở miền Trung Việt Nam không phải là
hiện tượng đơn lẻ, những lãnh địa Sa Huỳnh liên kết với nhau và với bên ngoài
qua trao đổi văn hoá, chính trị và kinh tế bằng đường biển và đường sông, sự đa
dạng về sinh thái ở đây có thể đã ảnh hưởng đến sự phát triển sớm của hệ thống
kinh tế chuyên hoá và trao đổi tài nguyên giữa vùng thấp và vùng cao, giữa những
cư dân ven bờ với cư dân sâu trong nội địa và giữa cư dân trong đất liền với cư
dân ở các đảo riêng biệt về sinh thái. Theo tài liệu lịch sử và sinh thái học,
chiến lược cộng sinh giữa sinh thái và kinh tế kiểu này thúc đẩy mối kết nối
phức hợp văn hoá từ những xã hội hái lượm nhiệt đới quy mô nhỏ đến những cư dân
của các cộng đồng tập trung với mật độ đậm đặc hơn, của những người làm nông
nghiệp nương rẫy ở vùng cao với những người làm nông nghiệp thâm canh ở vùng
thấp và tích hợp cư dân buôn bán vùng ven biển vào những chính thể ở mức lãnh
địa với tính phức hợp đa dạng ở phần lớn các lưu vực sông
lớn.
Từ
lãnh địa Sa Huỳnh tới những mandala/tiểu quốc Chămpa sớm và
Chămpa
Đối
lập với cách nhìn truyền thống lấy mô hình nhà nước tập quyền Trung Hoa làm
chuẩn đánh giá bản chất các nhà nước ở Đông Nam Á, hiện nay số đông nhà nghiên
cứu đều phê phán sử liệu Trung Hoa viết về bản chất các nhà nước sớm như Lâm Ấp,
Phù Nam... ở Đông Nam Á. Theo họ, khi viết về những nhà nước sớm này, các sử gia
Trung Hoa đã dùng quan điểm và tiêu chuẩn mô hình nhà nước theo kiểu Trung Hoa
để mô tả và do vậy đã làm người đời sau hiểu sai thực chất của vấn đề. Những tài
liệu nghiên cứu cả khảo cổ học, cả dân tộc học so sánh đều chứng minh những nhà
nước sớm ở Đông Nam Á có một thể chế chính trị khá lỏng lẻo, không tập trung
quyền lực và đa dạng về tộc người-ngôn ngữ-văn hoá, yếu tố chính không phải là
lãnh thổ mà chính là quản lý và duy trì nhân công.
Quá
trình hình thành và lớn mạnh của những chính thể nhà nước ở Đông Nam Á cũng thể
hiện tính không đồng nhất và mức độ đa dạng cao cũng như đặc thù mang tính địa
phương. Những điều này có nguồn gốc từ vị thế địa lý, tính chất tiếp xúc và giao
lưu văn hoá, tác động của bên ngoài và sự biến động của thành phần dân cư. Từ
góc độ này, khi nghiên cứu Lâm Ấp (và cả một số nhà nước sớm hình thành đồng
thời với Lâm Ấp ở một số lưu vực sông lớn của miền Trung Việt Nam) trong khoảng
thời gian 2 đến 3 thế kỷ đầu Công nguyên- nằm trong luồng tiếp xúc cưỡng bức
mạnh mẽ với văn hoá Hán- chúng ta cần chú ý ít nhất hai điểm
sau:
i. Lâm
Ấp được thành lập từ sự kiện Khu Liên khởi nghĩa chống lại chính quyền nhà Hán ở
Nhật Nam. Điều này cho thấy rất rõ ràng rằng trước thời điểm hình thành Lâm Ấp,
vùng đất thuộc quận Nhật Nam đã có những hình thức tổ chức chính quyền. Hình
thức này mặc dù dựa trên cơ sở quyền lực thủ lĩnh địa phương nhưng ở một mức độ
nhất định đã có những cơ sở tổ chức chính quyền theo kiểu Trung Hoa, có thể chỉ
là vùng đất trực thuộc lỏng lẻo nhưng vẫn mang tính trực thuộc. Xã hội thời kỳ
này (sau Sa Huỳnh - Tiền Lâm Ấp) dù sao cũng là xã hội phân tầng cao hơn, phức
hợp hơn so với Sa Huỳnh gồm nhiều mức đưa ra quyết định nếu xét từ tiêu chí cấp
đưa ra quyết định của một xã hội chuyển hoá sang dạng nhà
nước.
ii. Chính
quyền của Khu Liên (hay sự khởi thành của một dạng chính thể nhà nước của những
cư dân bản địa chống lại sự cai trị của chính quyền Hán) được lập nên từ kết quả
lật đổ chính quyền cũ song chính quyền này không thể bắt đầu từ một khởi đầu
hoàn toàn mới và hoàn toàn khác (so với cái đã có từ trước) mà chắc chắn đã kế
thừa nhiều cách thức tổ chức hành chính và cai trị của chính quyền Nhật Nam.
Những tư liệu khảo cổ về thành luỹ, nhà cửa, đồ gốm... giai đoạn thế kỷ 1-4,5 CN
tìm thấy ở miền Trung được trình bày ở phần trên và những ghi chép trong thư
tịch cổ cho thấy sự hiện tồn và vai trò đáng kể của những yếu tố văn hoá Trung
Hoa trong các xã hội lúc bấy giờ.
iii. Dù
được gọi dưới bất cứ tên nào thì về cơ bản những nhà nước sớm từ cận kề Công
nguyên như Lâm Ấp và những nhà nước khác đều toạ lạc trên đúng những lãnh địa Sa
Huỳnh ở các lưu vực sông, kế thừa cả về ứng xử sinh thái và cả về ứng xử văn hoá
của những lãnh địa đó. Mandala Chămpa giai đoạn
Lâm Ấp và Chămpa là sự nâng cấp, mở rộng và phát huy lãnh địa Sa
Huỳnh.
Như
vậy, từ Sa Huỳnh tới Lâm Ấp (và những chính thể tương đương Lâm Ấp) đến Chămpa
một mặt phản ánh tính chất của sự chuyển biến văn hoá nội tại, một sự chuyển đổi
từ truyền thống bản địa ở mức lãnh địa sang việc chọn lựa mô hình chính trị mới,
mặt khác phản ánh sự gia nhập của những yếu tố văn hoá mới từ bên
ngoài. Những
yếu tố này bao gồm chủ
yếu
i. Sự
chuyển dịch của các nhóm cư dân cả người Nam Đảo, cả người Đông Sơn Nam tiến- ở
đây có sự tham góp của văn hoá Việt gồm Việt Đông Sơn và Việt sau Đông Sơn,
nhưng điều này không hàm ý Lâm Ấp tách ra từ Âu Lạc như ý kiến của một số học
giả (Diệp
Đình Hoa 2003: 14,115,
641, 661;
Nguyễn Duy Hinh 2007: 419). Lâm
Ấp và Âu Lạc là hai thực thể độc lập có nền tảng văn hoá vật chất phát triển
ngang nhau nhưng khác nhau, cả hai đều có quan hệ tiếp xúc với nhau và dù luồng
Âu Lạc vào Lâm Ấp là luồng chính nhưng không phải vì thế mà chúng có cùng nguồn
gốc;
ii. Sự
hiện diện có thực của chính quyền Hán ở vùng đất Nhật Nam (cho đến Phú Yên)
trong vài ba thế kỷ đầu Công nguyên và sự mở rộng của mạng lưới trao đổi buôn
bán quốc tế trên biển
Đông.
iii. Sự
tiếp nhận những quan điểm về tổ chức nhà nước Hindu giáo từ sau thế kỷ 4. Hindu
giáo được đưa vào Chămpa cuối TK 4 và vua Bhadravarman/ Fan Hu-ta/ Phạm Hồ Đạt
đã dựng đền
thờ Hindu ở Mỹ
Sơn.
Từ
Lâm Ấp và những chính thể tương đương Lâm Ấp đến Chămpa là một quá trình diễn
biến văn hoá liên tục và dần dần. Không phải là sự thay thế theo kiểu cơ học mà
là sự chuyển biến từ lượng thành chất bắt nguồn từ luồng văn hoá bản địa dưới
tác động của nhiều yếu tố ngoại sinh và đặc biệt là vai trò quan trọng của sự
tiếp xúc, trao đổi và ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ và Đông Nam Á.
Nhận
xét
Miền
Trung Việt Nam do vị thế mở của mình và cũng do những nguyên nhân lịch sử là
nơi
cập bến của nhiều lớp cư dân khác nhau, đặc điểm này đã
tạo ra các lớp văn hoá chồng xếp theo kiểu cơ học (nếu chỉ xét trên bề mặt),
song thẩm thấu lẫn nhau (nếu xét ở tầng sâu). Cây phổ hệ văn hoá Miền Trung (ý
của GS. Trần Quốc Vượng), có trục văn hoá chính song cũng có nhiều nhánh, cành,
nguồn văn hoá phụ, bên
cạnh những mối
quan hệ nội
sinh, lịch đại cần
lưu ý
vai trò của tiếp xúc văn hoá, chuyển dịch dân cư với bên ngoài qua đường biển và
đất liền. Nghiên cứu so sánh mối quan hệ Sa Huỳnh Chămpa thời Sơ
sử và mối quan hệ văn hoá Chămpa- Đại Việt
thời Lịch sử chắc chắn sẽ thấy không ít tương đồng, yếu
tố cũ biến mất hay thẩm thấu vào yếu tố mới, cần một thời gian bao lâu và những
điều kiện gì để cũ với mới hợp thành những yếu tố khác và bên cạnh quá trình
ngoại sinh hoá những yếu tố nội sinh chắc chắn là quá trình địa phương hoá những
yếu tố ngoại sinh và vấn đề chìa khoá ở đây là tỉ lệ phần trăm giữa hai quá
trình đó trong việc hình thành và phát triển của văn hoá kế
tiếp
Kiểu
thức phân bố và tính chất của các địa điểm khảo cổ học cho thấy quá trình hình
thành và mở rộng không gian sinh tồn đa dạng phù hợp với điều kiện tự nhiên sinh
thái cũng như
cách thức hội nhập phù hợp với bối cảnh chính trị-kinh tế khu vực của các cộng
đồng cư dân văn hoá Sa Huỳnh đã
được kế thừa và phát huy ở những giai đoạn sau. Cùng với sự chuyển dịch của dân
cư
từ bên ngoài vào, áp lực chính trị từ Trung Hoa, tiếp xúc với Nam Á và sự phát
triển nội tại đã
dẫn đến quá trình kết tinh và thể chế hoá kinh tế-chính trị từ sau Công nguyên
dẫn đến sự hình thành của những nhà nước
sớm, từ góc độ môi trường địa lý
- sinh thái, những nhà nước
sớm Chămpa
đã
cho thấy sự tái chọn lựa không gian chính trị xã hội của những lãnh địa thời Sa
Huỳnh.
Quá
trình chuyển biến từ các văn hóa sơ sử sang những nhà nước sớm, quá trình hội
nhập và kết tinh những tiểu quốc vào trong một dạng chính thể liên kết chặt chẽ
hơn và thống nhất hơn như vương quốc Chămpa (Nagara Champa) ở Trung và Nam Trung
Bộ, vương quốc Phù Nam ở Hạ lưu sông Mê công có không ít quan điểm và diễn giải
khác nhau. Tuy nhiên, giữa các quan điểm này nổi bật lên sự
đồng thuận trong đánh giá vai trò đáng kể của điều kiện môi trường sinh thái,
kinh tế (như yếu tố biển, vị thế trung điểm của miền Trung, miền Nam Việt Nam
trên tuyến đường giao thương biến quốc tế và những luồng di chuyển của dân cư,
đặc biệt là của cư dân ngữ hệ Nam Đảo) và điều kiện chính trị (mối quan hệ với
Trung Quốc, với miền Bắc Việt Nam, với Đông Nam Á hải đảo và với Nam
Á)... tác động tới quá trình hình thành nhà nước và lựa
chọn mô hình chính trị của các cộng đồng dân
cư.
Kết
hợp nghiên cứu so sánh tư liệu dân tộc học, thư tịch và khảo cổ không chỉ riêng
của miền Trung Việt Nam mà của cả Đông Nam Á chúng tôi cho rằng quá trình hình
thành nhà nước sớm ở miền Trung Việt Nam có một số đặc
điểm. Đó
là:
i. Chịu
tác động của sự phát triển chung của khu vực, sự dịch chuyển của các dòng dân
cư, văn hoá và đặc biệt là sự truyền bá của những học thuyết chính trị, những
tôn giáo mới từ đầu Công
nguyên;
ii. Sự
hiện diện (trực tiếp và gián tiếp) của chính quyền nhà Hán ở vùng đất quận Nhật
Nam từ cuối thế kỷ I TCN và đặc biệt là thời kỳ 1,2
CN.
Những
nhà nước sớm nhất ở miền Trung Việt Nam dù trên cơ sở kế thừa cơ cấu lãnh địa Sa
Huỳnh bản địa nhưng đã được hình thành do kết quả tương tác với những lực lượng
chính trị từ bên ngoài, trước hết là từ Đông Hán và sau đó với Ấn Độ, Đông Nam
Á...
Nhà nước Lâm Ấp (và có lẽ cả những chính thể khác tương đương, tương đồng Lâm
Ấp) hiện diện trên dải đất miền Trung được hình thành từ một chuỗi các tiếp biến
chính trị (đối đầu, phản kháng, học hỏi, thâu nhận) bản địa - ngoại sinh. Ghi
chép trong thư tịch cổ, tài liệu khảo cổ từ những địa điểm lịch sử sớm ở các
vùng lưu vực sông Hương, Thu Bồn, Trà Khúc, Ba, Đà Rằng đều xác nhận sự hiện
diện của những trung tâm hành chính - chính trị - kinh tế được cấu trúc ban đầu
phỏng theo mô hình Trung Hoa, mỗi trung tâm này ứng với một tiểu quốc
dạng mandala, từ sau khi hình thành những tiểu
quốc mandalanày dần hướng về quỹ đạo văn hoá Ấn Độ và Đông
Nam Á.
Aelred,
Southworth William. 2001. The origins of Campā in central
Vietnam A preliminary review. Ph.D.Thesis in Archaeology, the School of
Oriental & African Studies (SOAS),University of London.
Anne-Valérie,
Schweyer. 2011. Ancient Vietnam – History, Art and
Archaeology. Bangkok: River Books.
Diệp
Đình Hoa. 2003. Những con đường khám phá. Hà Nội: Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội.
Diệp
Đình Hoa. 2004. "Trống Đông Sơn ở Bình Định và quá trình hình thành triết lý về
nhà nước thuộc thiên niên kỷ I ở Việt Nam." Trang. 820-846, trong
sách Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam, tập. I. Hà Nội: Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội.
Lam
My Dzung. 2009. "Sa Huynh Interactions in the Thu Bon
Valley." Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory
Association 29: 68-75.
Lâm
Thị Mỹ Dung. 2008. "Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang sơ kỳ lịch sử
ở miền Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam." Đề tài NCKH cấp
ĐHQG, mã số QGTĐ 06.07, Hà Nội.
Lâm
Thị Mỹ Dung và Nguyễn Anh Thư. 2009. "Cổ Luỹ - Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ
học Chămpa nửa đầu TNK I SCN." Tạp chí Khảo cổ học157:
45-62.
Lâm
Thị Mỹ Dung (chủ trì đề tài). 2011. Đồ gốm Champa 10 thế kỷ đầu
Công nguyên từ tiếp cận khảo cổ học xã hội và khảo cổ học kỹ thuật. Hà Nội:
Trung tâm hỗ trợ Nghiên cứu châu Á, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Lâm
Thị Mỹ Dung và cộng sự. 2014. "Kết quả khảo sát Thành Lồi tháng 6.2014”. Bài
trình bày tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học năm 2014, Hà Nội.
Laura,
Junker Lee 1999. Raiding, Trading and Feasting. The Political
Economy of Philippine Chiefdoms. Honolulu: University of Hawai’i
Press.
Lê
Đình Phụng và Phạm Văn Triệu. 2004. "Báo cáo khai quật khảo cổ học di tích Thành
Hồ, Phú Hoà, Phú Yên." Hồ sơ 504 Thư viện viện Khảo cổ học, Hà
Nội.
Mariko,
Yamagata, Nguyễn Kim Dung, Đặng Ngọc Kính, and Nguyễn Hoàng Bách Linh. 2014.
"Khai quật Thành Đông Trà Kiệu năm 2013." Trong Những phát hiện mới về khảo cổ
học (NPHMVKCH) năm
2013, Hà Nội: 666-667.
Miriam,
Stark T. 1998. "The Transition to History in the Mekong Delta: A View from
Cambodia." International Journal of Historical
Archaeology số 2,
tập 3: 175-203.
Nguyễn
Duy Hinh. 2007. "Người Chăm Xưa và Nay." Trang. 311-439 trong
sách Ảnh hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh
tế-xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, chủ biên Ngô Thị
Chính và Tạ Long. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
Nguyễn
Kim Dung. 2007. "Văn hoá Sa Huỳnh với mạng thương mại thời cổ.
." Bài tham gia hội thảo đề tài cấp Bộ “Tiếp xúc và giao lưu của
văn hoá Sa Huỳnh”. Viện Khảo cổ học, Hà Nội.
Nguyễn
Kim Dung, Yamagata Mariko, and Đặng Ngọc kính. 2014. "Về những nền sỏi kiến trúc
khai quật năm 2013 tại Thành Đông, Trà Kiệu (Duy Xuyên, Quảng
Nam)." NPHMVKCH năm
2014, Hà Nội:667-668.
Nguyễn
Thị Hậu. 2007. "Văn hoá mộ chum thời đại kim khí Việt Nam." Bài
tham dự HTQT KCH VN-Lào-Cămpuchia. Hướng tới một sự hợp tác bền vững, Hà
Nội.
Nguyễn
Văn Kim. 2008. "Dấu ấn cổ sơ của các xã hội Đông Nam Á." Bài
tham gia Hội thảo khoa học của Đề tài QGTĐ, mã số
QGTDD. 06.07,
Hà Nội. In
trong tạp chí Nghiên cứu Lịch sử 6
(386) :25-39.
Parmentier
H., Inventaire Describtif des Monuments Cams de l’ Annam, tr.234-235, Volume I.
Paris, 1909. 1909. "Inventaire Describtif des Monuments Cams de l’
Annam." Paris I:234-235.
Phạm
Thị Ninh and Đoàn Ngọc Khôi. 1999 "Xóm Ốc, di tích văn hoá Sa Huỳnh trên đảo Lý
Sơn (Quảng Ngãi)." Tạp
chí Khảo cổ học 2.
Trần
Kỳ Phương. 2013. "Crossing Boundaries - Learning from the Past to Build the
Future: An Archaeological Collaboration between Cambodia, Laos and
Vietnam." The Regional Center for Social Science and Sustainable
Development (RCSD) Faculty of Social Sciences, Chiang Mai
University.
Trần
Kỳ Phương, Lâm Thị Mỹ Dung, Nguyễn Hồng Kiên, and Phan Đình Phùng. 2003. "Về hai
hiện vật thuộc nghệ thuật Champa tại Bảo tàng Phú Yên." NPHMVKCH
năm 2002, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội:
846-849.
Trần
Quốc Vượng. 1988. "Miền Trung Việt Nam và văn hóa Chăm pa - Một cái nhìn địa văn
hóa." Trang. 308-340 trong sách Việt Nam cái nhìn địa - văn
hóa. Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật.
Trần
Quốc Vượng and Hayden Brian. 1966. "A Preliminary Report and Analysis of
Cultural Ecological Investigations Among the Ta Oi of Quang Tri Province,
Vietnam, in 1966." http://www.sfu.ca/archaeology-old/dept/fac_bio/hayden/reports/vietnam.pdf.
Truy cập tháng 8.2015
Nguồn
minh hoạ trong
bài
Bản
đồ 1: Bộ môn Khảo cổ
học
Bản
đồ 2: Nguyễn Hồng Kiên (Viện Khảo cổ
học)
Sơ
đồ 1: Nguyễn Hữu Mạnh (Bộ môn Khảo cổ học) và Nguyễn Văn Quảng (Đại học Khoa học
Huế)
Ở
cực nam là những nhóm di tích mộ chum, vò vùng đất đỏ Xuân Lộc, Đồng Nai và vùng
ven biển Bà Rịa, Vũng Tàu (Giồng Lớn), vùng Cần Giờ, TP.HCM (Giồng Cá Vồ). Về
ranh giới phía nam của văn hoá Sa Huỳnh, đặc biệt là về vị trí, tính chất của
những cụm mộ chum ở Đông Nam Bộ và khu vực Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh hiện còn
nhiều ý kiến khác nhau, theo Đặng Văn Thắng, Nguyễn Thị Hậu khu cư trú và mộ
chum ở Cần Giờ nên được phân lập thành một loại hình văn hoá riêng, văn hoá
Giồng Phệt (Nguyễn
Thị Hậu 2007), một số người khác lại cho rằng mộ chum
ở miền Nam Việt Nam (lưu vực sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ) là một dạng địa
phương của văn hoá Sa Huỳnh hay là kết quả sự lan toả và hội nhập giữa truyền
thống văn hoá Đồng Nai và văn hoá Sa Huỳnh.
Tại xóm Gạch hay xóm Thành Lòi/Lồi, phía bờ
thành Nam, trong khi đào đất cư dân tìm thấy một số điêu khắc đá. Một tượng Phật
đã được thu giữ về Bảo tàng (nay đã bị mất). Trong đợt khảo sát năm 2000 đã tìm
thấy và thu giữ một đầu tượng bị vỡ dọc thành hai mảnh, mũi và miệng đã bị vỡ.
Kích thước hiện trạng cao 37,5cm, rộng 24,5cm, dày 24cm, bằng đá phtanite hơi
vàng nhạt Qua xác định đây là đầu tượng của một vị Nam thần, đeo miện, trang trí
ba đoá hoa hình tròn ba lớp , trán tượng phẳng, hơi rộng, lông mày cong dài, hơi
dày …. Do bị sứt vỡ quá nặng, nên khó có thể nhận định đây là đầu của tượng tròn
hay một bức phù điêu, tuy nhiên, bằng vào kích thước khá lớn của đầu tượng đã
cho phép suy đoán rằng, có nhiều khả năng, đây là đầu của một bức phù điêu bán
thân. Phù điêu này có nhiều nét tương đồng với phù điêu Nam thần An Mỹ, có cùng
niên đại, tức là trong khoảng đâù thế kỷ thứ 8 (Trần Kỳ Phương và nnk 2003:
846-848).
PGS.TS. Lâm
Thị Mỹ
Dung
Bảo
tàng Nhân học và Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn
Email: bebimkch@gmail.com