Tác giả: G.N. Machusin Nhà xuất bản
Mir, Maxcova, 1982
Người dịch : Phạm Thái Xuyên dịch
sang tiếng Việt có bổ sung và sửa chữa Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội, 1986
LUXI Ở
XAĐA
Sau khi đã kiếm đủ
tiền cho cuộc khảo sát ở miền Bắc Êtiôpi, Jôhansơn đến dự hội nghị năm 1974 về
hồ Ruđônfơ để thuyết phục các chuyên gia cùng đi với mình đến Sađa. Ông kể lại
trong một cuốn sách lý thú của mình [1] : "- Tôi nói về Sađa với tất cả lòng
nhiệt tình mà tôi có thể có ở hội nghị về Ruđônfơ. Có mặt một tá các nhà khoa
học có danh tiếng lớn về pliôxen và pleixtôxen. Tôi hy vọng rằng một số nhà khoa
học ấy sẽ hợp tác với tôi. Tuy nhiên cũng không dễ dàng để có được sự thỏa thuận
của họ. Họ lịch sự nghe những mô tả đẹp đẽ của tôi về các trầm tích được cấu tạo
từ những hóa thạch có số lượng và chất lượng siêu việt, và những tiên đoán của
tôi là có thể tìm thấy những tổ tiên nào ở đó. Họ nghe tôi, bởi vì tôi là người
của Hauen.
Tôi đã làm việc với
Hauen ba mùa ngoài thực địa và tiếp thu được những chỉ dẫn quý báu của ông.
Nhưng bản thân tôi chưa bao giờ phụ trách một đoàn khảo sát. Cái gì bảo đảm rằng
tôi có thể làm được việc đó? Trong nhóm của tôi sẽ có các cộng tác viên với "tầm
cỡ" nào? Những quan sát của tôi về địa tầng đã được tin cậy như thế nào ? Phải
chăng tôi có thể tin được rằng Êtiôpi sẽ cho phép đi tìm những di chỉ trong đất
nước của họ? Sự xác định niên đại đối với những di chỉ của tôi chính xác đến
chừng mức nào? Nhưng nói chung, tôi có thể tìm lại được những di chỉ ấy một lần
nữa không?
Thế còn các nhân
viên phòng thí nghiệm? Có những người ấy không và họ có làm đúng hạn tất cả
những bản vẽ và những phân tích cần thiết không? Hay là lại buộc phải thuyết
phục họ hàng chục năm ròng để họ làm xong tất cả mọi việc cần thiết, khi mà bản
thân một người nào đó trong số nhân viên ở Viện bảo tàng chưa nhớ ra là dù sao
cũng cần phải làm một cái gì đó cho đoàn khảo sát?
Tất cả những điều
đó là những vấn đề quan trọng. Chúng có thể làm hỏng mọi việc. Điều bất hạnh to
lớn đối với nhà khảo cổ và nhà nhân chủng đang bận bịu là rơi vào một cuộc khảo
sát như vậy, hoặc rơi vào một tình trạng phải hứng chịu thất bại do không chú ý
đầy đủ, do thiếu vật liệu, do những người tổ chức thiếu kiên quyết. Và tồi tệ
hơn cả là những vật tìm được thiếu độ tin cậy.
Tôi cần sự giúp đỡ
hết sức của một nửa tá chuyên gia của châu Phi. Nhưng để có được sự giúp đỡ ấy
chỉ trong trường hợp tôi giành được sự tín nhiệm của họ ở hội nghị về Ruđônfơ
(Tucan) năm 1974. Khi thuyết phục các nhà khoa học, tôi có hứa dành cho họ một
đống xương động vật hóa thạch, và họ có thể tin được về niên đại. Tôi giải thích
các trầm tích ở Sađa có thể so sánh được với những tầng dưới ở Ômô, nhưng có
nhiều vật hóa thạch hơn và chúng có thể bổ sung cho sơ đồ ở Ômô. Tôi ép buộc
Alan Jentri ở viện bảo tàng Britan, - một chuyên gia về sơn dương (Antilope) khi
hứa dành cho Jentri vô khối sơn dương tuyệt vời. Tôi nói với Jôn Haris về hươu
cao cổ, với Bazin Kuc về lợn. Tôi đã đạt được một điều là các nhà khoa học đã
bắt đầu chú ý đến chắc là sẽ tới đó".
Đối với vật tìm
được lý thú nhất ở Sađa, Jôhansơn đã kể lại như thế này: "Buổi sáng ngày
30-11-1974 ấy, như lệ thường trong đoàn khảo sát, tôi tỉnh dậy vào lúc rạng
đông. Tôi đang ở Êtiôpi, trong lán trại trên bờ con sông Avas đục ngầu thuộc khu
vực được gọi là Sađa, cách Ađis Abêba khoảng 100 dặm về phía tây bắc. Tôi là
người lãnh đạo một nhóm các nhà khoa học đi tìm những vật hóa thạch. Tôi nằm lại
trong lều của mình mấy phút, chăm chú nhìn tấm vải bạt ở phía trên. Lúc đầu nó
có màu đen, sau đó nó nhanh chóng biến thành màu lục khi những tia sáng Mặt Trời
phóng qua đường viền của những ngọn đồi ở phía đông. Trời tương đối lạnh nhưng
không quá 28oC. Còn không khí thì không thể so sánh với cái gì được, mùi tinh
khiết ban mai của sa mạc phảng phất thêm chút mùi vị của thức ăn đang nấu. Một
số người trong những bộ lạc ở Afa, đang làm việc trong đoàn khảo sát, đem theo
cả gia đình nữa. Họ dựng lên ở đây những túp lều có dạng như những chiếc nhà
gạch, bằng những chiếc chiếu bện cỏ trên mảnh đất bỏ không cách trại chính hàng
trăm acđơ [2] . Những người phụ nữ Afa trở dậy trước lúc rạng đông. Họ chăm sóc
những con lạc đà, dê, và bình thản nói chuyện với nhau.
Đối với phần lớn
người Mỹ trong trại, đó là khoảng thời gian tốt nhất trong ngày. Những vách đá
và những hộc đá tảng, dồn chất ngổn ngang lên phong cảnh, đã trút bỏ trong suốt
một đêm toàn bộ cái nóng bức và bây giờ không còn cảm thấy chúng như những cục
than nóng bỏng khi bạn dẫm chân lên nữa.
Tôm Grây cùng ngồi
uống cà phê với tôi. Tôm Grây là nghiên cứu sinh. Anh đến Sađa để nghiên cứu
động vật và thực vật hóa thạch, tái dựng chính xác trong chừng mực có thể được,
những dạng và những mối quan hệ lẫn nhau khi chúng đã sống ở đây vào những thời
kỳ khác nhau trong quá khứ xa xăm với khí hậu của thời kỳ đó. Còn mục đích của
riêng tôi - lý do của cuộc khảo sát - những dạng người hóa thạch: xương những tổ
tiên đã bị diệt vong của con người và những họ hàng gần gũi của con người. Tôi
quan tâm đến những tài liệu về sự tiến hóa của con người. Nhưng tôi hiểu rằng
cần phải làm sáng tỏ thêm những con người mà chúng tôi có thể tìm thấy di cốt
của họ, bằng những công việc của các chuyên gia như Tôm
Grây.
Thế hôm nay chúng
ta làm gì ? - Tôi hỏi.
Tôm nói rằng anh ta
sẽ đánh dấu vị trí của các hóa thạch lên bản đồ. - Khi nào cậu đi dán nhãn cho
vị trí 162 ?
- Tôi không hoàn
toàn hình dung một cách chính xác là 162 nằm ở đâu? Anh ta
nói.
- Thế thì mình sẽ chỉ cho cậu.
Sáng hôm ấy tôi
không định đi với Tôm Grây, tôi cần phải ở lại trại nhưng tôi đã không ở lại.
Theo linh tính, tôi cảm thấy có bước nhảy vọt mạnh, nó thôi thúc tôi đi với Tôm.
Tôi ghi cho mình trong nhật ký : "Tháng 11 ngày 30 năm 1974. Vị trí 162 - cùng
với Tôm Grây cho đến bữa ăn trưa. Cảm giác tốt".
Là một chuyên gia
nghiên cứu những tổ tiên hóa thạch của con người, tôi mê tín quá mức. Phần lớn,
trong công tác của mình, chúng tôi lệ thuộc vào vận may rủi, vào sự thành đạt,
và vì vậy chúng tôi đã mê tín. Đã có những nhà cổ nhân chủng học, trong suốt cả
cuộc đời đã không hề tìm thấy một người hóa thạch nào. Tôi là một trong những
người gặp may nhất. Tổng cộng, đó mới chỉ là mùa thực địa thứ ba của tôi ở Sađa,
mà tôi đã tìm thấy mấy người hóa thạch. Chính vì thế mà tôi đã viết : "Cảm giác
tốt" trong nhật ký của mình. Buổi sáng, khi tôi thức dậy, tôi cảm thấy hôm nay
là một trong những ngày mà số phận đem lại hạnh phúc cho tôi. Một trong những
ngày có thể xảy ra một điều kỳ lạ.
Thế nhưng, phần lớn
của buổi sáng đã không đem lại cái gì cả. Tôm Grây và tôi ngồi vào xe Len-Rôve
khảo sát có bốn chỗ ngồi, và di chuyển chậm chạp đến vị trí 162. Đó là một trong
hàng trăm vị trí đã được đánh dấu để nghiên cứu chi tiết về địa chất của các hóa
thạch. Mặc dù vị trí này cách trại chỉ có bốn dặm, nhưng do mặt đất không bằng
phẳng nên nửa giờ sau chúng tôi mới tới nơi. Khi đến nơi thì cái nóng bức đã bắt
đầu tăng lên".
Sađa là xứ sở sa
mạc, chỉ có những hộc đá trần trụi và sỏi, cát, những di cốt hóa thạch gần như
nằm ngang trên mặt đất. Sađa - trung tâm của sa mạc Afa, là đáy hồ cổ xưa, bây
giờ đã khô kiệt và chất đầy những lớp trầm tích. Các lớp trầm tích này đã giữ
gìn lịch sử những sự kiện địa chất trong dĩ vãng. Ở đây có thể theo dõi được bụi
và tro núi lửa từ bầu trời rơi xuống cách hàng triệu năm trước đây; có thể theo
dõi được những lớp chất bẩn và bùn bị rửa trôi từ những ngọn núi cách đó rất xa,
rồi lại đến những lớp bụi núi lửa, rồi lại đến những lớp bùn, và v.v… Những sự
kiện ấy thể hiện ra như những lớp xếp trong mẫu bánh nướng, như trong khe xói
của một con sông trẻ mà cách đây chưa lâu đã chảy qua lòng hồ này. Ở Sađa rất ít
mưa, nhưng vào mùa mưa, thì những trận mưa rào tràn ngập cả ngày lẫn đêm và trút
nước xuống suốt 6 tháng. Vì không có thực vật che phủ, đất trần trụi nên không
giữ được nước mưa. Nước ào ào cuốn theo đất đổ vào khe suối, phá vỡ vách suối và
cuốn đi ngày càng nhiều những di tích hóa thạch trên mặt đất. Nhưng chúng ta hãy
quay lại với câu chuyện của Jôhansơn.
"Tôm Grây và tôi
kéo chiếc xe Len-Rôve lên sườn dốc của một trong những khe suối như vậy. Chúng
tôi cố gắng đặt xe sao cho cái túi vải gai đựng nước ở trong bóng râm. Tôm Grây
ghi vị trí vào bản đồ. Sau đó chúng tôi bắt đầu đi và quan sát sườn khe. Chúng
tôi chậm rãi đi dọc theo sườn khe và tìm xương hóa
thạch.
Một số người tìm
được khá nhiều xương hóa thạch. Những người khác thì hoàn toàn tuyệt vọng. Điều
này đòi hỏi phải có thực tế, phải rèn luyện đôi mắt để có thể chỉ thấy được cái
gì đã phải thấy. Những người tìm kiếm giỏi nhất là những người ở Afa. Lúc nào họ
cũng chăm chú nhìn dọc theo các vách đá và trên cát. Cuộc sống của họ phụ thuộc
vào việc đó. Họ lập tức nhận ra bất cứ một cái gì đó không bình thường. Bằng cái
nhìn có trình độ chuyên môn, chỉ cần lướt nhanh trên tất cả những hòn đá cuội,
những tảng đá, họ nhận ra ngay một vài vật mà người chưa quen với sa mạc không
nhận ra được.
Tôm và tôi đã tìm
kiếm trong vài giờ đồng hồ. Hãy còn lâu mới đến trưa mà nhiệt độ đã vào khoảng
43oC. Chúng tôi tìm được không nhiều: mấy cái răng ngựa Hipparion đã tuyệt
chủng, một phần chiếc sọ lợn đã bị tuyệt chủng, vài chiếc răng hàm của sơn
dương, mấy mảnh xương hàm vượn. Với tất cả những thứ đó, chúng tôi đã có được
những sưu tập lớn, nhưng Tôm có ý định bổ sung cho bộ sưu
tập.
Tôi thu nhặt đã đủ
rồi đấy, - Tôm nói.
- Khi nào chúng ta
quay về ?
- Ngay bây giờ.
Nhưng chỉ quay về bằng con đường này và trên đường về chúng ta sẽ quan sát đáy
của khe suối nhỏ bé này.
Khe suối lờ mờ nằm
khuất sau rẻo đất nhô cao, nơi chúng tôi làm việc vào buổi sáng hôm ấy. Ít nhất,
những cộng tác viên khác đã hai lần nghiên cứu rất cặn kẽ con suối này và họ
không tìm được cái gì lý thú cả.
Thế nhưng, khi nhận
thức được "hạnh phúc" trong tầm tay, tôi quyết định làm một đường vòng chung kết
nho nhỏ. Thực tế, trong khe suối không có xương. Nhưng khi chúng tôi vừa mới
quay lưng bỏ đi, tôi nhận ra một cái gì đó nằm trên sườn
dốc.
- Đây là mẩu xương
tay người, - tôi nói.
- Không thể thế
được. Mẩu xương nhỏ thế kia mà. Chỉ có vượn thuộc giống nào đó mới có những mẩu
xương như vậy, - Tôm Grây trả lời.
Chúng tôi quỳ xuống
xem xét mẩu xương.
- Quả thật rất nhỏ,
- Tôm Grây lại lên tiếng.
- Người. - Tôi lắc
đầu.
- Tại sao ông lại
tin như vậy? - Cậu ta hỏi.
- Mẫu này ở bên
phải tay kia của anh ấy. Nó cũng của người.
- Trời ơi !-Tôm
Grây bật kêu lên. Anh ta nhặt mẫu xương lên. Đó là mặt trái của xương sọ. Một
phần xương đùi nằm cách đó mấy fut [3].
- Xương đùi! Trời ơi! - Một lần nữa cậu ta kêu lên.
Chúng tôi đứng dậy
và lại nhìn thấy những mẫu xương khác trên sườn dốc: một cặp đốt xương sống, một
phần xương chậu - tất cả đều của cùng một người.
Một ý nghĩ không
tưởng tượng được, không thể có được thoáng qua trong óc tôi. - Lẽ nào chúng lại
tụ tập lại một chỗ? Có thể chúng là những phần của cùng một bộ xương nguyên thủy
nhất. Nhưng một bộ xương như vậy thì chưa hề có ai tìm được. Không có ở đâu
cả.
- Ông hãy nhìn lại đây, - Tôm Grây nói. - Xương sườn. - Một cá
thể?!
- Tôi không thể tin được điều này, - tôi
nói.
- Quả thật tôi
không thể tin được điều này.
- Trời ơi! Tốt hơn
cả là ông phải tin điều này! - Tim Grây hét lên.
- Cái đó ở đây. Đi
chệch quá về bên phải, lại đây! Giọng nói của anh ta trở nên rên rỉ. Tôi đến chỗ
anh ấy. Chúng tôi bắt đầu nhảy nhót trong cái nóng bức trên
43oC.
Không còn một cảm
giác gì rõ rệt cả, chúng tôi ôm lấy nhau, người đẫm mồ hôi nằm lăn trên những
hòn cuội nóng bỏng, lại nhảy cẫng lên. Chúng tôi chăm chú tìm những mẫu xương
nhỏ bé màu nâu mà bây giờ, không còn nghi ngờ gì nữa, chúng là những phấn của
một bộ xương hoàn chỉnh đang nằm chung quanh chúng tôi.
- Chúng mình không
được nhảy nhót loanh quanh nữa, - cuối cùng, tôi nói.
-Chúng mình có thể
dẫm vào một cái gì đó. Ôi! Chúng mình phải tin. - Lạy trời! Lẽ nào ông không
tin?
- Tôi nghĩ không
thể thế được, chúng mình đã tìm được hai chân trái. Có thể ở đây có một số cá
thể, chúng bị lẫn lộn. Nào, chúng mình hay bình tĩnh lại cho đến khi trở về, cho
đến khi tin chắc một cách tuyệt đối chính xác rằng tất cả chúng đều khớp với
nhau.
Chúng tôi thu được
vài mẫu xương hàm, ghi nhớ chính xác địa điểm, ngồi vào Len-Rôve có lớp sơn đã
bị rộp, rồi quay về trại. Trên đường về, chúng tôi đón thêm hai nhà địa chất của
đoàn khảo sát đang cầm mẫu đá đi xuống:
- Có một cái gì đó
to lớn? - Tôm Grây kìm lòng nói với họ. - Một chút to lớn. - Một chút to lớn
lắm.
- Yên đi, - tôi
nói.
Nhưng còn cách trại
một phần tư dặm thì Tôm Grây không thể yên lặng được nữa. Anh ta đạp vào chiếc
còi ở xe làm nó phát ra những tín hiệu dài triệu tập các nhà khoa học đang tắm
dưới sông.
- Chúng tôi tìm
thấy cái gì này! - Anh ta thét lên, - Ôi! Trời ơi, chúng tôi kiếm được cái này!
Chúng ta đã có cả một Tác Phẩm.
Sau bữa ăn trưa, cả
trại lại kéo ra khe suối. Sau khi phân chia thành các khu vực, chúng tôi thu
nhặt được vô khối mẫu vật. Việc đó chiếm trọn cả ba tuần lễ. Khi mọi việc đã
hoàn tất thì chúng tôi đã có mấy trăm mẫu xương, chiếm khoảng 60% của bộ xương
nguyên vẹn của một cá thể. Không có một cái xương nào trùng lặp cả. Tất cả những
vật tìm được đã ghi vào bản liệt kê với số liệu MAD 228-I. Nhưng phải chăng tất
cả những mảnh xương ấy là của một cá thể. Căn cứ vào sự nghiên cứu sơ bộ, cũng
khó mà nói. Chưa có ai tìm được bất cứ một cái gì tương tự như vậy cả. Cả trại
phấn khởi hò reo. Trong đêm đầu tiên, không ai chịu đi ngủ cả. Jôhansơn kể tiếp:
"Chúng tôi nói chuyện và lại nói chuyện. Uống hết đợt bia này lại đến đợt bia
khác. Trong trại có băng ghi âm với bài hát của nhóm Bit (The Beatles) - "Luxi
bằng kim cương trên bầu trời". Và chính bài hát đó quây lấy cả bầu trời ban đêm,
chúng tôi hát đi hát lại bài hát đó nhiều lần, rồi lại hát nữa, hát nữa. Đó là
một đêm không thể nào quên được. Tôi không nhớ một cái gì hơn đêm ấy. Người hóa
thạch mới có tên là Luxi, và cái tên ấy được biết đến từ lúc đó, mặc dù số hiệu
theo luật của Luxi trong bộ sưu tập ở Sađa là MAD 288-I.
- Luxi? - Bất kỳ ai lần đầu tiên trông thấy xương hóa thạch đều hỏi tôi
câu đó. Lúc nào tôi cũng giải thích:
- Đúng, cô ấy là một phụ nữ… Và bài hát này của nhóm Bit. Chúng tôi vui
sướng đến tận chín tầng mây. Ông cần hiểu đó là vì chúng tôi đã tìm thấy cô ta.
Lúc đó lại một câu hỏi khác tiếp theo:
- Làm thế nào ông biết cô ấy là phụ nữ?
- Theo xương chậu của cô ấy. Chúng tôi đã tìm thấy xương chậu và xương
cùng của cô ta. Xương chậu ở phụ nữ mở rộng hơn ở nam giới, để có thể đẻ được
một đứa trẻ đầu to.
Câu hỏi
tiếp:
- Cô ấy là một cá thể họ người?
- Đúng, đúng. Cô ấy đi thẳng. Cô ấy đi lại cũng tốt như chúng ta
vậy.
- Những cá thể thuộc họ người đều đi thẳng?
- Đúng.
- Đó chính là điều sai khác chủ yếu của những cá thể họ
người?
Không dễ mà trả lời
câu hỏi này, vì chúng ta vẫn còn chưa biết một cách chính xác những con người
đầu tiên xuất hiện vào lúc nào. Tại sao và từ đâu những con người ấy xuất hiện.
Các nhà khoa học nói như thế này - người là vượn đi thẳng. Homo - giống người.
Homonidae - họ người. Bất kỳ cá thể nào trong số vượn người mà đi thẳng - đều
thuộc họ người. Tất cả mọi người đều thuộc họ người, nhưng không phải tất cả các
cá thể họ người đều là người [4].
Tạm thời gác những
câu chuyện khó khăn ấy lại, chúng ta sẽ tổng kết những vật tìm được ở
Sađa.
Ở Sađa, không chỉ
tìm thấy Luxi. Trong ba năm đầu tiên khai quật ở đó, đã tìm được 350 xương cá
thể họ người - khớp gối, hàm, di cốt của cả một gia đình họ người ở di chỉ 333.
Nhìn chung, đó là di cốt của một nhóm gồm đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ. Mỗi cá thể
đều có những đặc điểm của mình. Điều đó tạo ra khả năng nghiên cứu sự biến dạng
của tổ tiên. Tập hợp lại, chúng tạo thành một bộ sưu tập có tầm cỡ khá tốt. Bộ
sưu tập này không hơn bộ sưu tập ở Nam Phi, nhưng lại vượt xa về chất lượng. Ở
đây có cả một bộ xương đại diện nhất, tất cả những di cốt còn lại được bảo tồn
tốt hơn rất nhiều, và cái chủ yếu - bộ sưu tập di cốt các tổ tiên được xác định
niên đại chính xác, mà điều đó lại không có ở các bộ sưu tập Nam
Phi.
Đã tìm thấy di cốt
của ôstralôpitec châu Phi, của "người khéo léo", và của những tổ tiên
khác.
Tóm lại, đó là bộ
sưu tập không có bạn đồng hành. Về thời gian cổ xưa như vậy, thì người ta vẫn
chưa tìm được ở nơi nào khác trên Trái Đất - hơn ba triệu năm tuổi. Những vật
tìm được ở Ômô cũng được xác định niên đại đúng như vậy, nhưng chúng rất tản
mát. Sọ 1470 của Risac Liki, lúc đầu được xác định niên đại 2,9 triệu năm, nhưng
tại hội nghị Maxcơva 1982, đã dứt khoát xếp vào tuổi khoảng 2 triệu
năm.
Tất nhiên, Luxi
chiếm vị trí số một trong số những hóa thạch cổ xưa ở Sađa. Đầu của Luxi không
lớn hơn nhiều so với quả bóng gậy lớn. Chiều cao cũng không lớn - khoảng 107cm.
Mặc dù Luxi đã hoàn toàn trưởng thành. Căn cứ vào những chiếc răng khôn của
Luxi, có thể thấy được điều đó. Những chiếc răng khôn này đã mọc ra hoàn toàn
trước khi Luxi chết mấy năm. Jôhansơn giả thiết rằng Luxi đã chết vào khoảng
25-30 tuổi. Những dấu hiệu của bệnh viêm khớp, hoặc của một bệnh xương nào đó đã
xuất hiện ở Luxi, sự biến dạng các đốt xương sống đã chứng minh cho điều đó. Nếu
Luxi sống lâu hơn nữa thì chứng bệnh ấy sẽ làm cho cô ta rất lo
ngại.
Sự nguyên vẹn, sự
bảo toàn tốt đến kỳ lạ đối với bộ xương của cô ta, có liên quan đến việc cô ta
chết một cách bình yên. Xương của Luxi không có vết răng của thú ăn thịt. Những
chiếc xương ấy chưa bị nhai gặm, hoặc chưa bị dập vỡ như thường có nếu Luxi bị
sư tử hoặc hổ răng kiếm giết chết. Đầu của Luxi không bị tách rời ra theo một
hướng, còn chân - theo hướng khác, như linh cẩu vằn có thể làm như thế đối với
xương của Luxi. Luxi đã chết vì ngã vào cát của hồ (hoặc của dòng chảy) mà chúng
đã biến mất từ lâu. Khó mà nói rằng do bệnh tật hay chỉ do ngã một cách ngẫu
nhiên. Điều quan trọng là thú dữ không tìm thấy Luxi sau khi Luxi chết, và Luxi
không bị chúng ăn mất. Bộ xương của Luxi không bị quấy nhiễu. Cát, bùn đã chậm
chạp phủ lên Luxi, chôn cất cô ngày càng sâu hơn, sâu hơn nữa. Sau đó, dưới áp
lực của các thớ tầng kế tiếp nhau, cát trở nên rắn lại như đá tảng. Luxi trầm
lặng nằm trong ngôi mộ đá của cô từ triệu năm này sang triệu năm khác cho tới
khi các trận mưa ở Sađa, một lần nữa, lại đưa cô lên trần
thế.
Điều này quả là
điều kỳ diệu. Luxi lộ ra trên mặt đất chưa lâu lắm, có lẽ mới một vài năm thôi.
Năm năm trước đấy Luxi hãy còn bị vùi lấp. Nhưng nếu để năm năm nữa trôi qua thì
Luxi có lẽ đã bị hủy hoại. Phần trước sọ đã bị mất, nước đã cuốn đi. Vì thế
không thể đo chính xác được kích thước sọ của Luxi. Nhưng bộ xương của Luxi là
vật tìm thấy hiếm có.
Trước khi tìm thấy
Luxi thì bộ xương của người nêanđectan là cổ xưa nhất. Nó có 75 nghìn năm tuổi.
Chỉ tìm thấy những di cốt khác của họ người và lại là những mảnh nhỏ. Dựa vào
chúng, tất cả những gì có thể phục chế đều tươm tất theo từng mẫu xương nhỏ bé -
răng lấy từ đây, mẫu xương hàm - từ chỗ kia, một cái sọ nguyên vẹn - lấy từ chỗ
nào đó, cộng thêm xương chân từ một địa điểm thứ tư nào đó nữa. Các nhà khoa học
gom góp chúng lại, họ biết những chiếc xương ấy cũng khá rõ ràng như tôi biết
cái tay của mình vậy. Nhưng khi các bạn chuẩn bị một phục chế như vậy thì điều
có thể xảy ra là những mẫu xương ấy lại là của vài tá cá thể đã sống cách xa
nhau hàng trăm kilômet, và vẫn có thể tách biệt nhau theo thời gian hàng trăm
nghìn năm - chúng lẫn lộn với nhau. Tất nhiên, với một phục chẽ như vậy, lúc nào
cũng phải suy nghĩ: "Thế con người thực tế là như thế
nào?".
Luxi có tất cả. Ở
đây không cần phải phỏng đoán. Các bạn không cần phải tưởng tượng ra xương tay
mà các bạn đang thiếu. Lần đầu tiên, các bạn trông thấy ai nhiều tuổi hơn người
nêanđectan.
- Nhiều hơn bao nhiêu?
Nêanđectan có 75
nghìn năm tuổi, Luxi - gần 3,5 triệu năm. Đó là bộ xương cổ nhất, đầy đủ nhất và
được bảo tồn tốt của tổ tiên đi thẳng của con người. Chưa bao giờ tìm được một
bộ xương như vậy.
Trong vấn đề này,
giá trị của Luxi là: tính toàn vẹn và tuổi của Luxi. Những điều đó làm cho cô ta
trở thành duy nhất trong lịch sử những bộ sưu tập hóa thạch của họ
người.
- Nhưng dù sao đi nữa thì cô ta là ai? Là tổ tiên? Là con người? Tại sao cô
ta đã xuất hiện?
Jôhansơn và Oat cho
rằng Luxi và những người bà con của cô ta - những cá thể họ người ở Afa, chính
là những tổ tiên thực thụ của "người khéo léo" và của con người nói chung. Những
người khác cho rằng "Bêbi ở Taung" và bà con của "Bêbi ở Taung" không có gì khác
so với cả người Afa, cả "người khéo léo". Đó là những vấn đề phức tạp, sẽ bàn
sau.
Bộ xương ở Sađa là
vật tìm được gây chấn động mạnh. Nhưng có lẽ những phát hiện trên lớp tro ở
Lêtôlin cũng không kém phần lý thú. Phát hiện này, một lần nữa, đưa chúng ta
quay lại Đông Phi, và lại một lần nữa buộc chúng ta phải nhớ đến gia đình
Liki.
[1] Cuốn sách của
Jôhansơn được xuất bản ở Mỹ năm 1982 có tên: D. Johanson and M. Edey, Lucy. The
Beginnings of Humankind. N. - Y., 1982. Những ví dụ ở đây và tiếp sau lấy từ
cuốn sách ấy. Bản dịch (từ tiếng Anh ra tiếng Nga - ND) là của tác
giả.
[2] Acđơ - đơn vị
đo chiều dài Anh, bằng 91,44cm. ND.
[3] Fut - đơn vị đo
lường Anh, bằng 30,5 cm. ND.
[4] Xuất phát từ
những quan điểm khác nhau, và do đó các nhà khoa học khác nhau sắp xếp những di
cốt người hóa thạch vào những loài khác nhau. Vì vậy, trong bản dịch này, các
thuật ngữ "cá thể" ghép với từ "người" đều có nguồn gốc từ thuật ngữ (La Tinh).
Homo - người (giống người), bao hàm những cá thể thuộc họ người (người hóa
thạch, và người hiện đại). Cũng trong bản dịch này, thuật ngữ "loài" áp dụng cho
họ người, được các tác giả khác nhau dùng trong những điều kiện cụ thể nào đó
của tác giả đó, về mặt sinh học, thuật ngữ "loài", "dạng", "kiểu"… chưa hoàn
toàn thống nhất nghiêm ngặt, và đang được bàn cãi. ND.