GS TRẦN QUỐC VƯỢNG – MẤY VẤN ĐỀ VỀ VUA GIA LONG

Cố GS Trần Quóc
Vượng
Kính gởi Ban Biên tập
Khoahocnet,
Đây là một tham luận của Cố GS
Trần Quóc Vượng viết cho một hội thảo về vua Gia Long tổ chức tại Thành phố Hồ
Chí Minh năm 1996. Do liên quan đến quan điểm chính trị nên hội thảo này không
tổ chức được, và bài viết này cho đến nay được đăng lần nào.
Nhiều nhà nghiên
cứu ở Việt Nam rất thích bài viết này, nhưng rất tiếc chuyên luận này chưa hề
được công bố.
Bản thân tôi đã sưu tập được bài viết này từ hơn 15 năm và ấp ủ
nó được đăng chính thức để lưu trữ, nay xin gởi Khoahocnet. Nếu Khoahocnet đăng
tải thì chắc chắn đây là lần đầu tiên được công bố.
Xin cảm ơn Ban Biên tập.
Nguyễn Anh Huy
* * *
GS TRẦN QUỐC VƯỢNG – MẤY VẤN
ĐỀ VỀ VUA GIA LONG
* PHẦN
MỘT
0.1. Tôi không phải là một chuyên
gia về lịch sử, đặc biệt là về nhà Nguyễn, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng có những
nghĩ suy và thực ra là từ những năm giữa thập kỷ 70 cho đến gần đây, đầu xuân
Bính Tý 1996. Tôi vẫn thường qua lại xứ Huế và viết dăm bẩy bài về vị thế địa –
văn hóa của xứ Huế và vai trò của các chúa Nguyễn, bắt đầu từ Chúa Tiên Nguyễn
Hoàng (1558-1613) đến các vua đầu nhà Nguyễn, mở đầu là vua Gia Long (1802-1820)
và kết thúc là vua Bảo Đại (1925-1945).
Tôi đã nói và viết tản mạn nhiều
vấn đề về xứ Đàng Trong, về thời Nguyễn và nhà Nguyễn.
0.2. Ông Nguyễn Khoa Điềm – thuộc
dòng họ Nguyễn Khoa nổi danh từ các chúa Nguyễn mà bà nội ông (Đạm Phương Nữ Sĩ)
là cháu nội vua Minh Mạng, sinh ra thân phụ ông là nhà Mác-xít và là một trong
những người cộng sản đầu tiên, tức Hải Triều Nguyễn Khoa Văn – đã từng phát biểu
ở trường Đại học viết văn Nguyễn Du trong dịp lễ khai giảng khóa 5 (1995-1998),
rằng khi ông là tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí Sông Hương ở một thời chưa
đổi mới lắm, ông đã cho đăng bài của tôi về “Xứ Huế và vị thế
lịch sử của Huế” và đã cùng ban biên tập tạp chí ấy tặng tôi
giải thưởng đặc biệt cho bài viết này, mà khi ấy người ta cho là một sự “xét
lại” về mặt sử học. Bởi trước đó, theo giới Sử – Văn – Triết – Mỹ chính thống
của Việt Nam, thì gần như là một sự “phủ định sạch trơn” (table rase) về thời
Nguyễn và nhà Nguyễn, trong khi đó ở bài viết ấy và những bài tiếp theo, tôi
cùng với các nhà nghiên cứu Dân tộc – Xã hội – Mỹ học như Nguyễn Đức Từ Chi,
Trần Lâm Biền đã đề nghị một cách nhìn hơi khác, tóm tắt lại
là:
- Cần phân biệt thời Nguyễn, đời
Nguyễn và nhà Nguyễn.
- Cần phân biệt thời các chúa
Nguyễn và các vua Nguyễn.
- Và trong các vua Nguyễn, cũng
cần phân biệt các vua đầu Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng (1820-1840) và các vua
cuối Nguyễn như Tự Đức (1848-1883); và ngay cả các vua Nguyễn sau Tự Đức, cũng
cần phân biệt những ông Đồng Khánh, Khải Định với những ông vua yêu nước như Hàm
Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Lại càng nên phân biệt chính trị triều Nguyễn và học
thuật, trước tác và mỹ thuật của nền Quốc học Nguyễn. Có “cộng đồng” triều đình
và có các “cá thể” vua – quan nữa chứ !
1.0. Nay theo yêu cầu của Ban tổ
chức Hội nghị về vua Gia Long (1802-1820), tôi chỉ xin nói tóm tắt đôi điều mà
tôi cảm nhận được về Nguyễn Ánh – Gia Long.
1.1. Về Nguyễn Ánh: Nếu tôi nhớ
không nhầm thì cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (mà những người theo lý thuyết Mác-xít
thường gọi là “Khởi nghĩa nông dân”) bắt đầu xảy ra vào năm 1771, khi Nguyễn Huệ
sau này trở thành vua Quang Trung vĩ đại bấy giờ mới 18 tuổi, thì lúc đó Nguyễn
Ánh còn kém Nguyễn Huệ ít ra là 7 tuổi, nghĩa là mới chỉ một cậu bé con trên 10
tuổi, cháu của chúa Nguyễn Phước Thuần. Thế mà chính “cậu bé” Nguyễn Ánh đó –
sau khi chúa Nguyễn và gần như hết thảy những nhân vật của dòng chúa đã bị họ
Nguyễn Tây Sơn thủ tiêu sạch trơn – đâu chỉ khoảng 14 tuổi, từ xứ Huế, xứ Quảng
chạy vô châu thổ sông Cửu Long và gần như là đại diện duy nhất còn lại của dòng
chúa Nguyễn, đã trở thành vị Nguyên Soái chống lại phong trào Tây Sơn đang dâng
lên và lan tỏa trong toàn quốc từ Nam chí Bắc như triều dâng thác
đổ.
1.2. Tôi không bao giờ phủ định
rằng phong trào Tây Sơn đã có những công tích vĩ đại, ít nhất ở ba mặt sau
đây:
- Ở Đàng Trong thì lật đổ “trào
đình” của các chúa Nguyễn rồi tiến ra Đàng Ngoài lật đổ “trào đình” của các chúa
Trịnh cùng với triều Lê – mà những ông vua Lê từ quãng đầu thế kỷ XVII trên diễn
trình lịch sử đã trở thành những ông vua “bù nhìn”, hay là các “con rối”
(puppet) trong tay các chúa Trịnh.
- Chiến thắng vĩ đại chống quân
xâm lược Xiêm mà đỉnh cao là trận Rạch Gầm – Xoài Mút ở Mỹ Tho (Tiền Giang) vào
cuối năm 1784 đầu 1785. Quân xâm lược Xiêm 5 vạn đã “sợ Tây Sơn như sợ cọp” và
chính là do lợi dụng việc Nguyễn Ánh cậy nhờ mà định sang chiếm đoạt miền Nam.
Nguyễn Ánh mãi mãi mang tiếng xấu “cõng rắn cắn gà nhà”,
cầu ngoại viện để giải quyết vấn đề quốc sự.
- Đại chiến thắng chống vài chục
vạn quân xâm lược Thanh đầu xuân Kỷ Dậu 1789 – mà ông vua cuối cùng của nhà Lê
là Chiêu Thống đã cầu cứu. Và cũng như Nguyễn Ánh, ông vua Lê ấy cũng mang một
bộ mặt nhọ nhem trong lịch sử.
1.3. Nguyễn Ánh cùng Chiêu Thống
càng lem luốc bao nhiêu trước lịch sử thì hình ảnh Nguyễn Huệ – Bắc Bình Vương –
Quang Trung càng được xem là bộ mặt tỏa rạng và có một vai trò lịch sử lớn lao
bấy nhiêu trong lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII.
Nhưng bảo rằng Huế – Phú Xuân là
do vua Quang Trung xây dựng thành một đô thị thủ đô thì theo tôi lại là một lối
viết quá đà ! Huế, với thành Lồi ở Long Thọ bờ phải sông Hương và thành Lý Châu
– sau đổi là Hóa Châu ở lưu vực sông Bồ đã trở nên một thị thành, một cảng thị
(City-Port, Nagara) – từ thời Chiêm Thành và sau đó thời Đại Việt Huyền Trân nhà
Trần (sau 1306) và sau đó nữa là Quãng Phước, Kim Long thời chúa Sãi Nguyễn
Phước Nguyên và Phú Xuân thời chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1636-1648) và sau
chót là Gia Long – Minh Mạng (trước Gia Long, Phú Xuân vẫn chỉ là Làng
Xã).
1.4. Tuy không phải là một nhà sử
học chính tông, nhưng tôi không bao giờ dám thể tất cho Nguyễn Ánh khi ông vì
thế cùng lực kiệt, đã qua giám mục Bá Đa Lộc (Evêque D’Adran) và cậu bé tí hon
hoàng tử Cảnh (lúc bấy giờ khoảng 6 tuổi) đi cầu viện các thế lực phương Tây
(nhất là Pháp), đã dám cho vị giám mục người Pháp đó toàn quyền đại diện cho
nước Việt phương Nam ký với Pháp cái gọi Hiệp ước Versailles, nhượng cho Pháp
nào đảo Côn Lôn, nào cảng cửa Hàn… để mong nước Pháp quân chủ cuối mùa (1787)
cứu một nền quân chủ cũng cuối mùa nốt của Đại Việt. Cho dù cái nước Pháp quân
chủ cuối mùa ấy đã không giúp đỡ gì được cho Nguyễn Ánh và đã được / bị cuộc
cách mạng 1789-1790 xóa sổ khỏi lịch sử phương Tây, nhưng sao chăng nữa, việc đó
cũng tạo “tiền lệ” cho giới thực dân phương Tây mà trước hết là Pháp cùng với
vài thế lực Thiên chúa giáo thân (Pro) thực dân can thiệp ngày càng sâu vào nội
trị Việt Nam, và dẫn tới việc mất nước của ta vào nửa cuối thế kỷ XIX. Ký hiệp
ước, hòa ước để nhượng địa rồi “mãi quốc cầu
vinh” là những thủ đoạn hèn hạ của thực dân đầu mùa và quân
chủ cuối mùa.
1.5. Tuy sự thật lịch sử cho tôi
– và cho chúng ta – biết rõ rằng những điều khoản của Hiệp ước Versailles ấy đã
không thực hiện và sau này, khi đại diện của chính phủ Pháp đòi vua Gia Long
thực hiện hiệp ước Versailles thì vua Gia Long đã kiên quyết từ chối với lý do
rất chính đáng là: nước Pháp có thực hiện điều khoản nào của hiệp ước Versailles
đâu !
Trên đường từ Pháp về Pondichery
(Ấn Độ), giám mục Bá Đa Lộc chỉ tuyển được một số sĩ quan, kỹ sư, kẻ “phiêu lưu”
người Pháp và với một số rất ít kinh phí mua được vài cái tàu bọc đồng – mà vua
Quang Trung coi là những sự hù dọa vớ vẩn – để mang về giúp Nguyễn Ánh. Cho nên
theo tôi, cố giáo sư Trần Đức Thảo và một số người khác đã viết hơi quá đà, rằng
sự viện trợ của Pháp là một trong những nhân tố quan trọng nhất để tập đoàn
Nguyễn Ánh đã đánh bại phong trào triều đại Tây Sơn, từ Nguyễn Nhạc đến Cảnh
Thịnh – Bảo Hưng (1792-1802).
1.6. Như vậy, với những điều viết
trên, là tôi đã có một hàm ngôn rằng, sự thắng lợi của Nguyễn Ánh đối với triều
đại Tây Sơn chủ yếu là do những nguyên nhân nội sinh, và
đứng về mặt cá nhân tôi hay là của chúng ta nhỉ, cũng đáng nên “khâm phục” dù
“chút chút” – Nguyễn Ánh – một người có cá tính mạnh, từ một cậu bé con của một
ông chúa bị giết hại trong tù, gần như đã nhiều lúc không còn một mảnh giáp,
không còn một tấc đất, đã lấy lại được quyền bính trong cả nước Việt Nam từ Lạng
Sơn đến Cà Mau. Theo PGS Trần Lâm Biền, nền mỹ thuật Việt Nam chỉ có những thi
pháp kiến trúc chung từ xứ Lạng đến Gia Định thành là từ Nguyễn Gia
Long.
1.7. Cho nên, cũng không phải quá
đáng lắm khi linh mục Nguyễn Phương và một số nhà sử học nước ngoài khác – từ
phe XHCN (cũ) đến phe tư bản chủ nghĩa – cho rằng Nguyễn Ánh là
người trên thực tế đã thống nhất đất nước chứ không phải là
ông vua anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung, mặc dù ông vua anh hùng 3 lần vĩ đại
này đã gạt bỏ những thế lực quân chủ thối nát ở Đàng Trong, Đàng Ngoài và những
lực lượng ngoại xâm đứng đàng sau những quyền lực khốn nạn ấy. Và như vậy, xét
về mặt lịch sử khách quan là đã góp phần rất lớn vào công cuộc thống nhất đất
nước(1).
1.8. Không nói gì đến ông Nguyễn
Lữ – là “thầy tu” hay là “thầy võ” – không đủ nội lực để đối địch với Nguyễn Ánh
ở miền Nam, chỉ nói đến ông anh Nguyễn Nhạc xuất thân “nậu nguồn” và ông em Hồ
Thơm (Nguyễn Huệ) thì, do sự chia rẽ ngay trong nội bộ gia đình, mà theo tôi
“ghê tởm” nhất là ông anh cả Nguyễn Nhạc đã vì sự thỏa mãn nhỏ nhen được làm
Trung ương Hoàng đế ở thành Trà Bàn, rồi vì ghen tị và “chãnh chọe” với em sau
vụ Bắc Bình Vương “xóa hận sông Gianh” tiến ra Thăng Long, đã vội vã ra Bắc kéo
em về, rồi lại hãm hiếp cô em dâu – vợ Nguyễn Huệ – tạo mối thù hận khôn nguôi
và chiến tranh giữa hai anh em, khiến dưới triều Tây Sơn có một ông hoàng đế ở
Quy Nhơn và một ông hoàng đế ở Phú Xuân. Vậy làm sao có thể nói được là nước ta
đã được thống nhất ngay dưới thời Tây Sơn ? Đó là một “lập trường giai cấp” máy
móc đang chuyện nọ (chống ngoại xâm) “xọ chuyện kia” (chống quân chủ Nguyễn –
Trịnh).
1.9. Ở đây có một vấn đề thuộc
phương pháp luận sử học cần được làm sáng tỏ là: Lịch sử bao giờ cũng có một sự
gián cách giữa lịch sử – thực tại (Histoire – Réalité) và lịch sử nhận thức
(Histoire – Conscience). Mà cái lịch sử nhận thức thì luôn gắn liền với chủ quan
nhà sử học – nhưng trách nhiệm và bổn phận của nhà sử học chân chính là luôn
luôn cần cố gắng có cái nhìn khách quan đến mức cao nhất. Mức cao nhất đó là như
các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam cuối thế kỷ XX nói: Hơn ai hết là nhà sử học
cần “nhìn thẳng vào sự thật !”, nói đúng sự thật, và giải
thích một cách khoa học cái sự thật khách quan ấy. Vẫn theo tôi, “tâm thức tiểu
nông” Việt Nam là nền tảng tinh thần của nền “dân chủ làng xã”, của sự đồng dạng
văn hóa (Cultural Identity) ở cấp văn hóa xóm làng Đại Việt – Việt Nam một thời.
Thống nhất rồi chia rẽ, đó là “trách nhiệm lịch sử” của cấu trúc quân chủ Phật
giáo (Lý – Trần), rồi quân chủ Nho giáo (Lê – Nguyễn). Lịch sử chính trị và lịch
sử văn hóa, có cái CHUNG và cũng có cái RIÊNG. Quy mọi thứ vào chính trị hay vào
kinh tế là cái nhìn (Point of view) đã “lỗi thời” (Over time) lâu rồi, quá lâu
rồi !
* PHẦN
HAI
01. Luôn “trung thành” với tư duy
tự ý thức rằng “Tôi không phải là một nhà sử học chính tông”, sau đây tôi chỉ
nói – và viết – đôi điều “lặt vặt” tôi nhớ lại và cảm nhận được về vị vua khai
sáng triều Nguyễn – Gia Long.
01.1. Nguyễn Ánh đã từng bôn ba
từ đất liền ra các hải đảo, Côn Lôn, Phú Quốc…
Do nghiệm sinh cá nhân, tôi rất
thích những người “bôn ba”, “từng trải”… dù với ý định chủ quan gì hay là do sự
dủi dun của Trời Đất – Tự nhiên. Vị Tam Nguyên Vị Xuyên xứ Nam Hạ – Nam Hà quê
tôi Trần Bích San đã có hai câu thơ mà tôi coi là tuyệt bút, nhất là câu
sau:
Văn vô sơn thủy phi kỳ
khí,
Nhân bất phong sương vị lão
tài !
Nghĩa là:
Văn không sông núi, không cao
diệu,
Người chẳng phong sương, khó
rạng tài !
01.2. Rất gần đây, tôi được đọc
bản thảo bài viết của một học giả Mỹ, trong đó có đoạn đại ý
rằng:
Phụ thân Hồ Chí Minh – Cụ phó
bảng Nguyễn Sinh Huy (Sắc) là một người phiêu
lãng (Wanderer), nhưng cụ mới chỉ “lãng du” ở trong
nước Việt từ xứ Nghệ xứ Huế đến xứ Thanh, xứ Bình Định rồi vô miền Nam, Sài Gòn,
Sông Bé, Long An, Sa Đéc…
Có thể Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí
Minh cũng được “di truyền” bởi cái “gen” văn hóa phiêu lãng (wandering) đó,
nhưng “CON hơn cha là nhà có PHÚC”, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã phiêu lãng
gần như toàn thế giới, từ Á, Âu đến Phi, Mỹ… và ông đã có dịp “sống nghiệm”
với nhiều nền văn hóa khác nhau; do đó ông đã trải nghiệm
đối sánh nhiều LỐI SỐNG (Way (s)) trên tảng nền LỐI SỐNG VIỆT NAM. Ông giỏi
ngoại ngữ mà ngôn ngữ là một sản phẩm đồng thời là một thành tố của Văn hóa, cho
nên ông trở thành người của toàn Nhân loại và ông trở nên DUNG DỊ (Generous),
rất Việt Nam và cũng rất “Thể tất”, rất “Cận NHÂN TÌNH” (Hunman Sense). Do vậy,
Wandering phiêu lãng ở ông là một GIÁ TRỊ VĂN HÓA.
Thế mà đã có kẻ dám dịch
“wandering” là “lang bang, lang thang” và bảo rằng học giả Mỹ đó có dụng ý nói
xấu Cụ Hồ ! Đáng xấu hổ thay người “DỐT HAY NÓI CHỮ” hay là “HAY CHỮ LỎNG”
!
01.3. Nguyễn Ánh (Gia Long từ
1802) đã bôn ba từ đất liền đến hải đảo, từ Việt đến Xiêm, đánh Tây Sơn bại rồi
thắng to cũng có, mà đánh thắng cả Miến Điện theo yêu cầu – có lúc là “quái ác”
– của vua Xiêm cũng có. Nguyễn Ánh bẩm sinh và sinh nghiệm là một vị tướng tài
ba “thắng không kiêu, bại không nản”. Bị Xiêm rồi bị Pháp và sau cả Thanh Mãn
Trung Hoa khống chế, gây “áp lực” song Nguyễn Ánh vẫn tìm mọi cách để “thoát ra”
được sự khống chế đó và – cho dù chỉ theo ý kiến cá nhân tôi – ông vẫn là NGƯỜI
VIỆT NAM và đứng đầu một CHÍNH QUYỀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM, cho dù ông chịu nhiều áp
lực ngoại bang và cũng có lúc phải sử dụng nhiều cố vấn trong nước và nước
ngoài. Ông nghe nhiều nhưng
ông nghĩ và làm phần
nhiều theo ý ông. Từ 1815 hay về cuối đời, dù nể trọng Tả quân Lê Văn Duyệt, ông
vẫn quyết định chọn hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng ngày sau) chứ đâu có chọn cháu
đích tông – con hoàng tử Cảnh – làm người kế vị ông. Mà Minh Mạng, thì nên trọng
nể và học tập ông về việc quản lý hành chánh đất nước và xã hội nhiều hơn nữa,
chứ trách cứ ông thì cũng dễ thôi.
01.4. Cho dù ông tin cậy và nhờ
cậy vào giám mục Bá Đa Lộc và tỏ ra “khoan hòa” với Thiên chúa giáo của phương
Tây, cho dù hoàng tử Cảnh – trưởng nam của ông – đã trở thành giáo dân Thiên
chúa giáo, khi ở Gia Định (Nam Bộ) cũng như khi trở thành hoàng đế toàn Việt
Nam, ông vẫn tôn Nho, trọng dụng “Gia Định tam gia” người Việt gốc Hoa (Trịnh
Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh), vẫn trọng Phật, Lão và tín ngưỡng dân
gian, dù là Việt Nam, là Khơ Me, hay là Chăm, là Thượng… Đội cận vệ của Gia
Long, theo sử chép, chủ yếu là người “Thượng” (Sơn nhân). Ở thập kỷ 80, tôi đi
điền dã ở xứ Quảng, ở Tây Nguyên, các tộc “thiểu số” vẫn nhắc đến Gia Long với
một niềm kính nể. Có một thứ cây nửa trồng nửa hoang dại mang tên “Hoàng oanh
quất” (quýt vàng) quả ăn ngon, người dân tộc vẫn bảo tôi rằng đó là thứ quả cây
của vùng sơn cước đã nuôi sống Nguyễn Ánh thời khăn khó, sau này trở thành Quýt
Ngự. Ấy là tôi chưa kể “Quế Trà My”…
01.5. Ông không chống Tây, Thiên
chúa, cũng không sùng bái quá đáng Thanh – Nho như người ta tưởng, và ông loay
hoay – tìm mà chẳng được – một HỆ Ý THỨC VIỆT NAM. Ông làm theo kiểu Việt Nam mà
chưa điều chế nổi một lối suy nghĩ (Way of thinking) Việt Nam. Chỉ sau này
Nguyễn Ái Quốc mới xây dựng được một Tư tưởng Hồ Chí Minh tương đối thuần Việt
Nam. Nhưng đó lại là một đề tài chuyên luận Triết – Sử khác, ít dính dáng đến
chủ đề ta đang bàn về Gia Long.
02. Sau 10 năm chinh chiến mà dân
gian miền Nam Trung Bộ gọi là “TRẬN GIẶC MÙA” (1791-1801) – mùa gió nồm nam,
Nguyễn Ánh mới dùng đội thủy chiến THUYỀN BUỒM ra đánh Tây Sơn – cuối cùng ông
đã thắng.
02.1. Tôi là con cháu nhà Nho nên
cũng có biết câu “Bất tương thành bại luận anh hùng”,
nghĩa là “luận anh hùng, chớ kể hơn thua !”.
Song, nếu tôi là nhà sử học như
các quý vị Phan Huy Lê, Nguyễn Phan Quang… khả kính, tôi cũng phải tìm cách
“giải thích” lịch sử chiến thắng của Nguyễn Ánh với Tây Sơn chứ nhỉ
?
Chả nhẽ lại chỉ dùng một thứ “chủ
nghĩa Mác thô sơ” là cuối cùng NÔNG DÂN – nếu
không có một Đảng của giai cấp công nhân đô thị hiện đại lãnh đạo thì bao giờ
cũng THUA giai cấp địa chủ – phong kiến , mà dù có thắng – như Tây Sơn đã từng
thắng trước đó – thì rồi cũng bị ĐỊA CHỦ HÓA, PHONG KIẾN HÓA mà thôi
!
02.2. Như tôi đã nghiệm sinh trên
điền dã khắp Bắc Trung và chút chút ở miền Nam, tôi đã thấy cả Nguyễn Nhạc và cả
Bắc Bình Vương – Quang Trung (tất nhiên cả Nguyễn Lữ nữa)
đã thất nhân tâm khi các ông – như học giả Tạ
Chí Đại Trường đã dẫn ra nhiều chứng cứ (Xem Nội chiến ở Việt
Nam 1771-1801…) – ở miền Trung, chỉ để 01 chùa ở cấp huyện, ở miền Bắc chỉ
để 01 chùa ở cấp tổng. “ĐẤT VUA – chùa LÀNG – Phong cảnh BỤT” – sáng – chiều
nghe tiếng chuông chùa “chiêu mộ” để tấm lòng thư giãn, để biết thời gian trôi
chảy vô thường đã từ lâu in hằn vào tâm thức người Việt. Phá chùa, đập tượng,
nung chuông (làm tiền, làm khí giới) là làm phản lại tâm thức Việt Nam. Có lẽ
nào dân gian xứ Bắc – Đàng Ngoài vốn kính VUA (Lê) nể CHÚA (Trịnh) và sùng Phật
– Đạo, dù rất trọng Quang Trung đã vì dân mà chiến đấu và chiến thắng giặc Mãn
Thanh, thế mà bên câu ca dao “cổ” (XV):
Lạy trời cho cả gió
lên,
Cho cờ vua Bình
Định(2) phất (phới) trên kinh
thành(3).
Lại có câu ca
dao “cận đại”:
Lạy trời cho cả gió
Nồm,
Cho thuyền chúa (vua) Nguyễn
thắng buồm thẳng ra !
Ra… là ra Bắc.
Vô là vô (vào) Trung – Nam. Đấy là một câu ca dao thuần Bắc cuối thế kỷ XVIII
đầu thế kỷ XIX. Đừng nên chỉ suy diễn lòng dân (XVIII-XIX) theo chủ quan “bác
học” (XX), mà nhà làm sử rất nên tham khảo Folklore, nhất là Folklore cổ – cận –
dân gian.
02.3. Quân Tây Sơn vào Nam – Nam
Bộ – thì phá Cù Lao Phố (Biên Hòa hiện nay), giết hại thương nhân Hoa kiều, vứt
phá hàng ngoại bỏ ra đầy đường, sau ở Sài Gòn thì cũng vậy; ra Trung thì tàn phá
Hội An (Faifoo), 10 năm sau còn chưa phục hồi lại được; ra Bắc thì phá Vị Hoàng,
phố Hiến và có đâu chừa lắm cả Thăng Long. Khi nho sĩ Bắc Hà – mượn lời nông dân
xóm Văn Chương – để thưa kiện với chúa Tây Sơn về việc tòa Văn Miếu – bia Tiến
Sĩ bị phá thì Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã thành thật phê vào
đơn:
Thôi ! Thôi ! Thôi ! Việc đã
rồi !
Trăm điều hãy cứ trách bồi
vào ta !
Nay mai dựng lại nước
nhà,
Bia Nghè lại dựng trên tòa
muôn gian.
Thôi cũng đừng đổ oan cho
thằng Trịnh Khải (1785-1786) !
02.4. Gia Long dù bắt đổi Thăng
Long (昇 龍) từ thành phố Rồng bay thủ đô cả nước ra Thăng Long (昇 隆) – ngày thêm
thịnh vượng – thủ phủ Bắc thành và dời thủ đô cùng cả Quốc Tử Giám – Văn Miếu
vào Huế thì ở Văn Miếu Thăng Long, Gia Long vẫn cho xây một
tòa Khuê Văn Các, nhỏ thôi mà cực đẹp; và ở thành cũ hoài
cổ của Bà Huyện Thanh Quan, ông cũng cho xây một tòa Cột
Cờ cao đẹp nhất kinh thành ngày ấy và cho đến nay còn tồn tại
!
Thế thì kể ra cũng khó mà chê Gia
Long và nghệ thuật kiến trúc Nguyễn ! Mà chê bai làm gì nhỉ, khi chúng – với
thời gian – đã trở thành cái ĐẸP, cái Di sản Văn hóa Dân tộc – Dân
gian.
Huế trở thành một Di sản Văn hóa
Nhân loại – theo Quyết định của UNESCO 1993, mà hiện nay ta rất tự hào và đang
biến thành Trung tâm Du lịch Văn hóa Việt Nam là NHỜ AI, nếu không phải là nhờ
VUA – QUAN – DÂN thời Gia Long – Minh Mạng – Tự Đức và Nguyễn nói chung
?
Kính xin quý vị Sử gia – tạm /
gượng gọi là “đồng nghiệp” của tôi bơn bớt việc “chửi bới” nhà Nguyễn – đời
Nguyễn – bắt đầu từ Gia Long – đi cho tôi và dân chúng nhờ… Và thái độ tốt nhất
là xếp cả xứ Huế và Việt Nam khi ấy vào Bảo tàng Lịch sử và coi khi đó, không
gian đó như một TẤT YẾU TẤT NHIÊN của LỊCH SỬ VIỆT NAM !
03. Có một huyền tích lưu hành
rất dai dẳng – và còn được ghi bằng giấy mực nữa kia – là khi Nguyễn Ánh – Gia
Long (năm 1801) chiếm lại được Phú Xuân – Huế từ tay triều đại Tây Sơn, đã
“cướp” công chúa Lê Ngọc Hân – Bắc cung Hoàng hậu của Quang Trung làm vợ. Huyền
tích ấy nay đã được giải ảo hiện thực (désenchanter le réel). Sự thực lịch sử là
thế này:
03.1. Sau khi vua Quang Trung mất
(1792), Ngọc Hân đã dời cung điện ra ở chùa Tiên gần lăng mộ Quang Trung (xem
sách “Đi tìm lăng mộ Quang Trung” của Nguyễn
Đắc Xuân và nhất là xem thơ Phan Huy Ích). Theo tôi, đó là vì vua Cảnh Thịnh kế
nghiệp Quang Trung mới 12 tuổi (không phải là con đẻ của Ngọc Hân) cùng thái sư
Bùi Đắc Tuyên (cậu của Cảnh Thịnh) rất lộng quyền, chẳng ưa gì bà Ngọc Hân xứ
Bắc, nên bà đã có ứng xử “chẳng tu thì cũng như tu mới là”; cũng có thể là bà
“nặng tình nặng nghĩa” với Quang Trung. Bà có với Quang Trung hai (02) người
con, bà mất sớm (1799) và cả hai con bà cũng vậy (1801).
03.2. Cho nên không làm gì có
chuyện vua Gia Long giết hai con bà và lại lấy bà làm vợ. Khi Ngọc Hân làm vợ
Quang Trung, đã môi giới để người em cùng nhũ mẫu là Ngọc Bình làm vợ của Cảnh
Thịnh.
Khi Cảnh Thịnh chạy ra Bắc, không
hiểu vì lý do gì, bà Ngọc Bình bị kẹt ở Phú Xuân. Gia Long chiếm Phú Xuân, bắt
được Ngọc Bình và quyết định ngay lấy làm vợ (phi). Cả đám triều thần của Gia
Long xúm lại can ngăn, họ nói: - Bệ hạ nay có cả thiên hạ,
thiếu gì gái đẹp – trinh nguyên, việc gì phải lấy vợ của giặc làm vợ mình
! Vua Gia Long cười ha hả mà nói: - Đến đất
nước của giặc “tau” còn lấy, huống chi là vợ giặc,“tau” lấy vợ giặc làm vợ “tau”
thì có chi mô !
Về việc này Biên Niên sử của
triều Nguyễn còn chép hẳn hoi, xem – chẳng hạn – Đại Nam Thực lục Chính
biên.
Tôi kể chuyện này với ông bạn
thân – nay đã quá cố “người xứ Huế” (mẹ là dòng Hoàng phái Nguyễn) là PGS Nguyễn
Đức Từ Chi, ông cười lâu lắm và bảo tôi rằng: - Ở đại học, tôi
học cổ sử Việt Nam với các thầy khác nên không biết chuyện này. Nay nghe anh kể
mới biết. Thật là tuyệt ! Đây là một “ca” (cas = trường hợp) mà nếu lý giải bằng
phân tâm học (psyanalyse) thì sẽ rất lý thú. Nhưng câu nói ấy của Gia Long trả
lời các quan đại thần là rất “cynique” (tôi chưa biết dịch là
gì cho đúng, đại khái là rất “tởm”, “lỗ mãng”, “bất cần sĩ diện”, “trắng trợn”…
nhưng mà rất THỰC) đấy chứ, phải không anh
?
Tôi mủm mỉm gật đầu đồng
ý.
03.3. Tôi được đọc GIA PHẢ nhà họ
Nguyễn ở làng Nành (nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội) quê bà Nguyễn
Thị Huyền, mẹ bà Ngọc Bình, nhũ mẫu của bà Ngọc Hân. Gia phả có đoạn
chép:
Bà cụ Nguyễn Thị Huyền – qua con
gái là bà Ngọc Bình – có làm đơn xin cải táng mộ bà Ngọc Hân (và hai con bà) về
Bắc, về quê bà. Vua Gia Long đồng ý. Tiểu sành đựng xương
cốt bà Ngọc Hân được chở bằng thuyền về làng Nành và được xây mộ hẳn hoi. Mãi
đến thời Thiệu Trị (1840-1847), có một tên cường hào ở làng Nành vì có sự chảnh
chọe ngôi thứ gì đó với dòng họ Nguyễn nên làm đơn vu cáo họ Nguyễn đã “lợi
dụng” gì đó về ngôi “mả ngụy” Ngọc Hân, cấp trên nó quan liêu hay ăn đút lót gì
đó – không biết – phê vào đơn cho phép đào mả Ngọc Hân quẳng xuống sông Nhị
Hồng…
Hiện nay ở Gia Lâm có đền Ghềnh,
tương truyền là “rất thiêng”, đấy chính là nơi hài cốt Ngọc Hân dạt vào, được
dân vớt lên mai táng lại. Nhiều nhà “Hà Nội học” – không đọc gia phả họ Nguyễn
làng Nành – đã nói và viết rất “lu bu” về chuyện này và “đổ vạ” cho Gia Long và
nhà Nguyễn đào mả vợ Quang Trung để trả thù ! “Trả thù”, vâng, có thể có ở mọi
thời, song việc đào mả Ngọc Hân quẳng xuống sông không phải là việc và trách
nhiệm – tội lỗi của Gia Long.
03.4. Gia Long “tội vạ” gì mà gây
thù chuốc oán thêm với sĩ phu và dân chúng Bắc Hà mà ông chê bai là “bạc” – theo
thành ngữ dân gian – hay được / bị “dân gian hóa” thành
câu: “Bạc như dân, bất nhân như lính”.
Theo chỗ tôi được biết (tôi biết
rất ít thôi), thì sau khi vua Gia Long ra Bắc (1802) diệt nốt “dư đảng Tây Sơn”
và cử Nguyễn Văn Thành (“Tiền Quân Thành”) làm Bắc thành trấn thủ, vua Gia Long
đã – qua ông Thành – làm vài việc sau đây:
03.5. Tổ chức một lễ
tế “Trận vong tướng sĩ” ở bên bờ sông Nhị
phía Đông thành Thăng Long. Bài văn tế này vẫn còn và khi xưa – tôi học trung
học – vẫn được học ở sách Việt Nam văn học sử
yếu của cố GS Dương Quảng Hàm. Sách này đề tên tác giả bài văn
tế là “Vô danh”, sau này giới Văn học và Hà Nội học đã tìm ra tác giả chính là
Nguyễn Huy Lượng, sĩ phu Bắc Hà – người đã cộng tác với triều đình Tây Sơn đến
cùng (1801) và viết bài Phú nôm nổi tiếng “Tụng Tây hồ
phú” (và do vậy Phạm Thái, sĩ phu Bắc Hà chống Tây Sơn đã viết
bài phản bác cũng khá hay với nhan đề “Chiến tụng Tây hồ
phú”). Lễ tế vong này và bài văn tế giành cho mọi sĩ tử binh không phân
biệt ai là “chân” ai là “ngụy”. Tế xong, Nguyễn Huy Lượng không bị phạt tù tội
gì về việc cộng tác với nhà Tây Sơn và Nguyễn Gia Long “bổ” cho ông cử nhân hay
chữ này một chức tri huyện ở phủ Nghĩa Hưng (Nam Định), sau ông bị – theo gia
phả và sử địa phương chí chép – giặc cướp giết.
03.6. Cũng dưới thời vua Gia
Long, bà phi “tòng vong” với Lê Chiêu Thống xin triều Nguyễn cho đưa hài cốt ông
vua Lê cuối cùng này cùng vài quan tòng vong (đã chết bên nước Thanh) đem về
nước. Vua Gia Long – qua lời tâu của Trấn thủ Bắc thành – đã
đồng ý. Bà phi họ Nguyễn này mang hài cốt chồng và vài quan khác về Việt
Nam chôn cất xong thì tự tử chết. Bà cũng được mai táng tử tế (tôi được học
chuyện này từ thời trung học Pháp thuộc).
Vua Gia Long đã sai lập “đền Cố
Lê” ở Hà Nội (mạn phố Thụy Khuê) để thờ vua Lê cũ và sai dỡ nhà Thái miếu ở
Thăng Long về Bố Vệ xứ Thanh quê nhà Lê lập đền thờ. “Đền vua Lê” (còn gọi là
“Thái miếu”) hiện vẫn còn và đã được Bộ Văn hóa Thông tin nhà nước CHXHCN Việt
Nam xếp hạng (“Di tích Văn hóa được xếp hạng”).
03.7. Quê tổ nhà Nguyễn là Gia
Miêu ngoại trang ở Hà Trung – Thanh Hóa, đối diện với dãi núi Triệu Tường. Ở
Đàng Trong, Nguyễn Hoàng đã trở thành “ông Hai” (ông cả Nguyễn Uông đã bị anh
rể – chồng bà Ngọc Bảo – giết để cướp chính quyền Thái Sư (như thủ tướng ngày
sau), thay thế ông bố vợ Nguyễn Kim (phụ thân Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng) đã bị
đầu độc chết. Từ thế kỷ XVII-XVIII trên đường hình thành đạo Mẫu Việt Nam mà mẫu
Liễu Hạnh ở Phủ Giầy (Vụ Bản, Nam Định, Nam Hà) trở thành “Thánh Mẫu” theo thần
tích, ít ra là từ đời Cảnh Hưng (1740-1786). Nguyễn Hoàng đã được thờ ở khắp xứ
Đàng Ngoài dưới tên gọi “Quan Lớn Triệu Tường”. Vua Gia Long đã về thăm quê gốc
Gia Miêu.
Trên đường công tác điền dã, năm
1994, tôi đã về thăm Gia Miêu, thăm ngoại / nội trang, thăm núi Triệu Tường, và
đang đứng trầm ngâm chiêm ngắm ngôi đình được trùng tu lại thời Gia Long, rất
đẹp mắt nhưng đang gần như bị “bỏ quên” (chưa được xếp hạng và đang xuống cấp,
chưa được trùng tu tôn tạo) thì được một cán bộ xã mời về trụ sở Đảng ủy và UBND
xã.
Tôi những tưởng mình sẽ bị khiển
trách và “thăm hỏi” vì đã dám ghé thăm ngôi đình làng mang niên hiệu Gia Long
trùng tu mà không trình báo lãnh đạo xã. Nhưng không !, tôi được chiêu đãi một
bữa bia “đã đời”, vì đã được cán bộ xã đứng tựa cột đình
“nghe lỏm” – tôi đang giảng giải cho các cán bộ cùng đi – về nét đẹp ngôi đình
làng này và tỏ ý tiếc vì bị nhà nước bỏ quên ! Nghe các nhà lãnh đạo xã quê
hương Gia Long nói thêm về tình hình xã, tôi rất mừng vì các đảng viên cộng sản
Gia Miêu quê hương nhà Nguyễn đã tỏ ra có “tư duy đổi mới” khi nhận nhìn vai trò
lịch sử của vua Gia Long và nhà Nguyễn với thái độ “thể tất nhân tình”, rất đậm
đà bản sắc Việt Nam. Vua Gia Long sai sửa đình làng quê gốc của mình nhưng không
hề sai sửa lại tên quê. Mãi đến thời Tự Đức (1848-1883), ông vua này mới sai đổi
tên Gia Miêu cũ xưa thành tên mới Quý Hương !
03.8. Tuy Trịnh Kiểm đã giết
Nguyễn Uông, nhưng chính sử nhà Nguyễn, kể cả Đại Nam nhất thống chí, quyển về
Thanh Hóa tỉnh, mục nhân vật vẫn chép về Trịnh Kiểm mà không hề có một lời nói
xấu nào về ông tổ họ Trịnh này.
Thật là lạ ! Càng lạ hơn, khi tôi
(1992) về thăm lại quê hương Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan ở Thạch Thất xứ Đoài
(nay thuộc tỉnh Hà Tây) – người được coi là “Trương Tử Phòng” (quân sư Trương
Lương của Hán Cao Tổ) của Trịnh Kiểm. Gia Long rồi Minh Mạng đã ban cho ngôi nhà
thờ Trạng Bùng một bức đại tự chạm trổ rất đẹp với 4 chữ “TRUNG HƯNG CÔNG THẦN”,
miễn sưu dịch cho con cháu Trạng Bùng, lại cho 2 “đinh phụ” được coi sóc nhà thờ
và mồ mả của ông Trạng đã hết lòng “phù Lê phù Trịnh” này.
03.9. Tôi có một số bạn bè họ
Trịnh đã / đang làm cán bộ cao cấp của nhà nước CHXHCN Việt Nam. Tôi đưa cho họ
xem bản Trịnh gia thế phả do Trịnh Cơ vâng
lệnh Gia Long, khai báo lại năm 1802.
Lời mở đầu cuốn gia phả họ Trịnh
này viết rằng khi vua Gia Long ra Bắc (1802), ông đã cho gọi tộc trưởng họ Trịnh
– Trịnh Cơ – từ xứ Thanh ra Thăng Long và phán bảo rằng: - Họ
nhà ngươi và họ ta là hai họ có thâm thù vì tổ họ ngươi đã giết tổ họ ta
!
Trịnh Cơ run rẩy nghĩ rằng mình
và họ mình sẽ bị Gia Long “làm cỏ sạch gốc rễ” để trả thù. Nhưng mà không !, vua
Gia Long nói tiếp: - Nhưng họ nhà ngươi và họ ta đã từng là
thông gia – thân gia. Ta sẽ lấy tình thân gia mà đối đãi với họ ngươi. Song họ
ta ở Nam đã quá lâu, ta chẳng biết rõ gì về họ ngươi cả. Vậy ngươi hãy cung khai
về gốc gác họ Trịnh trình cho ta biết !
Trịnh Cơ mang gia phả cũ ra tham
khảo và cứ theo sự thực viết ra (cố GS Hoàng Xuân Hãn rất khen ngợi bản gia phả
nhà Trịnh này là trung thực, đã viết rõ gốc gác nghèo hèn và hành xử “xấu xa”
của Trịnh Kiểm như ăn cắp gà, giết trộm trâu, ăn cắp ngựa…). Đọc xong Gia phả họ
Trịnh, Gia Long đã phê ban cho họ Trịnh 200 mẫu ruộng công để dựng
nên Trịnh điện làm nơi thờ tự các chúa Trịnh
(nay làng Trịnh Điện bên bờ sông Mã có diện tích đúng 200 mẫu, 1 mẫu Trung bộ =
5000m2).
* LỜI TẠM
ĐÓNG
Khi còn ở Gia Định và mới chỉ có
Gia Định (châu thổ sông Mê Kông) trước 1801-1802, Nguyễn Ánh – Gia Long đã vận
dụng “cơ chế thị trường” và đã biến Sài Gòn miền Nam thành
nơi sản xuất và xuất
khẩu lúa gạo ra toàn Đông Nam Á để đổi lấy các sản phẩm công
nghiệp phương Tây, cố nhiên hàng nhập khẩu được ưu tiên hàng đầu là vũ khí để
chống lại Tây Sơn. Tôi không muốn / không cần bình luận về ý đồ chủ quan của
Nguyễn Ánh, nhưng Nam Bộ cho đến nay vẫn quen với “cơ chế thị trường” hơn miền
Bắc. Có nhiều nguyên nhân lắm, song phải chăng cũng có vai trò của NGUYỄN ÁNH
?
Tôi đã nhắc đi nhắc lại – làm
rườm tai bạn đọc, nếu bài này được đọc và được in – rằng tôi, kẻ ngu hèn này,
không phải là một nhà Sử học chính tông.
Vậy, theo ý F. Engels vĩ đại, ai
không am hiểu lắm về một lĩnh vực khoa học nào đó mà cứ cố tình “nói chõ” vào
thì có thể được lượng thứ về một số sai lầm không đến nỗi lớn
lắm.
Tôi, từ lâu đã rất mê F. Engels,
mượn và có thể là “lợi dụng” mấy lời nói của ông để tạm đóng bài viết có nhiều
phần “dở hơi” này.
Hà Nội – Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh)
Mùa thu tháng Tám, 1996
Kính nộp,
GS Trần Quốc
Vượng
(Đại học Quốc gia Hà
Nội)
(1) Có nhà Việt Nam học ở Liên Xô
(cũ) còn xem vai trò Gia Long như vai trò của Pi-e đại đế nước Nga xưa nữa kia.
Thật là “quá đáng”, nhưng theo tôi, Quang Trung cũng không hề là nhà cải cách vĩ
đại của Việt Nam.
(2) Bình Định Vương Lê
Lợi.
(3) Thăng Long – Đông Đô – Hà
Nội
http://khoahocnet.com/2012/02/25/gs-tr%E1%BA%A7n-qu%E1%BB%91c-v%C6%B0%E1%BB%A3ng-m%E1%BA%A5y-v%E1%BA%A5n-d%E1%BB%81-v%E1%BB%81-vua-gia-long/
Cố GS Trần Quóc
Vượng
Nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam rất thích bài viết này, nhưng rất tiếc chuyên luận này chưa hề được công bố.
Bản thân tôi đã sưu tập được bài viết này từ hơn 15 năm và ấp ủ nó được đăng chính thức để lưu trữ, nay xin gởi Khoahocnet. Nếu Khoahocnet đăng tải thì chắc chắn đây là lần đầu tiên được công bố.
Xin cảm ơn Ban Biên tập.



05:21
danillewoods7537368
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét