This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013
Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam
Án sát : Tháng 6 năm Hồng Đức
thứ 2 (1471), đặt chức Án sát ở 12 Thừa tuyên và đặt bat y (tức Đô ty, Thừa ty,
Hiến ty) ở Quảng Nam. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) quy định Án sát dưới quyền
Tổng đốc, Tuần phủ. Ty Án sát sứ các tỉnh có Thông phán, Kinh lịch, bát cửu phẩm
Thư lại, Vị nhập lưu thư lại. Số lượng nhiều ít tuỳ theo từng tỉnh.
Ở các tỉnh nhỏ chỉ có Tuần vũ thì Án sát giữ vị trí tỉnh
Phó giữ việc hình. Thời Tự Đức (1848-1883) Án sát coi như tỉnh Phó của tỉnh
nhỏ.
Án sát sứ ty: là cơ quan phụ
trách việc hình thời Nguyễn. Là ty giúp việc cho Tổng đốc hoặc Tuần
vũ.
Ấm chức: Theo Phan Huy Chú-Lịch
triều hiến chương loại chí- Cấp bậc phong Ấm thực thi từ thời Trần Thánh Tông,
năm Thiệu Phong thứ 10(1267). Lúc bấy giờ định lệ phong Ấm cho Tôn Thất. (Con
cháu trước làm tới chức tước gì thì quy định ông cha được truy phong ở mức nào).
Đến thời Lê, thời Lê Thánh Tông lệ phong Ấm được quy định khá chi
tiết.
Ví dụ: Quận công thì cha và ông đều được phong tước hầu,
mẹ và bà đều được phong Chánh phu nhân, vợ được phong Phu nhân, con trưởng được
phong Triều liệt đại phu, các con được phong Hoằng tín đại phu, cháu trưởng được
phong Hiển cung đại phu.
Tước hầu thì cha và ông đều được phong Bá, mẹ và bà đều
được phong Tự Phu nhân, các con trưởng được phong Hoằng tín đại phu, các con
được phong Hiển cung đại phu, cháu trưởng được phong Mậu lâm lang…
Đời Huyền Tông, năm Cảnh Trị thứ 2 (1664). chuẩn định cho
công thần khai quốc từ Tam thái, Tam thiếu trở lên con cháu đời đời là công thần
tôn; công thần trung hưng, thì từ Tả Hữu Đô đốc, Tả Hữu Thị Lang trở lên con
cháu đời đời là quan viên tử.
Bá: Tước thứ 3 trong 5 tước
thời phong kiến: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.
Từ thời Lý đã đặt ra tước: Tước Vương, tước công ban cho
các thân vương của vua.
Đời Trần ngoài tước Vương còn ban tặng các tước khác như:
Quốc, Công, Thượng Hầu, Quan nội hầu, Thượng phẩm, Quan phục hầu…
Đời Lê thế kỉ XV, Lê Lợi ban phong cho các tướng công
thần các tước khác nhau như Á hầu, Thông hầu, Minh tự, Đại liêu ban…
Đời Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 2 (1471) bắt đầu định
quan chế và các tước; trong đó có 5 tước Công Hầu, Bá, Tử, Nam. Các đời về sau
vẫn dựa theo thể lệ đó; tuy nhiên cũng có sự thay đổi về việc ban, phong cho các
công thần. Cũng theo quy chế thời Hồng Đức tước Quận công lấy tên phủ, huyện (1
chữ đầu) làm hiệu; tước Hầu, Bá lấy tên xã làm hiệu.
Ví dụ: Lương Xuyên Bá Vũ Yêm con trưởng cụ Vũ Cảo (chi
IV).
Tước Tử, Nam lấy tên xã, cũng có khi lấy tên người được
phong.
Ví dụ: Vũ Trung là con Vũ Phẩm, làm chức huyện thừa được
phong Nhuận Trạch Nam.
Vũ Duy Thảo, con cụ Vũ Duy Liên, Học quan, làm Tham nghị
xứ Kinh Bắc, tước Tham Trạch Tử…
Bảng nhãn: Từ năm Bính Ngọ
(1246) đời Trần Thánh Tông (1225-1258) định ra Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám
Hoa. Năm sau chính thức định là Tam khởi, Lê Thánh Tông, năm Nhâm Thìn (1472)
cho đổi gọi Bảng nhãn là Đệ nhị giáp Tiến sĩ cập đệ- đệ nhị danh. Bảng nhãn tặng
hàm tong lục phẩm, 7 tư. Nếu vào làm việc ở viện Hàn lâm thì thăng lên một
cấp.
Bách hộ: Quan chế thời Hồng
Đức, ban võ có chức Bách hộ, trật chánh lục phẩm.
Thời Nguyễn thế kỷ XIX, Bách hộ trở thành hư hàm; có thể
mua được.
Binh bộ: Từ thời Lê Nghi Dân, năm Kỉ Mão (1459) bắt đầu
đặt đủ 6 bộ trong đó có bộ Binh. Đến tháng 6 năm Ất Mão (1675) đời vua Lê Gia
Tông định rõ chức việc của 6 bộ. Trong đó quy định bộ Binh giữ việc binh
nhung.
Biên chế bộ Binh thời Nguyễn gồm có: 1 Thượng thư, 2 Tả
lang, 5 Chủ sự, 10 chánh bát phẩm Thư lại, 10 chánh cửu bát phẩm Thư lại. Cơ
quan thuộc bộ gồm 1 xứ Binh trực và 7 ty giữ các việc lien quan đến binh
nhung.
Biện nghiệm: Theo Lê Quý Đôn
trong Đại Việt thông sử- chức Thái y biện nghiệm làm nhiệm vụ thăm khám cho
người bệnh.
Bồi tụng : Là Á tướng, thứ bậc
sau Tể tướng, từ thời Lê trung hưng thế kỉ XVII về sau chúa Trịnh nắm quyền mới
đặt chức Bồi tụ phủ đường. Khi Lê Chiêu Thống lên ngôi năm Đinh Mùi (1787) đã
bãi bỏ chức Bồi tụng mà lại đặt chức Tham tri như trước.
Cai hợp: Chức quan trong các
phiên ở phủ chúa Trịnh.
Dưới thời các chúa Nguyễn là chức quan Tá nhị của 3 ty Xá
sai, Lệnh sử và Tướng thần lại. Thời Minh Mạng (1829-1840) bỏ chức Cai
hợp.
Cai tổng: Đơn vị hành chính
tổng có thể xuất hiện vào thời Mạc, thế kỉ XVI. Tổng lớn hơn xã, một tổng có thể
gồm từ 3 đến 5 xã. Cai tổng là người cai quản tổng đó. Quyền hạn của Cai tổng
cũng tương tự như Chánh tổng thời Nguyễn (1802-1945)
Cẩm vệ y: Là cơ quan xét kiện
thời Lê Thánh Tông. Về sau có sự thay đổi; theo Sử học bị khảo: Cấm quân 2 vệ
Cẩm y và Kim ngô vệ nào cũng có Đô chỉ huy sứ, Thiêm tư, Trấn điện tướng quân,
Lực sĩ hiệu uý, Đoán sự, Thiên hộ 5 sở Thiên hộ, Phó thiên hộ. Lương y sở, Lương
y chính lại thuộc về Cẩm y… Cẩm vệ y thời Nguyễn gồm 10 đội túc trực; là thiên
binh túc vệ vua (bảo vệ vua).
Công bộ thị lang: là chức phó
của Công bộ thượng thư. Thời Nguyễn trong mỗi bộ đặt Tả hữu Tham tri, đứng dưới
Thượng thư, Tả Hữu Thị Lang đứng hang thứ ba.
Cử nhân: học vị cấp cho người
trúng tuyển kì thi Hương. Từ năm Giáp Thân (1404) Hồ Hán Thương định cách chức
thi Cử nhân: Phép thi chia làm 4 kì, sau thêm kì thi viết chữ và tính (5 kì).
Quân nhân, phường chèo, người có tội không được thi. Ai đỗ kì thi Hương được
miễn lao dịch, miễn đi lính.
Đại lý tự: Là tên cơ quan. Năm
Quang Thuận thứ 7 (1466) đổi đặt 6 Viện là 6 Tự. Trong đó có các chức Khanh,
Thiếu Khanh, Thừa.
Nhà Nguyễn cũng đặt Đại lý tự. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827)
chuẩn định quan chế có Đại lý tự khanh, trật chánh tam phẩm. Đại lý tự thiếu
khanh, trật chánh tứ phẩm. Viên ngoại lang 1 viên, chủ sự 2 viên, Tự vụ 2 viên,
Bát cửu phẩm thư lại gồm 4 viên, vị nhập lưu Thư lại gồm 20 người. Đại lý tự
cùng bộ Hình, Viện đô sát thành tam pháp ty xét việc hình án.
Đại lý tự khánh: Trưởng quan
của Đại lý tự.
Đại tướng quân: Năm Bính Thân
(1296) đời Trần lấy Phạm Ngũ Lão làm Hữu kim ngô vệ Đại tướng quân. Năm Ất Dậu
(1405), thời Hồ Hán Thương, Đại tướng quân được giao trông coi các quân mới lập.
Năm 1428, những vũ khí lớn cũng gọi là Đại tướng quân. Thời Nguyễn cũng dùng
danh hiệu này.
Đại nguyên soái: Thời vua
Lê-chúa Trịnh, năm Kỉ Hợi (1599) chúa Trịnh Tùng tự phong Đô nguyên soái-Đại
nguyên soái. Năm Mậu Thân (1668) Trịnh Tạc cũng tự phong Đại nguyên soái thượng
sư thái phụ Tây Vương.
Điển bạ: Năm Minh mạng thứ 8
(1827) đặt chức Điển bạ trong Quốc Tử Giám, trật tòng bát phẩm.
Đề lại: Danh chức lại viên định
năm Đinh Dậu (1477) quy định: Lại viên các nha môn ở trong không có xuất thân
khi mới bổ sung cho làm Thông lại, sau 6 năm thăng làm Đề lại. Năm Gia Long thứ
nhất (1802) mỗi phủ nha đặt 2 đề lại, 8 Thông lại; trật chánh cửu phẩm văn
ban.
Cấp sự trung: Trong sáu khoa đặt từ thời
Lê Nghi Dân có các chức Đô cấp sự trung, Cấp sự trung, trật chánh thất phẩm, bát
phẩm.
Năm Minh Mạng thứ 18 (1837), đặt chức Chưởng ấn Cấp sự
trung, trật tòng tứ phẩm.
Câu kê: Là chức quan trong các phiên của
phủ chúa, đứng dưới chức Thiêm tri phiên. Trật chánh thất phẩm. Thời các chúa
Nguyễn chức Câu kê có thay đổi.
Chỉ huy sứ ty: Là chức quan Võ thời
Nguyễn thuộc vệ Cẩm y, chỉ huy các đội thường trực và ty trấn phủ, trật chánh
tam phẩm võ ban.
Chính tự: Theo quan chế thời Bảo Thái,
Trung thư giám Chính tự trật chánh thất phẩm. Thời Nguyễn quan Chính tự làm
nhiệm vụ dạy học. Lấy Hàn lâm viện Kiểm thảo, Đãi chiếu sung vào
Chiêu văn quán, Tú lâm cục: Theo Phạm
Đình Hổ, thời Hồng Đức (1470-1497) đặt ra Sùng văn quán, Tú lâm cục. Con của các
quan ở ban văn từ tam phẩm trở lên, được bổ làm học sinh Sùng văn quán. Con các
quan từ ngũ phẩm tr?lên được bổ làm học sinh Tú lâm cục... nếu như nghiệp của họ
không tinh, cho lui về làm quan viên tử.
Đến thời hậu Lê (từ Lê Trang Tông 1533-1548) trở đi đổi
Sùng văn quán làm Chiêu văn quán, con các quan ở phẩm hàm cuối gọi là Tú lâm
cục.
Công bộ : Là một trong sáu bộ, đặt từ
thời Lê Nghi Dân. Công bộ đảm trách việc xây dựng thành hào, cầu cống, đường xá,
tu sửa, xây dựng nhà sở; thi hành lệnh cấm về núi rừng, vườn tược,
sông.
Biên chế Công bộ thời Nguyễn gồm: 1 Thượng thư, 2 Tả Hữu
Tham tri, 2 Tả Hữu Thị lang, 3 Lang trung, 3 Viên ngoại, 4 Chủ sự, 4 Tư vụ, 8
chánh bát phẩm Thư lại.
Công bộ Thượng thư: Quan đứng đầu bộ
Công, theo quan chế thời Hồng Đức và Bảo Thái cho hàm tòng nhị phẩm; thời Nguyễn
cho hàm Chánh nhị phẩm, thuộc hàng Chánh khanh.
Đề điệu: Tên chức quan.
Trong các kỳ thi Hội thời Lê có một quan đứng đầu trường thi (Chánh chủ khảo) là
Đề điệu. Chức này thường dùng đại thần không kể quan văn hay võ. Thời Nguyễn nó
dùng chức Đề điệu, thường củ người có khoa bảng giữ chức
Đô ngự sử:Thời Lê Thái Tổ theo quan chế
thời Trần, đặt Ngự sử đài có các chức Thị ngự sử, Ngự sử trung thừa, Phó trung
thừa, Giám sát ngư sử, Chủ bạ; sau đặt Đô ngự Sử, Phó đô ngự sử, Thiêm đô ngự sử
cùng trưởng quan là Ngự sử đại phu. Đô ngư sử giữ phong hóa pháp độ, chức rất
trọng. Thời Nguyễn chức quan đứng đầu Đô sát viện trật chánh nhị phẩm văn
ban.
Đô đốc : Thời Quang Thái nhà Trần đặt
chức Đô đốc ở các bộ. Năm Tân Ty (1461) bổ dụng Lê Lộng làm Đô đốc bình chương
quân quốc trọng sự. Đô đốc kiêm chức Tế tướng. Năm Bính Tuất (1466) bắt đầu đặt
quân 5 phủ: Trung quân phủ, Đông quân phủ, Tây quân phủ, Nam quân phủ, Bắc quân
phủ. Gọi là ngũ quân Đô đốc phủ. Có các chức Tả Hữu Đô đốc, Đô đốc đồng tri, Đô
đốc thiêm sự chuyển giữ việc quân. Quan chế thời Hồng Đức cho Tả Hữu Đô đốc trật
tòng nhất phẩm.
Đô đốc phủ: Năm Đinh Sửu
(1397) định lại quy chế về quan ngoài cấp bộ đặt phủ Đô đốc để trông
coi.
Đô lại: Danh chức này định ra từ năm Đinh
Dậu (1477). Thư lại sau 3 năm làm việc sung làm Đại lại, tiếp theo 3 năm nữa
thăng là Điển lại, 3 năm nữa không phạm lỗi gì sẽ được thăng Đô Đạo các Thừa
lệnh sở ở các nha phủ làm việc Bầu 3 năm thì thăng Đô lại
Đốc đồng: Theo Phan Huy Chú chức Đốc đồng
đặt ra từ thời Lê trung hưng. ở các trấn đặt chức Đốc đồng; khám xét việc kiện
cáo Chức Đốc đồng dùng quan tứ phẩm, ngũ phẩm trở xuống
Đồng tri phủ: Năm Bính Tuất (1466), bãi
bỏ các lộ, trấn, đổi đặt là phủ. Đổi An phủ sứ làm Tri phủ. Trấn phủ sứ làm Đồng
tri phủ. Theo quan chế thời Bảo Thái (1720-1729) Đồng tri phủ trật chánh thất
phẩm.
Đông các hiệu thư:Theo quan chế thời Hồng
Đức, năm Tân Mão (1471) đặt chức Đông các hiệu thư, trật chánh lục phẩm; vinh
phong Mậu lâm lang ngang với Hàn lâm viện Thị thư.
Đồng tri châu: Thời Hồng Đửc đổi trấn làm
châu, đổi Phòng ngụ làm Tri châu, Đồng Tri châu là Phó của Tri châu, cùng cai
quản một châu. Quan chế thời Bảo Thái cho trật tòng bát phẩm.
Đốc học: Là Học quan cấp tỉnh thời
Nguyễn. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) đặt chức Phó Đốc học ở một số nơi.
Đội trưởng: Tổ chức quân đội thời Nguyễn
chia mỗi đội thành 50 người, đặt Cai đội 1 người, Đội trưởng và Ngoại uỷ Đội
trưởng 2 người. Đội trưởng quân ở các tỉnh trật tòng thất phẩm.
Đồn điền sở. Lập sở đồn điền từ năm Tân
Sửu (1481). Sở này có chức năng quản lý việc làm ruộng. Trưởng quan là Đồn điền
sứ.
Đồn điền sở phó sứ. Là chức phó của Đồn điền sở
sứ thời Lê.
Giáp: Là tổ chức quần chúng tự nguyện tập hợp
những người đàn ông trong một làng, cùng lo việc tế thần và giúp nhau trong cuộc
sống. Giáp có một Giáp trưởng do cả Giáp bầu ra. Giáp thường đặt tên theo phương
hướng, theo số thứ tự, theo tên chữ. Giáp xuất hiện từ thời Hồng Đửc, nửa sau
thế kỷ XV.
Giải nguyên.Người đỗ đầu trong kỳ thi Hương thời
Nguyễn.
Giảng dụ: Là chức quan giảng dạy trong cung thời
Bảo Thái, trật chánh cửu phẩm.
Giám sát ngự sử: Theo Phan Huy Chú: Thời Lê
Thánh Tông đặt chức Giám sát ngự sử và 13 Giám sát ngự sử ở các đạo. Thời Lê
trung hưng về sau theo đó không đổi. Ngự sử đài trông coi công việc của Ngụ sử
13 đạo. Giám sát ngự sử 13 đạo trật chánh thất phẩm.
Giám sinh: Là học sinh Quốc Tử Giám, đặt ra từ
thời Lê. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Người nào thi Hương trúng
4 kỳ được sung vào học tại Quốc Tử Giám. Giám sinh chia làm 3 xá: Thượng xá
sinh, trung xá sinh, hạ xá sinh. Thời Nguyễn những học sinh đã đỗ Cử nhân, chuẩn
bị thi Hội được vào học ở Quốc Tử Giám.
Hàn lâm viện: Là tên cơ quan. Từ thời Lý đã đặt
Hàn lâm viện và đặt chức Học sĩ. Nhà Lê cũng noi theo thời Lý-Trần đặt Hàn lâm
viện có chức Phụng chỉ, Thị độc, Thị giảng, Trực học sĩ, Tri chế cáo, Đãi chế,
Hiệu điểm. Sau lại đặt Đại học sĩ. Thời Lê Thánh Tông bỏ Đại học sĩ đặt Thừa
chỉ, Thị độc, Thị giảng, Thị thư, Đãi chế, Hiệu lý, Tu soạn, Kiểm thảo, trật từ
chánh tứ phẩm trở xuống. Nhà Nguyễn vẫn đặt Hàn lâm viện, tuy có thay đổi một số
chức trong đó: Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ, Trực học sĩ, trật Chánh tam
phẩm. Hàn lâm viện Thị độc học sĩ chánh tử phẩm trở xuống.
Hàn lâm viên biên tu:Chức này trong Viện Hàn lâm
được đặt từ năm Minh Mạng thứ 8 (1827), trật chánh thất phẩm.
Hàn lâm viện Đãi chiếu: Nhà Lê đặt Hàn lâm,
trong đó có chức Đãi chế. Nhà Nguyễn trong Viện Hàn lâm có chức thấp nhất tòng
cửu phẩm gọi là Hàn lâm Đãi chiếu.
Hàn lâm viện Hiệu thảo: Theo quan chế thời Bảo
Thái có chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, trật tòng thất phẩm.
Hàn lâm viện Thị độc: Theo quan chế thời Hồng
Đức, Hàn lâm viện Thị độc trật chánh ngũ phẩm. Thời Nguyễn cũng có chức quan Hàn
lâm viện Thị độc.
Hình bộ Hữu Thị lang:Chức quan đứng hàng thứ ba
trong bộ Hình thời Nguyễn, trật chánh tam phẩm. Thời Lê, Hữu Thị lang là chức
phó của Thượng thư.
Hình bộ Tả Thị lang: Chức quan đứng thứ ba trong
bộ Hình thời Nguyễn, trật chánh tam phẩm. ởthời Lê Tả Thị lang cũng là chức phó
của Thượng thư.
Hình bộ Thượng thư: Là trưởng quan của bộ Hình.
Theo quan chế thời Hồng Đức Thượng thư trật tòng nhị phẩm; thời Nguyễn chánh nhị
phẩm.
Hiến sát sứ: Là trưởng quan của Hiến sát sứ ty.
Theo quan chế thời Hồng Đức, chức Hiến sát sứ, Hiến sát phó sứ chức vụ là đàn
hặc, xét hỏi, khám đoán, hội đồng kiểm soát, khảo khoá, tuần hành... Thời Bảo
Thái, Hiến sát sứ hàm chánh lục phẩm.
Hiến sát phó sứ: Là chức quan thứ hai, sau Hiến
sát sứ; theo quan chế thời Bảo Thái hàm chánh thất phẩm.
Hoàng giáp: Học vị gọi những người thi Đình đỗ
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân- đỗ thứ hai trong kỳ thi Đình.
Hộ bộ Hữu Thị lang: Chức quan dưới Thượng thư và
Tham tri; có Tả, Hữu 2 người, trật chánh tam phẩm.
Hộ bộ Thượng thư: Trưởng quan của bộ Hộ, trật
tòng nhị phẩm. Thời Nguyễn hàm chánh nhị phẩm.
Hoành từ khoa: Năm Đinh Hợi (1467) mở khoa Hoành
từ để chọn nhân tài- văn hay học rộng. Quan từ tứ phẩm trở xuống đều được dự
thi. Người nào trúng tuyển được vào học ở Bí thư giám.
Hội chủ: Người đứng chủ một hội như Hội thiện,
Hội sãi vãi, thường làm các việc hưng công, trùng tu, xây dựng đình, chùa,
quán... ở làng xã trước kia.
Hữu Thị lang: Là chức phó của Thượng thư thời
Lê, trật tòng tam phẩm; có Tả, Hữu Thị lang. ởthời Nguyễn Tả, Hữu Thị lang đứng
dưới chức Tả, Hữu Tham tri.
Hương cống: Học vị của người đỗ khoa thi năm
Canh Thân (1740) thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738- 1765). Khoa thi này có 4 kỳ,
ai đỗ kỳ thứ 4 gọi là Hương cống, sẽ được bổ làm Tri phủ, Tri huyện, Huấn
đạo.
Huấn đạo phủ: Đạt từ thời Lê. Thời Nguyễn phủ
nào có Tri phủ thì đặt Giáo thụ, có Đồng Tri phủ thì đặt Huấn đạo 1 người. Huyện
cũng đặt 1 Huấn đạo. Châu sát biên giới không đặt chức này. Huấn đạo ở các huyện
thời Nguyễn thường là chánh thất phẩm, tòng thất phẩm, hoặc chánh bát phẩm văn
giai.
Huyện thừa: Thời Quang Thuận, năm Canh Thìn
(1460) đổi chức Chuyển vận sứ làm Tri huyện, Tuần sát làm Huyện thừa. Thời Hồng
Đức Huyện thừa trật tòng thất phẩm.
Khán thủ:Là chức việc hàng xã đặt từ thời Lê; có
trách nhiệm đảm bảo an ninh trong làng xã, giống như chức Trương tuần thời
Nguyễn.
Khoa Sĩ vọng: Theo Lê Quý Đôn – Kiến văn tiểu
lục, thì khoa thi Sĩ vọng cũng gọi là khoa Hoành từ (xem khoa Hoành từ), chỉ có
Cống sĩ mới được dự thi, nhằm cất nhắc những sĩ tử có danh tiếng mà lâu nay bị
chìm đắm, chưa được trọng dụng. Khoa Sĩ vọng đặt ra từ tháng 8 năm ất Sửu
(1625).
Khoá sinh: Là học trò thi trúng cách lần thứ hai
ở huyện, trong những kỳ thi chọn người đi thi Hương.
Kỳ Anh quán:Là nơi tụ hội của các hưu quan làng
Mộ Trạch để bình thơ, văn hoặc sát hạch học trò trước kỳ thi Hương.
Lại bộ: Đặt từ thời Lê Nghi Dân năm Kỷ Mão
(1459); là một trong sáu bộ. Các quan gồm có Thượng thư (đúng đầu) Tả Hữu Thị
lang, Lang trung, Viên ngoại lang, Tư vụ. Thời Nguyễn quan chức Lại bộ gồm : 1
Thượng thư, 2 Tả Hữu Tham tri, 2 Tả Hữu Thị lang, 3 Lang trung, 3 Viên ngoại
lang, 4 Chủ cự, 4 Tư vụ, 8 bát phẩm Thư lại, 8 cửu phẩm Thư lại và 50 vị nhập
lưu Thư lại.
Lại bộ Tả Thị lang: Theo quan chế Nguyễn, đó là
chức quan đứng hàng thứ ba trong bộ Lại, trật chánh tam phẩm, ngang hàng với
quan Hữu Thị lang.
Lang y (Lương y): Người làm nghề thày thuốc
trong dân gian.
Lễ bộ Thượng thư: Quan đứng đầu bộ Lễ (một trong
6 bộ thời Lê). Thời Hồng Đức cho hàm nhị phẩm, thời Nguyễn hàm chánh nhị phẩm.
Thời Lê năm ất Mão (1675), định rõ chức vụ của 6 bộ; bộ Lễ đảm trách giữ việc Lễ
nghi tế tự, khánh tiết, yến tiệc, trường học thi cử, ấn tín, phù hiệu, áo mũ,
chương tấu biểu văn, sứ thần cống nạp, các quan chào mừng, tư thiên giám, thuốc
thang, bói toán, đạo lục, đồng văn nhã nhạc, giáo phường. Quan chế thời Nguyễn,
biên chế gồm: 1 Thượng thư, 2 Tả Hữu Tham tri, 2 Tả Hữu Thị lang, 3 Lang trung,
3 Viên ngoại, 4 Chủ sự, 5 Tư vụ, 7 Viên chánh bát phẩm Thư lại, 8 viên chánh cửu
phẩm Thư lại và 50 vị nhập lưu Thư lại.
Lệnh sử: Theo Lịch triều hiện chương loại chí:
Lệnh sử được quyền khám hỏi các việc lặt vặt của các xã dân kiện nhau. Việc quan
hệ đến hình luật thì do quan có thẩm quyền xét xử.
Lý trưởng: Người đứng đầu hàng xã, giống như Xã
quan- Xã trưởng trước đây. Chức Lý trưởng được đặt ra từ thời Minh Mạng
(1820-1840) là người đứng đầu chính quyền cấp cơ sở của chế độ phong kiến và
thực dân sau này.
Nhiêu nam: Là danh hiệu đặt từ thời Lê để gọi
nam giới ở trong các làng xã đã ở tuổi 55-60 (được miễn phu phen tạp dịch). Hoặc
dùng để tặng những người có công bắt được trộm cướp ở làng, tuy chưa đến tuổi
trên.
Nho sinh: Theo Cương mục: Con cháu các quan viên
được sung vào học ở Chiêu văn quán, hoặc Tú lâm cục gọi là Nho sinh.
Nho sinh trúng thức: Thời Lê chia học trò làm
hai hạng gồm: Nho sinh trúng thức, Giám sinh và Nho sinh, Sinh đồ; tuỳ theo tài
đức của mỗi hạng mà bổ dụng.
Nhập nội hành khiển: Đặt từ thời Lý, chuyên dùng
hoạn quan ở chức đó. Đời Trần thời Thiệu Phong (1341-1357) dùng người có văn học
giữ chức Nhập nội hành khiển: Chức này đứng sau chức Tể tướng.
Phó bảng: Học vị được đặt thêm từ năm Minh Mạng
thứ 10 (1829). Phó bảng xếp sau Tiến sĩ, không được dự thi Đình. Tên được ghi
vào bảng đỏ, không được khắc vào bia đá.
Phó tổng: Cấp phó của Chánh tổng được đặt từ
thời Gia Long (1802- 1819). Tổng gồm từ 3 đến 5, 6 xã, Chánh tổng đứng đầu tổng.
Phó tổng phụ tá cho Chánh tổng, được trật tòng cửu phẩm võ giai.
Phó câu kê: Là chức quan trong các phiên của phủ
chúa Trình, trật tòng thất phẩm.
Phó sở sứ: Chức quan phó quản lý các sở như các
sở đồn điền, sở tầm tang, điển mục... Bách ký sở.
Pháp môn phù thuỷ: Là người hành nghề cúng bái,
ma thuật.
Phủ doãn: Chức quan đặt thời Lê, cai quản phủ
Phụng Thiên (tức kinh đô Thăng long ) trật chánh ngũ phẩm. Thời Nguyễn đặt Phủ
doãn phủ Thừa Thiên, trật chánh tam phẩm.
Phụ quốc Thượng tướng: Đặt từ thời Lý. Lý Thường
Kiệt được phong Phụ quốc Thượng tướng quân khai quốc công.
Quan sử- Sử quan, người làm công việc biên chép
sử thời phong kiến.
Quản giáp: Nhà Lý chia đặt bình thành từng giáp,
mỗi giáp gồm 15 người; đặt 1 người Quản giáp.
Quận công: Theo quan chế thời Hồng Đức- Quận
công về văn ban ngang chánh thất phẩm, võ ban tương tự. Thời Nguyễn Quận công là
bậc thứ 4 trong tôn tước rất ít khi phong cho người còn sống; lấy tên Huyện làm
tước danh; không ban thực ấp. Bậc này được chánh nhị phẩm. Có phủ đệ riêng với 1
Thư lại, 5 nhân viên phục vụ.
Quốc Tử Giám: Quốc Tử Giám lập từ thời Lý Nhân
Tông năm 1076. Đây là nhà Quốc học- trường học đầu tiên ở nước ta. Năm Quý Sửu
(1253) Trần Thánh Tông cho đổi thành Quốc Học Viện, sau đổi là Thái Học Viện,
làm nơi giảng dạy cho con em vua quan và học trò giỏi trong cả nước. Địa điểm
tại Văn Miếu, Hà Nội nay. Quốc Từ Giám thời Trần có Tư nghiệp coi việc dạy Hoàng
tử học tập. Quốc Tử Giám thời Lê có Tế tửu, Tư nghiệp, Ngũ kinh, Giáo thụ, Ngũ
kinh học sĩ, Giám bạ. Học sinh trong Quốc Tử Giám là Giám sinh. Thời Nguyện Quốc
Tử Giám dời vào kinh đô Huế.
Người trong họ Tôn Thất được chọn vào học ở Quốc Tử Giám
gọi là Tôn sinh. Năm Gia Long thứ 3 (1804) đặt chức Đốc học bậc chánh tứ phẩm,
Phó Đốc học, trật tòng tứ phẩm, quản lý Quốc Tử Giám. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821)
đổi đặt chức Tế tửu, Tư nghiệp bậc như cũ. Về sau Quốc Tử Giám đặt ở Di Luân
Đường trong nội (thành) với hệ thống giảng đường, ký túc xá và nhà sách. Học
sinh trường Quốc Tử Giám gồm: Tôn sinh do Tôn nhân phủ chọn; Cống sinh do các
địa phương chọn; ấm sinh chọn từ các con quan; Cử nhân do bộ Lễ chọn vào học,
năm sau cho dự kỳ thi Hội.
Sinh đồ. Theo Cương mục, người thi Hương trúng 3
kỳ gọi là Sinh đồ. Sinh đồ tương đương học vị Tú tài thời Nguyễn.
Sứ bộ: Chỉ các thành viên trong đoàn đi sứ nước
ngoài trước đây.
Sử quán Tổng tài: Người đứng đầu biên soạn quốc
sử trong Quốc Sử Quán triều Lê- Nguyễn.
Tả Bộc xạ: Thời Trần coi Tả Hữu bộc xạ là Hữu
tướng quốc tức là Thái tế - Tể tướng.
Tả Đô đốc: Chức chỉ huy Bắc quân đặt thời Lê
Thánh Tông, tước Bá.
Tả Thị lang: Đặt từ thời Quang Thuận
(1460-1469). Thời Nguyễn 6 bộ đều đặt chức Tả Hữu Thị lang, trật chánh tam
phẩm.
Tam trường: Kỳ thi Hương gồm tứ trường, ai đậu
tam trường là Sinh đồ; đậu tứ trường được vào học Quốc Tử Giám.
Tập ấm: Chế độ nhà Nguyễn quy định con được kế
thừa nghề của cha.
Tể tướng: Đặt từ thời Lê Hoàn năm Kỷ Mùi (995).
Thời Lý Thái Tông (1028- 1054) đặt chức Phụ quốc Thái uý ngang chức Tể tướng.
Thời Lê Thánh Tông bãi chức Tế tướng.
Thái bảo: Đặt từ thời Lý (1010). Đời Lê cũng có
chức này, trật chánh nhất phẩm.
Thái bộc tự thiếu khanh: Chức đứng hàng thứ hai
của Thái bộc tự; cơ quan giữ việc âm dương, bói toán. Thời Bảo Thái; trật chánh
lục phẩm.
Thái y viện: Lập từ thời Lê. Có Viện đại sứ, Phó
sứ, Ngự y, chánh phó thuộc bộ Lễ, chuyên trách việc chữa bệnh trong
cung.
Tham chính:Đặt từ thời Nguyễn, trật tòng nhất
phẩm.
Tham đốc: Đặt từ thời Hồng Đức, trật tòng nhị
phẩm.
Tham nghị:Chức quan đại thần triều Nguyễn, trật
tòng nhất phẩm.
Tham tri: Đặt từ thời Lê thế kỷ XV, coi việc sổ
sách quân dân của một đạo. Theo quan chế thời Minh Mạng Tả Hữu Tham tri trật
tòng nhị phẩm văn giai.
Tham tụng: Thời Hoàng Định (1600-1619) đặt chức
Tham tụng làm việc trong phủ chúa. Tham tụng là Tể tướng.
Thị lang: Đặt từ thời Lý. Thời Hồng Đức có Tả,
Hữu Thị lang, chức phó của Thượng thư, trật chánh tam phẩm.
Thí sai: Chức quan thời kỳ tập sự, sau 3 năm mới
được bổ dụng
Thiêm sự: Đặt thời Lê Thái Tổ (1428: 1433) thuộc
Mật viện, trật chánh ngũ phẩm. Thời Gia Long bỏ chức này.
Thiếu doãn phủ: Chức phó của Doãn (phủ) Phụng
Thiên (Thăng Long), trật chánh lục phẩm.
Thông chính phó sứ: Chức quan hàng thứ hai ở cơ
quan Thông chính sứ ty thời Nguyễn, trật tòng tam phẩm.
Thông chính sứ: Đứng đầu cơ quan Thông chính sứ
ty, trật tòng tứ phẩm.
Thông lại:chức dưới Đề lại làm việc ở huyện thời
Nguyễn. Mỗi phủ đặt 5-8 Thông lại, huyện 4-7 Thông lại.
Thông phán: Đặt từ đời Trần; thời Nguyễn, Thông
phán, trật tòng ngũ phẩm.
Thư ký Hội đồng hương chính: Theo nghị định
(ngày 12 tháng 8 năm 1921) của Thống sứ Bắc Kỳ về việc cải lương hương chính lần
thứ nhất, quy định tại các làng xã Hội đồng kỳ mục sẽ được thay thế bằng Hội
đồng tộc biểu hay còn gọi là Hội đồng hương chính. Hội đồng này do các họ cử
người tham gia. Họ đông người có thể cử từ 2 đến 4 người; họ nhỏ cử 1 người. Hội
đồng hương chính do Chánh hương hội đứng đầu, giúp việc có Phó hương hội, Trương
tuần và Thư ký Hội đồng. Hội đồng tộc biểu tồn tại đến năm 1927 thì chính quyền
bảo hộ lại phải khôi phục Hội đồng kỳ mục như trước kia. Cuộc cải lương hương
chính của chính quyền bảo hộ thất bại.
Thừa chính sứ: Chức quan đặt từ thời Quang Thuận
(1460- 1469). Năm Bính Tuất (1466) Lê Thánh Tông chia nước ta làm 12 đạo. Mỗi
đạo đặt chức Đô ty và Thừa ty. Đặt chức Thừa chính sứ (trưởng quan) và Thừa
chính phó sứ; dưới có Tham chính, Tham nghị.
Thừa tuyên sứ: Khoảng giữa thời Hồng Đức (1470-
1497) đặt 13 Thừa tuyên trong nước. Dùng đầu mỗi Thừa tuyên có Thừa tuyên
sứ.
Thượng bảo khanh: Chức trưởng quan của Thượng
bảo tự, thời Bảo Thái (1705- 1729) trật chánh ngũ phẩm. Thời Nguyễn trật tòng
tam phẩm văn giai.
Thượng thư: Chức Thượng thư đặt từ thời Lý, chức
quan đứng đầu phụ trách bộ, nhưng tên các bộ chưa rõ. Đến thời Trần ; Đại Khánh
(1314- 1324) và Quang Thái (1388- 1398) mới đặt Thượng thư các bộ. Lê Thánh Tông
đặt Thượng thư 6 bộ: Lại, Hình, Lễ, Công, Binh, Hộ. Thượng thư được ban an của
bộ và trật tòng nhị phẩm.
Trạng nguyên: Người đỗ đầu trong kỳ thi thời
Trần. Năm Đinh Mùi (1247) chính thức định ra Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn,
Thám hoa. Đó là 3 người đỗ ở vị trí thứ nhất, nhì, ba trong kỳ thi Thái học sinh
(kỳ thi Đình từ thời Lê về sau).
Trạng Trình: Nguyễn Bình Khiêm đỗ Trạng nguyên
khoa thi năm ất Mùi (1535). Ông làm quan với nhà Mạc đến chức Thượng thư bộ Lại,
Thái phó, tước Trình Quốc công. Vì thế ông được gọi là Trạng Trình.
Trấn thủ: Chức quan đứng đầu các trấn thời cuối
Lê đầu Nguyễn (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX), khi chưa đặt cấp
tỉnh.
Tri châu: Chức quan làm việc bên ngoài kinh đô
đặt từ thời Lý Thái Tông (1028- 1054). Thời Quang Thuận đổi Phòng ngự sứ làm Tri
châu, trật tòng thất phẩm. Thời Nguyễn bắt đầu dùng Thổ Tri châu. Từ năm 1836
Minh Mạng áp đặt chế độ lưu quan ở miền núi, trật chánh lục phẩm đến chánh ngũ
phẩm.
Tri huyện: Trưởng quan cấp huyện thời
Nguyễn.
Tri phủ: Thời Trần đặt cấp hành chính gọi là
phủ. Phủ do lộ quản. Trưởng quan có Tri phủ, phó chức là Tri phủ đồng tri. Năm
Minh Mạng thứ 3 (1822) đặt Tri phủ, Tri huyện mỗi hạt một viên. Có nơi đặt Đồng
Tri phủ, trật chánh lục phẩm.
Triều liệt đại phu: Tên thuỵ ban cho chức quan
trật tòng tứ phẩm văn giai thời Nguyễn.
Tú tài: Người tham dự thi Hương thời Nguyễn, đỗ
tam trường thì gọi là Tú tài.
Tuần kiểm sứ: Chức quan coi cửa ải, đặt từ năm
Mậu Thân (1488) thời Lê Thánh Tông.
Tuần phủ: Chức quan đứng đầu tỉnh thời
Nguyễn.
Tư huấn: Chức trưởng quan của Tú lâm cục, Chiêu
văn quán và Sùng văn quán thuộc Viện Hàn lâm.
Tư nghiệp, Tế tửu: Xem - Quốc Tử Giám.
Tự thừa: Chức quan coi việc giữ đền miếu ở các
tỉnh và kinh đô, đặt từ thời Minh Mạng (1820-1840).
Viên ngoại lang: Chức quan đặt từ thời Trần, làm
công việc ngoại giao. Thời nguyễn Viên ngoại lang đứng háng thứ hai mỗi ty, sau
chức Lang trung, trật chánh ngũ phẩm văn giai.
Vinh lộc đại phu: Chức tản quan bên ngạch văn,
võ thời Lê. Nhà Nguyễn lấy thuỵ hiệu đó phong cho các quan trật tòng nhất
phẩm.
Vệ uý: Chức quan võ chỉ huy các vệ Cẩm y, Kim
ngô, Vệ loan giá thời Nguyễn.
Xã chính: Chức quan đứng đầu hàng xã thời
Lê.
Xã sử: Chức phó, giúp việc cho xã Trưởng thời
Lê.
Xã trưởng: Chức quan đứng đầu hàng xã thời
Lê.
Nguồn: https://www.facebook.com/notes/h%E1%BB%99i-m%C3%AA-s%E1%BA%AFc-phong/b%E1%BA%A3ng-tra-c%C3%A1c-ch%E1%BB%A9c-quan-ph%E1%BA%A9m-t%C6%B0%E1%BB%9Bc-h%E1%BB%8Dc-v%E1%BB%8B-th%E1%BB%9Di-phong-ki%E1%BA%BFn-vi%E1%BB%87t-nam/343477642451171
Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013
Cổ Luỹ - Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ học Champa nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên
Lâm Thị
Mỹ Dung
(ĐH
KHXH&NV- Hà
Nội)
Nguyễn
Anh
Thư
(Viện
Khảo cổ
học)
(Bài đã
in ở Tạp chí Khảo cổ học, 2009, số 1 (157), tr.45-62, Nxb KHXH, Hà
Nội)
Giới
thiệu
Di tích
Cổ Luỹ (tức Cổ Luỹ-Phú Thọ) nằm ở bờ phải sông Trà Khúc gần ngay cửa đổ ra biển,
đối diện với thành Châu Sa. Di tích đã được khảo sát vào đầu thế kỷ 20 (H.
Parmentier), thám sát năm 1998 (Đoàn Ngọc Khôi, Bảo tàng Quảng Ngãi) và khai
quật năm 2004 (Lâm Mỹ
Dung).
Kết quả
cho thấy đây là một di tích thành luỹ Champa sớm được xây dựng trên nền tảng của
một khu cư trú Champa sớm. Tầng văn hoá sớm có niên đại từ cuối TK 1 CN, tính
chất văn hoá giống với lớp văn hoá sớm của tầng văn hoá dưới) ở thành Trà Kiệu
(Quảng Nam )
và lớp văn hoá sớm nhất ở Thành Hồ (Phú Yên). Dấu tích kiến trúc gạch, ngói và
đầu ngói ống được tìm thấy ở tầng văn hoá muộn có niên đại từ thế kỷ 3
CN.
Như vậy
thành Cổ Luỹ (Sông Trà Khúc, Quảng Ngãi) cùng với Thành Lồi (Sông Hương- Huế);
Thành Trà Kiệu (Sông Thu Bồn, Quảng Nam), Thành Hồ (Sông Đà Rằng, Phú Yên), và
có thể còn một số địa điểm nữa ở miền Trung chưa được phát hiện hay được nghiên
cứu kỹ, tạo thành một chuỗi thành cổ Champa sớm - trung tâm của những dạng nhà
nước hay tiểu quốc Champa thiên niên kỷ I
CN.
1. Diện
mạo và tính chất của Cổ Luỹ - Phú Thọ từ kết quả nghiên cứu thực
địa
1.1.
Di
tích
Địa điểm
Cổ Lũy - Phú Thọ thuộc địa bàn xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi có tọa
độ 15o07'840'' vĩ độ bắc
và 108o53'116'' kinh độ đông. Những dấu tích của
phức họp di tích phân bố trên những núi đất cao nằm ở ngã ba sông Trà Khúc và
sông Phú Thọ phần đổ ra biển (Cửa Đại). Parmentier đã có một thông báo ngắn về
địa điểm này từ những năm đầu của thế kỷ XX. Theo đó phía trước núi Bàn Cờ đã
phát hiện 01 lanh tô trên có hình tượng Visnu (tương tự như lanh tô ở Mỹ Sơn
E1); 01 tượng bò Nandin. Parmentier cũng đã khảo sát phế tích thành Cổ Luỹ và
theo ông đây là tiền đồn của thành Châu Sa (Parmentier 1909: 234 – 235). Di tích
được bảo tàng Quảng Ngãi đào thám sát năm 1998. Theo người phụ trách di tích có
hai tầng văn hoá. Tầng trên chứa kiến trúc Champa niên đại từ thế kỷ III đến thế
kỷ VII Công nguyên. Tầng dưới chứa vết tích cư trú của cư dân văn hoá Sa Huỳnh
Sơ kỳ Sắt (Đoàn Ngọc Khôi 1998).
Di tích
được chúng tôi khai quật năm 2004 với tổng diện tích 50m2. Phần đất
phía trên ở nhiều chỗ của di tích đã bị xúc ủi năm 1998. Do vậy, nhiều vết tích
kiến trúc cổ đã bị phá huỷ và chỉ còn lại dấu vết móng, tường gạch. Nhìn chung
tầng văn hoá dày trung bình từ 1.40-1.50m và thuộc hai giai đoạn văn hoá sớm
muộn phát triển liên tục (Lâm Mỹ Dung và Đặng Hồng Sơn
2005).
1.2.
Cấu tạo địa
tầng.
Lớp
đất mặt dày trung bình từ 5-7cm
Tầng
văn hoá I (trên): Gồm các lớp đào từ 1-8, đất laterite lẫn đá felspad phong
hoá thành một loại bột màu trắng. Tầng này chứa vết tích của hai thời kỳ kiến
trúc sớm và muộn. Thời kỳ muộn gồm các
di tích ký hiệu F (Feature) từ 1 đến 5 và nằm trong các lớp đào từ 2 đến
5. Thời kỳ sớmgồm các di tích từ 9 đến 11. Những F
có số từ 6- 8 không phải là vết tích kiến trúc mà chỉ là những đám đất sẫm màu
hơn so với xung quanh. Niên đại của tầng này là từ thế kỷ III đến thế kỷ VII
Công nguyên. Hiện vật có những nét tương đồng với hiện vật của một phần lớp văn
hoá dưới và đầu đến giữa lớp văn hoá trên của Trà Kiệu
(Quảng Nam )[1].
Tầng
văn hoá II (dưới): Gồm các lớp đào từ 9 đến 14.
Giữa hai
tầng này có 01 lớp đất bị cháy, nhiều than tro, dưới là một lớp cát mỏng, lớp
này dày không đều và bắt đầu xuất lộ từ đáy lớp 7, mặt lớp 8 và nằm trọn trong
lớp 9. Tầng văn hoá II KHÔNG có vết tích kiến
trúc và bị những kiến trúc của tầng văn hóa I ăn xuống và
cắt phá.
Tất cả
những di tích thuộc thời kỳ kiến trúc sớm F 9 đến F 11 đều xuất lộ bên trên lớp
đất cháy ngăn cách tầng văn hoá trên và dưới. Những di tích này đã cắt phá lớp
đất cháy ở một số chỗ.
Niên đại
của tầng văn hoá II có thể xác định từ cuối thế kỷ I, đầu thế kỷ II đến thế kỷ
III Công nguyên, tương đương với nửa sau của lớp văn hoá dưới Trà Kiệu
(Quảng Nam ). Ở đây chưa
thấy vết tích của giai đoạn văn hoá tương đương với lớp văn hoá sớm nhất của Trà
Kiệu (lớp có ngói in dấu vải và bình hình trứng).
Do những
hoạt động sống của cư dân, trong mỗi tầng đều có những vết tích cắt phá và xáo
trộn cục bộ.
Sinh
thổ: Đất laterit do đá granit phong hoá lẫn bột trắng do felspat phong
hoá.
1.3. Cấu
trúc của một số di tích xuất lộ trong hố
1
Tầng văn
hoá trên CHỨA dấu tich kiến trúc gạch,
ngói
Vết
tích kiến trúc giai đoạn muộn: Bao gồm các dấu tích có ký hiệu từ F1 đến F5
xuất lộ sớm nhất từ lớp 5 và kéo dài đến lớp 2. Đây là những vết tích đống gạch,
ngói chưa xác định được công năng chính xác, trong đó có 01 nền gạch nhỏ (F2)
còn lại ba hàng gạch xếp dài hơn 1m theo hướng đông-tây, gạch không còn viên nào
nguyên, F2 còn một phần trong vách AD. F 5 ở góc D hố cho thấy dấu vết của một
dạng trụ cột được xử lý khá kỹ càng. Đầu ngói ống (đa phần là
mặt hề) CHỈ XUẤT LỘ trong những lớp muộn này và chủ yếu tập trung ở lớp
2. Dựa vào vị trí (độ sâu) phân bố của các di tích và hiện vật trong các
di tích, đặc biệt là đầu ngói mặt hề, chúng tôi cho rằng giai đoạn kiến trúc
muộn này có niên đại từ sau thế kỷ V.
Vết
tích kiến trúc giai đoạn sớm: Bao gồm các dấu tích có ký hiệu từ F 9 đến
F11, bắt đầu xuất lộ từ lớp 6 và ăn xuống tầng dưới, thậm chí có di tích như F 9
đào sâu vào sinh thổ từ 30 đến 40cm. Tất cả những di tích này đều cắt phá lớp
đất cháy giữa tầng văn hoá trên và dưới, tức là chúng xuất lộ sau thời gian hình
thành lớp đất cháy ngăn giữa hai tầng. Đây là vết tích của những kiến trúc thuộc
thời kỳ sớm của tầng trên, có niên đại từ thế kỷ IV trở
đi. Trong giai đoạn sớm này KHÔNG thấy có đầu ngói
ống.
Dựa trên
quan sát và nhận diện các dấu vết kiến trúc phát hiện được trong hố khai quật
cũng như những dấu vết gạch, cuội còn lại trên những khu đất cao của di tích hay
ở những vách hố xúc ủi đất năm 1998, chúng tôi cho rằng những kiến trúc ở đây
đều được xây bằng gạch theo kiểu chập khối đặc trưng của xây gạch Champa. Gạch,
ngói và những vật liệu xây dựng, chi tiết trang trí bằng đất nung khá đa dạng và
được sản xuất hàng loạt, một số được sản xuất với kỹ thuật cao, có hình dạng và
trang trí đã được chuẩn hoá. Việc xử lý móng của một số công trình rất công phu
chứng tỏ chúng thuộc dạng có kích thước khá lớn. Rất tiếc, một phần khá lớn của
di tích đã bị xe ủi xúc đi và diện tích đã khai quật quá nhỏ do vậy không xác
định được chức năng, tính chất và mối quan hệ của các dấu tích kiến trúc
này.
Tầng văn
hoá dưới KHÔNG chứa các vết tích kiến
trúc
Trong
tầng này có các di tích như cụm gốm, đám đất bị nung cháy hay bếp đào vào lòng
đất. Đây là những vết tích cư trú sớm giai đoạn từ cuối thế kỷ I Công nguyên.
Như vậy những kiến trúc muộn hơn và có thể cả thành lũy đã được xây dựng bên
trên tầng cư trú sớm này.
1.4.
Đặc điểm di
vật
Đất
nung
Nhóm
vật liệu xây dựng và chi tiết trang trí kến trúc: Gạch, ngói, đầu ngói ống,
chốt gốm, trang trí hình con tiện gốm... (của tầng văn hoá
trên)
Gạch khá
đa dạng về màu sắc, chất liệu, độ nung. Đa phần gạch có kích thước lớn
(44x18x13) cm, dày trung bình của gạch từ 8cm - 13cm. Gạch thường có lõi màu
xám, chi có một số ít gạch có màu sắc đồng nhất từ ngoài vào
trong.
Ngói tìm
thấy ở đây đều làm bằng khuôn nhưng khá khác nhau về chất liệu, màu sắc, trang
trí và độ nung. Ngói có chất lượng từ xấu đến tốt, trên lưng ngói có những kiểu
trang trí văn in ô vuông chuẩn, song cũng có kiểu trang trí khắc vạch tạo ô
vuông (kiểu bắt chước in ô vuông), phổ biến là văn chải từ mịn đến thô. Một số
ít ngói có màu xám và độ nung cao cứng gần như sành, trên lưng có in dấu ô vuông
hay văn chải sâu, sắc
cạnh.
Những
đầu ngói ống còn nguyên cũng như mảnh vỡ thu được từ đào thám sát năm 1998, khai
quật năm 2004 và khảo sát 2004 chỉ thuộc loại mặt người (mặt hề). Loại này đã
tìm thấy ở những hố khai quật Trà Kiệu, Thành Hồ (Lê Đình Phụng và Phạm Văn
Triệu 2004)và rất giống những đầu ngói mặt người ở Nanjing (Trung Hoa) (He Yunao
2003:37-39) có niên đại Lục Triều sớm (tức khoảng từ đầu thế kỷ IV trở về
sau).
Hiện
vật thuộc dòng gốm tinh mịn: Loại hình thuộc dòng gốm này có nhiều nét chung
với gốm tinh mịn ở các địa điểm Champa cùng thời như Thành Hồ (Phú Yên), Trà
Kiệu, Đồng Nà (Hội An, Quảng Nam) và chủ yếu là những đồ liên quan đến nghi lê,
sinh hoạt văn hoá cộng đồng như kendi, bình, vò, cốc chân cao, đĩa, mảnh nắp có
núm cầm... Đây là loại chất liệu sét lọc kỹ hơn, xương hầu như không thấy tạp
chất và với các màu chủ đạo như trắng xám, vàng, đỏ gạch. Một số gốm xương có
lõi xám. Gốm tinh mịn chủ yếu thuộc tầng văn hoá trên, ở tầng dưới đã thấy sự có
mặt của loại gốm này nhưng rất ít và chủ yếu là mảnh vụn.
Đáng lưu
ý là những nét tương đồng về màu sắc, chất liệu, kỹ thuật, độ nung giữa dòng gốm
này với các loại vật liệu xây dựng, trang trí kiến trúc. Điều đó đưa tới giả
thiết rằng chúng cùng đồng thời xuất hiện và được sản xuất để cùng đáp ứng những
nhu cầu tinh thần, tâm linh và xã hội của cư dân từ khoảng thế kỷ II, III Công
nguyên. Có lẽ kỹ thuật sản xuất gốm tinh mịn với các loại hình gốm kiến trúc,
xây dựng và nghi lễ đã được cư dân Champa thu nhận và học tập từ bên ngoài
(Trung Hoa Hán, miền Bắc Việt Nam và Ấn Độ).
Cũng cần lưu ý rằng loại gốm này có nhiều nét tương đồng với gốm tìm thấy ở Luy
Lâu và những địa điểm khác ở miền Bắc
Việt Nam giai
đoạn nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên. Gốm tinh mịn thường với màu đỏ nhạt
hay xám trắng, một số có lõi xám giữa xương xuất hiện ở Đông Nam Á từ khoảng đầu
Công nguyên. Nghiên cứu đồ gốm tìm thấy ở Angkor Borei M. Stark cũng nhận thấy
quá trình diễn biến tương tự trong đồ gốm trước và từ Công nguyên ở di tích này
nói riêng và những di tích cùng giai đoạn ở Căm-pu-chia nói chung (M.Stark
2000).
Hiện
vật thuộc dòng gốm thô đa phần là đồ đun nấu, đồ đựng, mảnh bếp
lò. Gốm thô được tìm thấy ở tất cả các lớp đào của hai tầng văn hoá nhưng tập
trung chủ yếu trong các lớp đào từ 14 đến 9, số lượng mảnh giảm dần từ dưới lên
trên. Tuy có những thay đổi nhất định trong loại hình nhưng gốm thô cho thấy
diễn biến liên tục và nối tiếp về văn hoá giữa các giai đoạn. Gốm thô rất đa
dạng về màu sắc và khá giống chất liệu gốm Sa Huỳnh và nếu chỉ nhìn một vài mảnh
thì rất khó phân biệt. Tuy vậy, gốm thô ở đây có độ nung tốt hơn và pha ít cát
hơn so với gốm mộ chum và cũng không hề thấy loại gốm “lòng rỗng” Sa Huỳnh điển
hình.Một số kiểu dáng và cách trang trí cho thấy có những nét tương đồng với gốm
lớp trên của địa điểm Suối Chình (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi). Những loại hình như
bát hay đĩa bằng gốm thô tìm thấy trong tầng văn hoá dưới rất giống với gốm tầng
văn hoá dưới Trà Kiệu (xem Yamagata M.,
1998. Hình 6, 17, 22) hay trong hố khai quật Thành Hồ (xem Lê Đình Phụng và Phạm
Văn Triệu 2004, ảnh trang 27. Phụ lục ảnh) Trong dòng gốm này, đáng chú ý là
loại gốm xương đen, áo nâu đỏ mỏng dễ bong, dày nhưng nhẹ phân bố ở cả hai tầng
văn hoá. Loại gốm như thế này cũng đã được phát hiện trong hố khai quật thành
Trà Kiệu năm 2003.
Ngoài
gốm thô và gốm tinh mịn bản địa hay bản địa sản xuất theo kỹ thuật từ bên ngoài,
trong hố đào còn tìm thấy một số mảnh gốm sành Hán văn in.
Chất
liệu khác
Trong
tầng văn hoá dưới còn có hạt chuỗi thuỷ tinh loại Indo Pacific, hạt chuỗi bằng
kim loại màu vàng, dọi se chỉ đất nung hình nón cụt, bàn mài...
1.5.
Diễn biến văn hoá ở Cổ Luỹ - Phú
Thọ
Trên nền
sinh thổ loại đất lẫn đá Granit phong hóa (mặt bằng cách bề mặt giông đất hiện
tại gần 2 m), có lẽ là thềm bậc cao của sông Trà Khúc, lớp cư dân của tầng văn
hóa I - sớm đã tụ cư sinh sống ở đây từ khoảng đầu thế kỷ II đến thế kỷ III
Công nguyên. Trong đồ gốm mà họ sử dụng hàng ngaỳ có lưu giữ một số truyền thống
của dòng gốm văn hóa Sa Huỳnh trước đó, một số đồ trang sức-tức các hạt chuỗi
bằng vàng, thủy tinh, và bằng chất liệu chưa xác định được cũng vẫn thấy tiếp
tục được sản xuất và sử dụng. Như vậy, cùng với ý tưởng và học thuyết, những kỹ
thuật mới trong chế tác đồ gốm, gạch và ngói cũng được đưa vào và đã được cư dân
tiếp thu rồi phát triển.
Cư dân
sinh sống liên tục ở đây, vào khoảng thế kỷ IV, khi ảnh hưởng từ bên ngoài gia
tăng, đặc biệt là ảnh hưởng của các tôn giáo từ Ấn Độ, họ đã xây dựng những công
trình kiến trúc tâm linh đầu tiên, những công trình thời kỳ sớm có qui mô lớn,
qui chỉnh, có những gia hạ của móng côt? dày gần một mét được xử lý kỹ càng ăn
xuống sinh thổ (điển hình là F 9). Lớp kiến trúc này cũng ăn vào tầng văn hóa
sớm và đều có niên đại muộn hơn so với lớp cháy ngăn cách giữa hai tầng. Lớp
kiến trúc này bị phá hủy và sau đó một thời gian, xuất hiện những kiến trúc của
thời kỳ muộn hơn mà vết tích chỉ cách bề mặt hiện nay từ 15cm-20cm. Lớp này bị
phá hủy nghiêm trọng và hầu như tại khu vực của nơi khai quật không thấy những
hiện vật có niên đại muộn hơn thế kỷ thứ VII. Lớp kiến trúc sớm xuất hiện vào
khoảng cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ IV, lớp kiến trúc muộn được xây dựng sau đó
chút ít, khoảng thế kỷ V. Đầu ngói ống trang trí mặt người gắn với kiến trúc
giai đoạn muộn cho thấy những tương đồng với những hiện vật tương tự ở Trà Kiệu,
Thành Hồ và ở Nam Kinh (Trung Quốc) có niên đại Lục Triều sớm giúp chúng ta định
niên đại những vết tích kiến trúc thời kỳ muộn hơn này.
Kết quả
khai quật Cổ Lũy lần này cho thấy không có đủ tài liệu để khẳng định sự tồn tại
của hai lớp văn hoá Sa Huỳnh – Champa ở Cổ Lũy- Phú Thọ. Đây là di tích có niên
đại từ sau Công nguyên và thuộc vào giai đoạn Chăm sớm, Champa[2].
Cổ Lũy
là phức hợp di tích cư trú thành lũy đa chức năng thuộc giai đoạn sớm của văn
minh Champa (hay giai đoạn hình thành những tiểu quốc sớm kiểu Lâm Ấp) và giai
đoạn muộn hơn (giai đoạn Champa). Trong đó, thuộc giai đoạn sớm (tầng văn hoá
dưới) là khu vực cư trú. Những kiến trúc xây gạch và lợp ngói (loại ngói muộn)
và tưòng thành bắt đầu từ tầng văn hoá hai (từ sau thế kỷ
IV).
Kết quả
khai quật Cổ Luỹ cho thấy những công trình kiến trúc tâm linh, công cộng và
thành của cư dân Champa thường được xây dựng trên cơ tầng cư trú sớm hơn. Hiện
tượng này cũng không phải hiếm gặp ở Đông Nam Á, ví dụ như cuộc khai quật ở
Angkor Borei cho thấy kiến trúc xây bằng gạch được xây dựng trên nền cư trú sớm
(Stark Miriam 1998: 189-195).
2. Cổ
Luỹ - Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ học Champa nửa đầu thiên niên kỷ I Công
nguyên.
2.1.
Bối cảnh Đông Nam Á
và miền Trung Việt Nam từ
thế kỷ I đến thế kỷ V Công
nguyên.
Giai
đoạn này ở Đông Nam Á chứng kiến những tiếp xúc văn hoá nhiều chiều dẫn đến
những thay đổi mang tính chất bước ngoặt trong cơ cấu và quan hệ xã hội. Thời kỳ
hình thành những cấu trúc xã hội có tính phức hợp cao, thời kỳ của sự mở rộng
quan hệ buôn bán nội và liên vùng dẫn đến những biến chuyển văn hoá sâu sắc ở
nhiều vùng của Đông Nam Á. Đặc biệt sự biến chuyển từ các dạng xã hội kiểu “lãnh
địa” hay những dạng xã hội với mức độ phức hợp thấp tương đương “lãnh địa” sang
những hình thức chính thể dạng nhà nước với mức độ phức hợp cao
hơn.
Nhân tố
tác động tới chọn lựa mô hình nhà nước sớm và nhà nước phát triển ở Đông Nam Á
được xem xét từ nhiều góc độ. Từ biến đổi bối cảnh (Stark M) đến tác động bên
ngoài (Coedes); Từ phát triển đô thị hoá và gia tăng hoạt động thương mại (Hall
K) tác động đến sự phát triển của hình thức tổ chức chính
trị mandala (Wolters) đến tìm hiểu vai trò của
thương mại quốc tế với mô hình tương tác giữa các chính thể đồng dạng (Glover)
hay nhấn mạnh tác động của xu thế xa hoa, cầu kỳ gia tăng trong tầng lớp trên
của xã hội phân tầng đối với quản lý và kiểm soát sản xuất nông nghiệp
(Higham).
Nhìn
chung, trong những nghiên cứu về nguyên nhân, động lực hình thành và biến đổi cơ
cấu xã hội dẫn đến sự hình thành và phát triển của các loại hình nhà nước ở khu
vực nổi lên hai nhóm ý kiến chính.
i. Nhóm
ý kiến thứ nhất nhấn mạnh đến những yếu tố bên ngoài như thương mại trao đổi
khoảng cách xa, tiếp xúc với Trung Hoa, Ấn Độ, truyền bá tư tưởng, tôn giáo
...
ii. Nhóm
ý kiến thứ hai tập trung vào những động lực bên trong như phát triển hay mức
giới hạn của dân số, nhu cầu kiểm soát và điều tiết công việc trị
thuỷ...
Vận dụng
những quan điểm này trong nghiên cứu lịch sử cổ trung đại miền Trung Việt Nam
chúng tôi nhận thấy rằng điểm căn bản trong những quan điểm “ngoại sinh hoá” là
nhấn mạnh vai trò của tầng lớp tinh hoa của các xã hội bản địa và chính họ đã
dung hoá những yếu tố (thuộc thượng tầng kiến trúc) của những nền văn minh Trung
Hoa hay Ấn Độ. Khoảng đầu Công nguyên, một số vùng ở Đông Nam Á đã đạt tới trình
độ phát triển cao cho phép những thủ lĩnh địa phương có thể chọn lựa, cho dù
phần nhiều không ý thức những hình thức của tôn giáo Ấn Độ, những loại thích hợp
hay phù hợp với những tín ngưỡng và thực tiễn địa phương (Casparis và Mabbett
1992: 282).
Có thể
thấy quá trình “ngoại sinh hoá” văn hoá Đông Nam Á từ đầu Công nguyên là quá
trình tích hợp có chọn lọc (chỉ của) những yếu tố ngoại sinh phù hợp và đáp ứng
nhu cầu tiến hoá của những xã hội bản địa. Quá trình này diễn ra không đồng đều
và mỗi vùng đã có sự chọn lựa riêng dẫn đến những tác động văn hoá đa dạng. Từ
diễn giải các nguồn tư liệu đã có, chúng tôi nhận ra rằng quá trình này (tiếp
nhận những tư tưởng vũ trụ luận Ấn Độ) ở miền Trung
Việt Nam khởi
đầu không sớm lắm và với tốc độ vừa phải. Ở giai đoạn đầu quá trình này đã vấp
phải những rào cản đáng kể từ những lực lượng ngoại sinh khác, đó là những yếu
tố văn hoá Hán Trung Hoa.
Một vấn
đề cần lưu ý là quá trình này phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố nội sinh tức sự
phát triển bên trong của Đông Nam Á, tức tính chủ động và tích cực trong việc
tiếp thu và dung hoá các yếu tố ngoại sinh của các cộng đồng cư dân bản địa. Vai
trò của quá trình được gọi là “Đông Nam Á hoá và Bản địa hoá” này dần được đánh
giá đúng mức hơn. Trong khi những nghiên cứu trước đây thường tập trung đề cao
các động lực ngoại sinh bất kể là kinh tế, chính trị hay tôn giáo... thì những
nghiên cứu gần đây nhấn mạnh tầm quan trọng của nền tảng bản địa trong quá trình
hình thành nhà nước ở các mức độ khác nhau. Chính nhu cầu phát triển nội tại
“tới ngưỡng” là nguyên nhân chính để các xã hội Đông Nam Á lựa chọn những mô
hình chính trị tương thích với điều kiện tự nhiên và xã hội của
mình.
Đối với
miền Trung Việt Nam , bên cạnh
những điều kiện và yếu tố giống với khu vực còn có những đặc điểm riêng, đó là
vai trò đáng kể của:
i. Điều
kiện tự nhiên và sinh thái (yếu tố biển, vị thế trung điểm của miền Trung
Việt Nam trên tuyến
hải thương quốc tế thời cổ trung đại...);
ii. Điều
kiện xã hội (bờ biển thuận lợi đưa đón những luồng di chuyển dân cư, đặc biệt là
của cư dân ngữ hệ Nam Đảo);
iii. Điều
kiện chính trị - văn hoá (tiếp xúc giao lưu với Bắc
Việt Nam ,
Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á...),
trong đó nổi bật là sự kiện thuộc Hán và chống Hán của các nhóm cư dân vùng đất
phía nam của quận Nhật Nam mà kết quả cuối cùng là cuộc khởi nghĩa của Khu Liên
với sự thành lập của nhà nước Lâm Ấp.
Những
điều kiện chung và riêng kể trên đã có tác động ở các mức độ khác nhau vào việc
chọn lựa mô hình chính trị phù hợp và hình thành nhà nước ở miền Trung
Việt Nam .
2.2.
Cổ Luỹ-Phú Thọ, Trà Kiệu, Thành Hồ[3]: Những trung tâm chính trị -
kinh tế giai đoạn Champa sớm,
Champa .
2.2.1.
Những phát hiện khảo cổ giai đoạn nửa đầu thiên niên kỷ I sau Công nguyên ở lưu
vực sông Thu
Bồn.
Lưu vực
sông Thu Bồn và đặc biệt là vùng hạ lưu là nơi tập trung với mật độ cao nhất
những di tích có niên đại từ thế kỷ 5 TCN đến cuối thiên niên kỷ 1
CN.
Những
địa điểm thuộc khung thời gian của bài nghiên cứu phân bố ở hai khu vực chính,
đó là khu vực Hội An và khu vực Trà Kiệu. Trong bảng 2 dưới đây, chúng tôi khái
lược những điạ điểm quan trọng nhất ở khu vực Trà Kiệu. Dựa vào nhiều nguồn tư
liệu thành văn, vật chất và tham khảo những nghiên cứu khác, chúng tôi đồng
thuận với ý kiến cho rằng địa bàn của Lâm Ấp chính là khu vực Trà Kiệu và vùng
xung quanh Trà Kiệu.
Tại Trà
Kiệu nhiều cuộc khai quật đã được tiến hành khá liên tục trong khoảng 10 năm. Đã
có nhiều bài công bố kết quả nghiên cứu Trà Kiệu cả ở lĩnh vực thực địa lẫn lý
thuyết. Tuy còn có một số tranh luận về niên đại, đặc biệt là niên đại khởi đầu,
song nhìn chung tất cả các nhà nghiên cứu đều đồng thuận phân lập hai hay ba
giai đoạn văn hoá chính diễn biến liên tục ở Trà Kiệu (xem những nghiên cứu của
Nguyễn Kim Dung; I. Glover, M.Yamagata, Nguyễn Chiều, Lâm Thị Mỹ
Dung...).
Theo
giới hạn thời gian chủ đề nghiên cứu, trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới
giai đoạn văn hoá văn hoá sớm ở Trà Kiệu (một phần trùng với giai đoạn nhà nước
Lâm Ấp, thế kỷ II-IV). Giai đoạn này được nhận biết ở những ở những lớp văn hoá
chuyển từ tầng I lên tầng II, chuyển từ ngói làm bằng khuôn lót vải sang ngói
làm theo lối dải cuộn, chuyển từ gốm thô kiểu sơ sử sang nhiều loại hình và kỹ
thuật trang trí kiểu gốm Hán, gạch xuất hiện, xuất hiện nhiều loại hình gốm mới
(bình vò trang trí văn in ô vuông, kendi...), một số loại gốm sớm không thấy nữa
như bình hình trứng, song một số loại gốm sinh hoạt dòng gốm thô vẫn được sản
xuất và tiếp tục sử dụng. Chưa có những kiến trúc theo kiểu xây gạch hay đền
tháp ở giai đoạn này. Giai đoạn Lâm Ấp này có liên hệ nguồn gốc với nền tảng sớm
hơn. Nền tảng này được phản ánh qua lớp văn hoá Gò Cấm (địa điểm sát ngay Trà
Kiệu), những lớp văn hoá sớm nhất của Trà Kiệu. Lâm Ấp chịu ảnh hưởng bên ngoài
mà đặc biệt là những ảnh hưởng từ phía Bắc. Những ảnh hưởng này tiếp tục từ giai
đoạn trước, song đến thế kỷ III đã có những thay đổi căn bản về cả cường độ lẫn
tính chất và quy mô.
Những
kết quả khai quật Trà Kiệu và những địa điểm khác ở Hội An chứng tỏ dòng chảy
văn hoá khá liên tục từ thế kỷ V trước Công nguyên đến cuối thiên niên kỷ I Công
nguyên và muộn hơn. Trong đó có những điểm mốc thời gian chuyển biến văn hoá
nhanh mạnh. Đó là chuyển biến từ Sa Huỳnh sang Champa sớm ở mốc từ cuối thế kỷ I
trước Công nguyên đến giữa thế kỷ I Công nguyên và thời điểm từ thế kỷ III đến
thế kỷ IV. Sự thay đổi về chất từ thế kỷ III trở đi tương ứng với sự hình thành
cơ cấu nhà nước và từ cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ IV bắt đầu xuất hiện những
kiến trúc bằng gạch và sử dụng ngói loại dải cuộn (ngói in dấu vải chỉ thấy ở
giai đoạn sớm thế kỷ I-II sau Công nguyên và liên quan đến kiến trúc gỗ). Mốc
tiếp theo đó là thế kỷ V-VI khi những tiểu vương quốc Champa sớm tích hợp vào
vương quốc Champa (cũng vẫn theo mô hình liên minh) và hướng mạnh mẽ theo quỹ
đạo văn minh Ấn Độ.
2.2.2.
Thành
Hồ
Di tích
toà thành Chăm, nay thuộc địa phận thôn Định Thọ, xã Hoà Định Đông, huyện Phú
Hoà, tỉnh Phú Yên. Địa điểm cách thị xã Tuy Hoà 12km, nằm bên bờ Bắc (tả ngạn)
của sông Ba (Đà Rằng) và cách cửa sông Đà Rằng 15km về hướng Đông[4].
Vết tích
cư trú sớm ở Thành
Hồ
Tháng
7/2001, Bộ môn Khảo cổ học, Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG Hà Nội và Bảo tàng Phú
Yên đã khảo sát tổng thể khu vực thành Hồ. Phía dưới Cột Cờ, trong khu vực nhà
ông Nguyễn Sáu (ông Sáu Ất), thôn Định Thọ, phía bờ thành Tây, trên một khoảng
đất rộng tương đối bằng phẳng, đoàn đã phát hiện một số mảnh gốm Chăm cổ, gốm
thô, mềm và bở trong tầng đất sẫm màu. Qua quan sát diện phân bố của hiện vât,
chất liệu và loại hình gốm chúng tôi cho rằng đây là vết tích cư trú sớm của
Thành Hồ, có thể tương đương với lớp dưới Trà Kiệu và lớp dưới Cổ Luỹ - Phú Thọ.
Trên toàn bộ những di tích còn sót lại của luỹ thành còn tìm thấy nhiều gạch
nguyên và vỡ, ngói, đầu ngói ống hình mặt hề, loại đầu ngói đã được phát hiện
nhiều ở lớp trên Trà Kiệu và lớp trên Cổ Luỹ-Phú Thọ.Tại địa điểm có tên gọi Thổ
Đạo hay Hưng Đạo, bờ thành Đông, đoàn đã tìm thấy nhiều hiện vật gốm, song chưa
phát hiện thấy tầng văn hoá. Nhóm gốm có nhiều loại hình như bình, vòi Kendi, cà
ràng… một số bình vò có thân trang trí văn in ô vuông, sóng nước, hồi văn, xương
cá… những hiện vật gốm này khá giống các loại hình gốm Chămpa ở tầng văn hoá
trên của di chỉ Trà Kiệu, Cẩm Phô (Hộ An, Quảng Nam) và một số di tích Chămpa
khác ở Quảng Nam, Quảng Ngãi… Trong sưu tập này còn có mảnh Kendi bán sứ, mảnh
vò bán sứ Lục Triều… Nhìn chung bộ sưu tập này nằm trong khoảng thời gian từ thế
kỷ III đến thế kỷ V CN.
Kết quả
khai quật năm 2003 của Viện khảo cổ
học
Hai hố
khai quật đã được mở ra. Hố H1 nằm về phía Tây, khu đất cao của thành; hố H2 nằm
gần về phía Đông, cả hai hố đều nằm trong khu vực dân cư và thuộc vùng đất được
coi là thành Nội (Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004).
Các vết
tích kiến trúc phát hiện được đều được xây bằng gạch theo kiểu xếp chập khối,
không có chất kết dính. Vật liệu xây dựng là gạch, thường có màu đỏ, không trang
trí hoa văn, đáng chú ý là sự tận dụng và tái sử dụng gạch để xây dựng. Bình đồ
của các công trình này đều có hình tứ giác. Theo những người khai quật niên đại
của những công trình này thuộc thế kỷ V đến VII SCN.
Di vật:
Nhóm di vật liên quan đến kiến trúc như gạch, ngói âm dương, đầu ngói ống mặt
hề, sư tử, kala, hoa sen, chi tiết trang trí kiến trúc con tiện gốm, đinh/chốt
gốm... có nhiều nét tương đồng với hiện vật tìm thấy ở Trà Kiệu, Đồng Dương
(Quảng Nam), Cổ Luỹ - Phú Thọ... và niên đại của nhóm hiện vật này thuộc thế kỷ
V đến thế kỷ VII.
Đáng chú
ý là nhóm đồ gốm, gốm tìm thấy tại đây theo báo cáo khai quật cũng thuộc về hai
loại chất liệu. Loại thô, pha cát, nung không cao và hình dáng kế thừa từ đồ gốm
văn hoá Sa Huỳnh và loại gốm có xương mỏng mịn, độ nung cao, hoa văn trang trí
(in ô vuông) được xem là ảnh hưởng từ trang trí đồ gốm Hán. Trong hố khai quật
cũng tìm thấy một số mảnh gốm Hán in ô vuông xương gốm mỏng mịn, độ nung cao,
hoa văn in ô vuông sắc sảo, giống với gốm văn in Đông Hán ở Gò Cấm, Trà Kiệu,
Suối Chình và Cổ Luỹ-Phú Thọ.
Loại
hình gốm trong các lớp đào ở cả hai hố khai quật gồm bát, đĩa đáy bằng, cốc chân
cao đặc, nắp vung, cà ràng, kendi... là những loại hình gốm phổ biến từ giai
đoạn sau Công nguyên. Cà ràng giống như loại đã tìm được ở Trà Kiệu, Cổ Luỹ-Phú
Thọ. Trên mép chân kiềng của cà ràng Thành Hồ được trang trí văn in ô
vuông.
Những mô
tả đồ gốm và bản vẽ hiện vật gốm trong báo cáo khai quật rất tiếc không ghi lớp
và chỉ có một số có ghi hố khai quật (Nguyễn Đính và Phạm Văn Triệu 2004), do
vậy rất khó để theo dõi diến biến sớm muộn của đồ gốm từ lớp 1 đến lớp 4 trong
cả hai hố. Đồ gốm tập trung trong hai lớp 2 và 3 và có lẽ những công trình kiến
trúc đã làm xáo trộn các lớp văn hoá ở đây. Loại hình, chất liệu gốm và hiện vật
đất nung khác ở đây cho thấy nhóm hiện vật gốm nằm trong khung niên đại từ thế
kỷ II đến VII Công nguyên.
Như
vậy, diễn biến gốm ở Thành Hồ cho thấy gốm ở đây nằm trong dòng chảy chung của
diễn biến đồ gốm ở miền Trung Việt Nam từ
đầu thiên niên kỷ I Công nguyên.
Kết quả
của những nghiên cứu và khai quật cho thấy, thành Hồ được xây dựng sớm trong
lịch sử Chămpa, có quy mô xây dựng lớn, thành là một công trình kiến trúc hoàn
thiện, một trung tâm lớn của cư dõn Champa trong thời kỳ đầu lịch sử và có thể
là trung tâm chính trị, kinh tế của một vùng-tiểu quốc. Trung tâm này được xây
dựng và phát triển rực rỡ không thua kém bất cứ một trung tâm nào của người
Chăm, tương đương với kinh đô Trà Kiệu
(Quảng Nam ) (Lê Đình
Phụng, Phạm Văn Triệu 2004).
Kết quả
khảo sát thực địa và nghiên cứu so sánh loại hình di vật của thành Hồ với Trà
Kiệu, Gò Cấm, Cổ Luỹ-Phú Thọ... cho thấy niên đại thế kỷ V-VII Công nguyên mà
các nhà nghiên cứu đưa ra là niên đại của bản thân toà thành và những công
trình kiến trúc của thành. Thành Hồ được xây dựng trên khu vực cư trú sớm hơn,
có thể khu cư trú này tương đương với lớp dưới của Trà Kiệu và Cổ Luỹ-Phú Thọ,
có niên đại từ khoảng thế kỷ II CN. Sự có mặt của đầu ngói ống hình mặt hề có
niên đại Lục Triều sớm (thế kỷ IV) tại Thành Hồ giống như những đầu ngói ống
tương tự ở Trà Kiệu và Cổ Luỹ-Phú Thọ giúp chúng tôi đưa ra nhận định chung về
niên đại xuất hiện của những di tích kiến trúc sử dụng đầu ngói ống loại này
trong văn hoá Champa là từ thế kỷ thứ IV.
Sự đồng
nhất trong tiêu chuẩn loại hình và kỹ thuật chế tác của những vật liệu xây dựng,
kiến trúc như đầu ngói ống, gạch, ngói giai đoạn muộn (loại làm bằng khuôn, mặt
bụng không có dấu vải, lưng có dấu văn chải, văn thừng, in ô vuông), gốm hình
con tiện, chốt/đinh gốm của thời kỳ này (từ sau thế kỷ IV) cho thấy có sự thống
nhất tương đối và mức độ đòng đều trong phát triển giữa các trung tâm kinh tế -
chính trị của của các chính thể nhà nước sớm và nhà nước phát triển hình thành
và lớn mạnh từ sau thế kỷ I, II CN.
2.3.
Chuyển biến cơ cấu xã hội Champa sớm - Champa từ dữ liệu khảo
cổ
Quá
trình chuyển biến Sa Huỳnh - Lâm Ấp - Champa có liên quan mật thiết với những
chuyển động và biến động chính trị- kinh tế của khu vực. Áp dụng những lý thuyết
- mô hình dạng tiền nhà nước - nhà nước sớm khác nhau trên thế giới, các học giả
nghiên cứu về Đông Nam Á đã thử đưa ra nhiều mô hình cho khu vực này từ cấu trúc
lãnh địa đến sự hình thành các mandala và liên
minh của các mandala. Tuy còn khá nhiều ý kiến tranh luận về
nội hàm của các khái niệm và sử dụng khái niệm phổ quát chung cho toàn thế giới
về tiến hoá xã hội ở Đông Nam Á, song đa số các nghiên cứu về sự hình thành các
chính thể Đông Nam Á ít nhiều đều áp dụng những thuật ngữ như lãnh địa, nhà nước
sớm, nhà nước khi đề cập tới các tầng bậc thấp cao của tính phức hợp xã hội.
Những đặc thù riêng của Đông Nam Á như tính không đồng nhất trong phát triển,
mật độ dân số không đồng đều, số dân ít, sự cắt rời lãnh thổ và đa tộc người đã
được nhiều học giả quan tâm đúng mức khi nghiên cứu quá trình chuyển biến xã hội
dẫn tới sự hình thành của nhà nước.
Quá
trình chuyển biến từ những lãnh địa sang nhà
nước sớm dạng mandala sang vương quốc Champa
diễn ra trong vài thế kỷ từ thế kỷ II đến thế kỷ VI Công nguyên. Mặc dù bản chất
của giai đoạn quá độ này chưa thể nhận biết một cách rõ ràng nhưng thư tịch và
tài liệu khảo cổ mà chúng ta có cho đến hiện nay đều chứng tỏ đây là quá trình
phát triển xã hội nội tại trong bối cảnh chung của khu vực và chịu tác động của
một số yếu tố từ bên ngoài. Đây cũng là quá trình của những mối quan hệ liên
minh, thu phục và chiếm lấn lẫn nhau giữa các lực lượng nội tại nhằm mục đích
một mặt đối trọng với những thế lực bên ngoài và mặt khác thu nhận (bằng những
cách thức cưỡng bức và tự nguyện) những mô hình tổ chức chính trị từ nơi khác
(ban đầu là của Trung Hoa và muộn hơn là của Ấn Độ). Mút cuối của quá trình này
là sự nổi lên của vương quốc Champa trên chính trường Đông Nam Á
.
Đây là
thời kỳ có rất nhiều những thay đổi trong cả hai lĩnh vực, hạ tầng cơ sở và
thượng tầng kiến trúc. Đây cũng là thời kỳ mà các cộng đồng cư dân ở Đông Nam Á
tăng cường các mối tiếp xúc, quan hệ với nhau và với thế giới bên ngoài. Cả Đông
Nam Á bằng nhiều cách khác nhau dần tiếp hợp với mạng lưới hải thương quốc tế,
chịu tác động của chính sách bành trướng của nhà Hán (Trung Hoa) và chiến lược
ngoại giao qua buôn bán và truyền bá tôn giáo của các quốc gia cổ đại Ấn Độ.
Miền Trung Việt Nam với vị thế trung lộ và đường bờ biển dài không thể nằm ngoài
vùng tác động của những yếu tố này. Vị thế cầu nối bắc nam và cả đông tây ở bán
đảo Đông Dương đã làm cho vùng đất này chịu tác động của những luồng văn hoá,
sóng dịch chuyển dân cư không chỉ một lần và không chỉ của một văn hoá đơn
lẻ.
Nếu xét
từ phương diện lịch sử, có vẻ như có một sự thay đổi khá đột ngột trong cấu
trúc chính trị của những xã hội giữa thời tiền, sơ sử và lịch sử, với sự hình
thành của những chính thể dạng nhà nước. Tuy vậy, từ góc độ khảo cổ, chúng ta có
thể thấy có một sự tiếp nối đáng kể giữa hai thời kỳ này. Nói một cách khác sự
phát triển kinh tế - xã hội thời sơ sử là cơ sở nền tảng cho sự hình thành nhà
nước ở giai đoạn muộn hơn. Sự phát triển của những thiết chế chính trị phân
tầng, sự chuyên hoá về sản xuất kinh tế và sự tiến hoá của xã hội dựa trên cơ sở
giai cấp trong khoảng một thiên niên kỷ đã góp phần đáng kể vào việc nảy sinh
những nhà nước sớm ở nhiều vùng của Đông Nam Á (Lâm Thị Mỹ Dung 2008). Mặc dù
bản chất và thời gian của những thay đổi này ở Đông Nam Á không đồng nhất, nhưng
nhìn chung cho đến giữa thiên niên kỷ I Công nguyên ở Đông Nam Á lục địa nhiều
chính thể phức hợp đã được hình thành.
Dựa trên
sự phân bố của các địa điểm khảo cổ học, đặc biệt là dọc theo bờ biển và theo
lưu vực các sông lớn, vào khoảng thế kỷ V trước Công nguyên đến thế kỷ I Công
nguyên, có thể thấy rằng duyên hải và các lưu vực sông và cả sâu ở trong nội địa
ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam đã hình thành và phát triển một số khu vực cư
trú-mộ táng lớn như những phức hợp chính trị được tổ chức tập trung theo vùng
với hệ thống phân tầng khá phát triển, những phức hợp này có thể được gọi bằng
khái niệm lãnh địa
Từ thế
kỷ I đến thế kỷ II Công nguyên - thời kỳ mà Bắc và một phần Nam Trung bộ thuộc
quận Nhật Nam . Đây là thời
gian chứng kiến những chuyển biến từ lãnh địa sang cơ cấu xã hội dạng nhà nước
sớm. Chuyển tiếp từ lãnh địa sang mandala hay negara theo cách dùng khái niệm
mang tính đặc thù khu vực của một số nhà nghiên cứu. Bên cạnh những điều kiện
nội sinh như nền tảng kinh tế phát triển kéo theo những chuyển biến về chất
trong lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất dẫn đến chuyển biến trong cơ
cấu xã hội thì chúng ta cũng không thể không lưu ý tới bối cảnh lịch sử lúc bấy
giờ. Đó là sự suy yếu của nhà Đông Hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho một số
cộng đồng cư dân nổi dậy khởi nghĩa lập ra chính quyền của
mình.
Giai
đoạn tương đương Lâm Ấp cuối thế kỷ II đến đầu thế kỷ V là thời kỳ của mandala
sớm. Sự kiện quan trọng được sử chép đó là Phạm Văn cố vấn cho Phạm Dật có nhiều
yếu tố liên quan đến văn hoá Hán (người Hán từ Giang Châu hay người Lâm Ấp nhưng
sống ở Trung Quốc và hấp thu văn hoá Hán theo như Coedes). Sử cũ còn ghi “Đời
Thái Khang (280-290), vua Lâm Ấp là Phạm Dật sang Trung Quốc tiến cống, Dật có
người nô lệ là Văn đi theo, rồi sau đó thường qua lại buôn bán, thấy được chế độ
văn minh của thượng quốc, khi trở về Lâm Ấp bèn dạy cho Dật xây cung thất, thành
quách và chế khí giới” (Dẫn theo Đào Duy Anh 1994: 69). Tư liệu khảo cổ học từ
những địa điểm Champa sớm có niên đại từ thế kỷ I-III Công nguyên như Trà Kiệu,
Cổ Luỹ-Phú Thọ... cho thấy sự tham góp của những yếu tố văn hoá Hán trong làm
gốm, sản xuất vật liệu xây dựng và xây đắp thành...
Từ
khoảng cuối thế kỷ IV, những xã hội này dần tiếp thu mạnh mẽ hơn những yếu tố
văn hoá Ấn Độ và về phương diện chính trị đây cũng là thời gian chuyển biến sang
mô hình Nam (Ấn Độ) mandala thực sự, quá trình chuyển hướng chính trị và tôn
giáo này đã dẫn đến sự nổi lên của Champa trên chính trường Đông Nam Á vào thế
kỷ VI. Tiếp xúc và trao đổi với văn hoá Ấn Độ tăng mạnh được ảnh xạ qua sự có
mặt của hàng loạt những bi ký chữ Phạn, những điêu khắc đồng đá Phật giáo,
Blamon giáo ở Trung và Nam Trung bộ. Ngoài tư liệu khảo cổ, sử liệu cổ cũng ghi
nhận từ sau Khu Liên (tức thế kỷ III trở đi) sứ Lâm Ấp đã dùng “ chữ viết Hồ-
Ấn Độ” trong văn thư. Đây là quá trình chuyển biến tạo nên những thay đổi lớn
tuy không có những xung đột mạnh mẽ hay thay đổi đột ngột và cũng không hẳn là
sự thay thế hoàn toàn mô hình cũ bằng mô hình mới. Đây cũng là hiện tượng chung
cho Đông Nam Á và thế kỷ V chứng kiến những thay đổi về thể chế có tính chất
mạnh mẽ ở Đông Nam Á (Stark M 1998: 86).
Do sự
phát triển không đồng đều và cũng do sự khác biệt trong đầu mối và cường độ tiếp
xúc với thế giới bên ngoài nên sự hình thành nhà nước sớm đã diễn ra không đồng
thời. Ở những vùng châu thổ sông lớn và duyên hải của Đông Nam Á lục địa những
nhà nước được hình thành sớm hơn và phát triển mạnh hơn so với những vùng khác
của khu vực.
Cho tới
thời điểm hiện nay, đã có thể xác định ba trung tâm hành chính - chính trị -
kinh tế phân bố ở các lưu vực sông lớn ở Trung và Nam Trung bộ
Việt Nam . Đó là Trà
Kiệu, Cổ Luỹ - Phú Thọ và Thành Hồ. Trong đó Trà Kiệu được xây dựng trên một cơ
tầng văn hoá sớm có niên đại cận kề với niên đại kết thúc của văn hoá Sa Huỳnh.
Tầng văn hoá sớm nhất ở Cổ Luỹ - Phú Thọ và Thành Hồ tuy có niên đại muộn hơn
chút ít so với Trà Kiệu nhưng cũng cho thấy tất cả những trung tâm này đều được
phát triển và mở rộng từ cơ tầng văn hoá bản địa có niên đại khởi đầu muộn nhất
là từ nửa sau thế kỷ I Công nguyên. Những tương đồng trong diễn biến liên tục từ
tầng văn hoá sớm đến tầng văn hoá muộn (cả di vật và di tích) ở ba trung tâm này
(và ở nhiều địa điểm Champa sớm khác) minh chứng cho nguồn gốc bản địa và mức độ
phát triển tương đương trong các lĩnh vực kinh tế-chính trị-văn hoá của các cộng
đồng dân cư ở những vùng lưu vực sông lớn ở Trung và Nam Trung Bộ Việt Nam trong
suốt 10 thế kỷ đầu Công nguyên và muộn hơn.
Những di tích và di vật khảo cổ cùng những ghi chép trong thư tịch cổ cũng cho
thấy vai trò quan trọng của tiếp xúc, trao đổi và tiếp biến văn hoá giữa các
trung tâm này và giữa chúng với khu vực Đông Nam Á, Nam Á và Đông Á tạo nên
những chuyển biến kinh tế - chính trị - xã hội của vương quốc Champa ở một số
mốc thời gian quan trọng.
Chú
thích
Những
minh hoạ không ghi nguồn trong bài do Đặng Hồng Sơn, Nguyễn Hồng Kiên và các tác
giả bài viết thực hiện.
Tài liệu
dẫn
Đào Duy
Anh 1994. Đất nước Việt Nam qua các đời. Nxb. Thuận
Hoá.
Đoàn
khảo sát Phú Yên, 2002, Kết quả khảo sát khảo cổ học tỉnh Phú Yên, tháng 7 năm
2001, NPHMVKCH năm 2002,
792-797.
Đoàn
khảo sát Phú Yên, 2002, Kết quả khảo sát thành Hồ tháng 7 năm 2001, NPHMVKCH năm
2002,
798-800
Parmentier
H., 1909. Inventaire Describtif des Monuments Cams de l’
Annam. Volume I.
Paris.
Đoàn
Ngọc Khôi 1998. Báo cáo đào thám sát khảo cổ học địa điểm núi
Phú Thọ - Cổ Luỹ. Tư liệu khai quật của Bảo tàng Quảng Ngãi. Quảng
Ngãi.
Lâm Mỹ
Dung, Đặng Hồng Sơn 2005. Báo cáo khai quật khảo cổ học di tích
Cổ Luỹ - Phú Thọ (Quảng Ngãi). Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường ĐHKHXH
& NV, Hà
Nội.
Lâm Thị
Mỹ Dung 2008. Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang lịch sử sớm ở miền
Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam . Báo
cáo Đề tài khoa học trọng điểm QGTĐ.06.07. Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường
ĐHKHXH & NV, Hà Nội.
Stark
Miriam 1998. The Transition to History in the Mekong Delta : A View
from Cambodia . International
Journal of Historical Archaeology, Vol.2, No. 3.
Stark
Miriam 2000. Pre - Angkor Earthenware Ceramics
from Cambodia ’s
Mekong Delta. Udaya. Journal of Khmer
Studies 1: 69-90.
He Yunao
2003 Tile Ends with Human and Animal Faces of the Six Dynasties Unearthed
in Nanjing . Cultural
Relics No.7. (tiếng Trung).
Lê Đình
Phụng và Phạm Văn Triệu 2004. Báo cáo khai quật khảo cổ học di
tích Thành Hồ (Phú Hoà, Phú Yên). Tư liệu Viện Khảo cổ học. Hà
Nội.
Nguyễn
Đính và Phạm Văn Triệu 2004. Phụ lục báo cáo khai quật khảo cổ
học di tích Thành Hồ (Phú Hoà, Phú Yên). Tư liệu Viện Khảo cổ
học. Hà Nội.
Cổ
LUỹ–Phú Thọ (Quảng Ngãi) in the context of Champa archaeology
in the
early half of the first Christian
millennium
Lâm Thi Mỹ Dung, Nguyễn Anh
Thư
The
paper consists of two parts. One introduces the excavated results of Cổ Luỹ -
Phú Thọ site and the other highlights some practical and theoretical issues of
early state emergence and transition to history
in Central Vietnam .
These issues have been resolved by using the comparative studies of three
archaeological complexes of Trà Kiệu, Cổ Luỹ - Phú Thọ và Thành
Hồ.
Cổ Luỹ -
Phú Thọ site is located at Nghĩa Phú village, Tư Nghĩa district and Quảng Ngãi
province. This site was first reported by H. Parmentier. Then, the site was
test-excavated in 1998 and officially excavated in 2004. The archaeological
vestiges are distributed on the high areas in the T – junction of Trà Khúc and
Phú Thọ rivers. This is multifunctional archaeological site dated from the end
of AD 1. The early habitation layer was from the end of AD 1 to the end of AD 3.
The brick and tile architectural features appeared in the upper cultural layer
and belonged to two phases. The early architectural phase dated to the AD 4 and
the late one dated to the AD 5. The tile - ends decorated with the human face
found in the late architectural phase were similar to those found in Nanjing
(China), Tam Thọ kiln and Luy Lâu citadel (Northern Vietnam), Trà Kiệu (Quảng
Nam province) and Thành Hồ (Phú Yên
province).
The
results obtained from Cổ Luỹ - Phú Thọ site have been interpreted by using
cross-cultultural research methods, which led us to the recognition of three
early Cham centers located on three main river deltas: Trà Kiệu was in Thu Bồn
river delta, Cổ Luỹ - Phú Thọ was in Trà Khúc river delta and Thành Hồ - Đà Rằng
was in Đà Rằng river delta. Of these, Trà Kiệu was the earliest, established on
the habitation layer from the beginning of AD 1. The earliest habitation layers
of Cổ Luỹ- Phú Thọ and Thành Hồ were slightly later than Trà Kiệu. However, both
Cổ Luỹ- Phú Thọ and Thành Hồ sites came into existence and developed in the
local cultural
base.
The similarities in the continuous process from the early to the late cultural
layers in these three centres (and other Cham sites) demonstrate the indigenous
origin and the equivalent development in the economic, political and cultural
aspects of the people communities settled in the main river deltas
in Central
Vietnam during the 10 centuries
AD.
[1] Trà Kiệu, huyện Duy
Xuyên, tỉnh Quảng Nam . Đây là phức
hợp di tích cư trú, đền tháp, thành luỹ của giai đoạn từ TK 1 đến thế kỷ 9,10.
Lớp văn hoá sớm nhất ở đây có niên đại khoảng nửa đầu TK 1
CN.
[2] Bên cạnh địa điểm này
ở Quảng Ngãi còn có những địa điểm Champa từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn,
có thể xem những báo cáo khảo sát và khai quật về đảo Lý Sơn, các huyện Bình
Sơn, Đức Phổ… của Viện Khảo cổ học.
[3] Theo chúng tôi, miền
Trung giai đoạn này không phải chỉ có ba trung tâm như đề cập ở đây. Như ở bắc
Đèo Hải Vân, TP. Huế có nhiều khả năng có một trung tâm nữa với đại diện Thành
Lồi, ở Bình Định với những thành như thành Tra, cảng Thi Nại… tuy nhiên do chưa
có những khảo sát khảo cổ học chi tiết, chúng tôi tạm chỉ báo cáo về những địa
bàn đã được khảo sát khảo cổ học những năm gần đây, mặc dù mức độ khảo sát ở
từng trung tâm là khác nhau.
[4] Bên cạnh toà thành
này, ở Phú Yên có khá nhiều di tích Champa sớm và Champa phát triển khác (Đoàn
khảo sát Phú Yên, 2002, 792-797)
Minh
hoạ
Posted in: Khao co hoc Viet Nam/Vietnamese Archaeology


23:18
danillewoods7537368