I. Quá
trình phát hiện và nghiên cứu
I.1. Phức hợp di tích Hòa
Diêm(ấp Hòa Diêm, xã Cam Thịnh Đông, thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa),
tọa độ 11053’15”N,
1090 06’34 E.
Hoà Diêm là tên gọi của khu phức
hợp di tích bao gồm nhiều dấu tích cư trú và di tồn mộ táng phân bố trên những
gò, cồn lớn nhỏ hiện đã bị biến dạng nhiều do hoạt động nuôi trồng thủy sản và
làm muối của bà con địa phương. Trong phức hợp này, vết tích của những làng cư
trú phân bố trên các gò Đình, gò Miếu, gò Duối, vết tích của khu chôn người chết
tập trung chủ yếu trên gò Đình.
Cho tới nay những hố khai quật
và thám sát được mở chủ yếu ở gò Đình. Sau khi được phát hiện vào năm 1998 địa
điểm này đã trải qua nhiều lần thám sát và khai quật vào các năm 1999, 2002,
2007, 2009 và 2010và
mới đây nhất là khai quật của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tháng 8.2011
Dấu tích của quá trình cư trú
phân bố trên một diện tích khá rộng và được nhận biết chủ yếu qua địa tầng của
các hố đào có nơi còn giữ lại vỏ nhuyễn thể, có nơi không có nhuyễn thể, dấu
tích của những khu chôn cất người chết được xem là muộn hơn so với cư trú. Trong
lần khai quật năm 2002 của Viện Khảo cổ học đã xác định tập hợp mộ táng có bốn
loại hình bao gồm: chôn lần đầu, hỏa táng, cải táng và mộ đất.
Đợt khai quật 72m2tại
gò Đình năm 2007 cho
thấy mộ táng ở đây vừa có một vài nét tương đồng với táng thức, táng tục và đồ
tùy táng của truyền thống mộ chum văn hóa Sa Huỳnh vừa mang những nét riêng
khác.
Đợt khai quật tháng 8 năm 2011
của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cho kết quả có hai giai đoạn mộ táng sớm muộn khác
nhau.
I.2. Gò
Duối
Gò Duối là tên gọi một gò đất
cát cao khoảng 3-4 m so với mặt ruộng muối xung quanh, có toạ độ địa
lý 11053’18.09’’N
và 109006’39.39’’E và nằm
cách gò Đình Hòa Diêm khoảng 500m về phía Đông Bắc.
Vết tích cư trú tại gò này đã
được Đoàn khai quật Việt Nhật do TS. Bùi Chí Hoàng phụ trách phát hiện tháng 2
năm 2007 và đoàn cũng đã mở 01 hố thám sát nhỏ (hố thám sát 3). Tuy vậy kết quả
khai quật của hố thám 3 này cũng như kết quả xử lý hiện vật của tầng cư trú gò
Đình Hoà Diêm –khai quật đầu năm 2007 của Đoàn chưa được công bố chi tiết.
Như vậy, khi nghiên cứu phức hợp
di tích này, bên cạnh việc nhận diện táng thức và táng tục trong bối cảnh văn
hóa rộng hơn, một vấn đề không kém phần quan trọng, đó là tìm hiểu mối quan hệ
lịch đại và đồng đại giữa mộ táng và cư trú trong phạm vi phức hợp.
II. Kết
quả khai quật Gò Duối năm 2007
Hố 1
(07.HD (GD).H1) được mở ở sườn tây
bắc của gò, hố có diện tích 3 x 5 = 15m2, hướng bắc lệch đông
200, cách hố thám sát tháng 2 năm 2007 của TS. Bùi Chí Hoàng khoảng
70cm.
Hố 2
(07.HD (GD).H2) được mở ở sườn
đông nam của gò, diện tích 3 x 4 m = 12m2, hướng bắc lệch đông
200
Địa
tầng
Lớp đất
canh tác dày khoảng 0.15m – 0.20m, đất cát xám rất mịn, trong lớp
này có một số mảnh gốm thô vụn, gốm tinh mịn màu đỏ và mảnh vỡ vỏ nhuyễn thể
nhiều loại.
Tầng văn
hoá dày khoảng 0.70m- 0.80m, tầng văn hoá xuất lộ từ khoảng
cuối lớp 2 và kết thúc vào đầu lớp 7 (mỗi lớp đào dày 0.10m), một số di tích như
bếp, cụm gốm còn ăn vào sinh thổ khoảng 0.10m đến 0.20m, đất trong tầng có màu
xám đen, cứng, nén chặt và chứa nhiều vỏ nhuyễn thể, đá mảnh vụn. Tầng văn hoá
được nhận biết qua sự hiện diện của những tích tụ vỏ sò, xương động vật, than
tro và gốm vỡ tập trung thành từng đám, tầng văn hoá phân bố không đều, dày hơn
và tập trung hơn ở phần đỉnh gò, hiện trạng cho thấy, có nhiều khả năng tầng văn
hoá vốn dày hơn nhưng đã bị phá huỷ một phần phía trên.
Đây là di chỉ có một tầng văn
hoá, ở những lớp trên (từ lớp mặt đến lớp 3) có một số mảnh gốm tinh mịn, màu
đỏ, vàng nhạt, một số có trang trí văn in ô vuông, ngoài ra còn có một số mảnh
bán sứ men trấu xanh xám, những mảnh gốm này có niên đại một vài thế kỷ sau Công
nguyên, tương đương giai đoạn Đông Hán - Lục Triều, tuy vậy, hiện vật của giai
đoạn này trong hố khai quật không nhiều và không tạo thành lớp văn hoá riêng
biệt.
Sinh
thổ, cát màu
vàng sáng, hạt to rời.
Di tích
xuất lộ
Mộ táng: 01 mộ
đất được phát hiện trong lớp 2 và 3 của hố 1 (ký hiệu 07.HD.GD.H1.M1). Mộ chôn
nằm ngửa, hai tay duỗi thẳng dọc theo thân, Xương còn khá nguyên vẹn nhưng hai
chân không đầy đủ, phía trên hài cốt có khá nhiều tổ mối, không có đồ tuỳ táng.
Những nghiên cứu ban đầu cho thấy một số hiện tượng bệnh lý và tục nhuộm răng,
nhổ răng, xét vị trí cũng như cấu tạo địa tầng có nhiều khả năng mộ được chôn
vào nơi cư trú và chưa thể xác định được niên đại (ảnh
1). Kiểu mộ đất như thế này cũng được phát hiện tại gò
Đình trong cuộc đào thám sát năm 1999 của Viện Khảo cổ học do Lương Ninh chủ
trì.
Tích tụ cụm sò: Trong
cả hai hố có 09 cụm (06 cụm trong hố 1 và 03 cụm trong hố 2). Những cụm sò này
đa phần là tích tụ rác thức ăn và vết tích đun nấu của cư dân, trong đó có một
số cụm còn thấy khá rõ dấu vết bếp lửa.
Bếp: Trong
số những cụm sò nói trên, một số cụm có nhiều khả năng là bếp. Bếp thường có
dạng hình gần tròn, nhiều than tro, khá nhiều vỏ sò bị đốt cháy, trong bếp
thường có phế thải thức ăn như xương, răng cá, càng tôm, cua, xương động vật và
một số công cụ xương, công cụ đá và mảnh gốm vỡ. Điển hình là bếp trong cụm sò 2
hố 2, trong bếp này có than tro, vỏ sò cháy, xương động vật, một số đồ xương và
công cụ đá (ảnh
2).
Hố cột ?: Trong
hố 1 ở lớp sát sinh thổ (đáy lớp 6 đầu lớp 7), có một số hố tròn hay gần vuông
nhỏ, đất trong hố màu thẫm hơn so với đất xung quanh và đôi khi có lẫn mảnh
gốm.
Cụm gốm: Trong
các cụm sò có khá nhiều mảnh gốm và ở một số nơi gốm mảnh lớn tập trung thành
từng cụm. Trong lớp 6 và 7 tại ô c1 của hố 1 có 01 cụm gốm là những mảnh vỡ của
01 nồi gốm lớn, gốm khá mỏng và cứng, cụm gốm này nằm ngay trên sinh
thổ (ảnh
3).
Di
vật
Đồ
sắt: Ít, có vài mảnh vỡ của lao và
dao sắt được tìm thấy trong các lớp trên (từ 1 đến 2) của hố khai quật, từ lớp 3
xuống không phát hiện thấy hiện vật sắt.
Đồ
đồng: Chỉ có 01 hạt đeo bằng đồng
(có thể là một loại cúc áo) và 01 mảnh khuyên móc đeo của hạt đeo giống như thế
được tìm thấy ở ô b3, lớp 3 của hố 2, loại này cũng được tìm thấy ở di chỉ Vĩnh
Yên (Khánh Hòa).
Đồ
xương: Đồ xương có công cụ và trang
sức. Trong nhóm công cụ có mũi nhọn, lao, nhóm trang sức có hạt chuỗi được làm
từ đốt sống cá, một số đốt sống cá đang được chế tác thành hạt chuỗi nhưng chưa
xuyên lỗ, có lẽ đang làm dở (ảnh
4).
Đồ thuỷ
tinh: Chỉ có 01 hạt cườm màu vàng
đục (dạng hạt Indo-Pacific) đã bị vỡ được tìm thấy trong lớp 4, ô a3 hố
2.
Đồ
đá: Không thấy rìu hay bôn đá, chỉ
có chày đá, đá có vết sử dụng, hòn ghè và một vài mảnh bàn mài.
Đồ
gốm: Ngoại trừ một số ít mảnh gốm
tinh mịn và bán sứ phát hiện ở các lớp trên, gốm ở di chỉ này là loại gốm thô,
pha khá nhiều cát và sạn nhỏ. Gốm có hai màu chủ đạo là gốm xương xám đỏ, áo xám
đỏ và gốm xương đen, áo xám đỏ, ngoài ra còn có một ít gốm xương đỏ, áo đỏ, trên
bề mặt thường dính lớp màu trắng xám và gốm xương đen, áo đen nhưng không miết
láng như loại gốm xương đen, áo đen trong khu mộ táng ở gò
Đình.
Loại hình: Đồ đựng và đồ đun
nấu, rất ít gốm có chân đế, không thấy loại bát chân cao, mâm bồng hay nắp
gốm (bản
vẽloại hình gốm Gò
Duối).
Hoa văn: Loại văn kỹ thuật chủ
yếu là văn chải, gần như không thấy văn thừng, văn trang trí có các loại như ấn
lõm, in mép vỏ sò, in chấm que nhiều răng, khắc vạch, văn in, tô
màu...
Kỹ thuật: Nhiều loại kỹ thuật
được sử dụng trong chế tác đồ gốm ở địa điểm này. Phổ biến là kỹ thuật nặn tay
kết hợp với kỹ thuật xoay chậm, có hiện tượng gia cố
miệng gốm bằng kỹ thuật vá.
Tàn tích
thức ăn
Tầng văn hoá ở đây được cấu tạo
từ đất mùn, cát, tàn tích thức ăn và công cụ lao động, đồ gốm... vỏ nhuyễn thể
phân bố không đều trong tầng văn hoá, thường tập trung thành từng cụm quanh hay
trong khu vực bếp, khá nhiều mảnh bên trong có than tro hay bị cháy, lẫn trong
những cụm sò này có khá nhiều mảnh gốm lớn, than tro, xương cá, chim và xương
động vật khác. Trong số nhuyễn thể có thể nhận biết được một số loài gọi theo
tên địa phương như ốc nhảy, ốc hương, ốc ngựa, hàu, sò lông, sò huyết.... những
loài này hiện vẫn còn được cư dân địa phương khai thác, tuy vậy, hầu như không
thấy công cụ làm bằng vỏ nhuyễn thể như một số di tích khác cùng thời ở Khánh
Hòa, trong hố I chỉ có 01 mảnh nắp của ốc mặt trăng loại nhỏ (loại nguyên liệu
hay được sử dụng làm công cụ giai đoạn hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí ở khu
vực).
Dựa vào số lượng vỏ nhuyễn thể
có thể thấy khai thác thuỷ, hải sản làm thức ăn có vai trò đáng kể. Tuy vậy,
lượng đạm chính trong bữa ăn của cư dân Gò Duối được khai thác từ nguồn thịt
động vật mà họ bắt được.Trong di tích, có khá nhiều xương của loài thú nhỏ, chim
và một số loài thú lớn, xương của một số loài thú lớn còn được dùng để chế tác
công cụ.
III. Gò Duối trong
phức hợp di tích Hòa Diêm
III.1. Tính chất của
gò Duối
Gò
Duối là địa điểm cư trú, mộ táng chỉ xuất hiện như hiện tượng đơn lẻ và chưa
được xác định chắc chắn về niên đại, hiện vật và cấu tạo địa tầng cho thấy, tính
chất văn hóa cư trú gò Duối giống với lớp cư trú gò Đình, tầng cư trú ở cả hai
gò (và cả ở gò Miếu) đều cấu tạo từ tích tụ vỏ sò và thức ăn, cụm than tro, đồ
gốm, đồ đá, đồ xương và đồ bằng nhuyễn thể.
III.2. Niên đại khu cư trú gò
Duối
Dựa trên phân tích và
nghiên cứu so sánh hiện vật gốm, kim loại và cấu tạo địa tầng, có thể cho rằng
khu cư trú Gò Duối có niên đại thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt, trong khoảng một vài
thế kỷ TCN đến đầu CN. Trong đồ gốm không có sự thay đổi đáng kể nào từ sớm đến
muộn. Hiện vật gốm, đá, nhuyến thể và xương cho thấy có nhiều yếu tố kế thừa từ
văn hoá Xóm Cồn và văn hóa Tiền Sa Huỳnh. Giai đoạn sớm, công cụ bằng xương và
bằng đá chiếm vai trò chủ đạo, từ khoảng cận kề Công nguyên xuất hiện đồ sắt và
đồ đồng. Những mảnh gốm kiểu Hán và mảnh bán sứ Hán - Lục Triều cho thấy từ Công
nguyên trở đi có sự tích hợp của những yếu tố văn hóa mới. Như vậy tại di tích
có sự chuyển biến văn hoá một cách dần dần và liên tục từ Sơ sử sang giai đoạn
Lịch sử.
III.3. Tính chất của phức hợp di tích Hoà Diêm
qua những lần khai quật
III.3.1.Tính chất của một khu cư
trú: Nhận diện lớp cư trú
qua những lần khai quật
Vết tích cư trú ở gò Đình Hoà
Diêm
Đợt thám sát năm 1999: Ở hai hố thám sát 4 và
5 mỗi hố 10m2, phát hiện khu cư trú trên cồn sò, tầng văn hoá
dày 65cm, cấu tạo từ vỏ ốc, sò. Hiện vật có 01 đồ sắt ở H.1 nơi có mộ, theo báo
cáo, sắt chỉ tìm thấy ở khu nghĩa địa. Hiện vật xương, vòng bằng vỏ nhuyễn thể
và đồ gốm tìm thấy ở cả hai khu nghĩa địa và cư trú. Đáng chú ý là 06 dọi se chỉ
bằng đốt sống cá, tất cả đều tìm thấy tại hố 5 lớp 4 trong các ô b2,2,4,
đk.2,6cm, dày 0,9cm, đk.lỗ 0,3cm. Như vậy dấu
tích cư trú ở đây có nét tương đồng với khu cư trú ở gò Duối. Theo những người
khai quật, niên đại khoảng trên dưới 2000 năm cách ngày nay
Khai quật năm 2002: Tầng
cư trú dầy khoảng 70-80cm, bắt đầu xuất lộ từ độ sâu 0.20m và ăn sâu xuống đến
sinh thổ, có cấu tạo chủ yếu từ các tích tụ vỏ nhuyễn thể, xương động vật, than
tro, công cụ đá, công cụ xương... Những tích tụ này phân bố thành từng nhóm,
cụm,.hiện vật chủ yếu là công cụ đá như rìu, hòn mài, cuội mài, nghiền, chày
nghiền, đá nguyên liệu, công cụ bằng vỏ nhuyễn thể và công cụ bằng xương như mũi
nhọn xương. Trong tầng cư trú không phát hiện được nhiều hiện vật kim loại, theo
bảng thống kê hiện vật sắt trong báo cáo khai quật năm 2002, có tất cả 49 hiện
vật sắt, trong đó 46 hiện vật tìm thấy trong các cụm mộ, chỉ có 01 dao và 02
mảnh sắt tìm thấy trong lớp 1 của tầng cư trú. Đồ gốm trong
tầng cư trú có một số nét tương đồng với gốm mộ, nhưng loại hình và trang trí
đơn giản hơn nhiều. Gốm cư trú phần lớn thuộc loại hình nồi và bát. Cư trú đã bị
một số mộ muộn chôn vào phá vỡ, đồng thời có một số mộ chôn cùng thời với tầng
cư trú.
Khai quật năm 2007: Trong hố đào
rộng 48m2, nằm sát hố khai quật năm 2002 đã phát hiện tầng văn hoá
dày từ 40-60cm, chia thành hai lớp: Lớp trên là lớp mộ táng dày từ 20-40cm, lớp
dưới là lớp cư trú dày từ 20-30cm gồm nhiều vỏ sò, mảnh gốm vỡ và xương động
vật. Mộ chum chôn vào cả lớp văn hoá dưới (tức lớp cư trú), theo kết quả này thì
cư trú Hoà Diêm có trước và mộ táng có sau. Tuy nhiên trong báo cáo không thấy
những người khai quật đề cập đến nội dung, tính chất và niên đại của lớp cư trú
và mối quan hệ giữa cư trú với mộ táng.
Khai quật năm 2010: Tại hố 1
(12m2) và hố 4 (21m2) chỉ phát hiện tầng văn hóa của cư
trú mà không có mộ táng. Tầng văn hóa dày 20-30cm và phủ toàn bộ diện tích các
hố. Tầng văn hóa chủ yếu chứa các cụm vỏ của các loài nhuyễn thể (khoảng 20
loài), nhiều loài có kích thước lớn. Trang trí đồ gốm khu cư trú có một số nét
tương đồng với trang trí gốm ở khu mộ táng, đó là phương pháp ấn băng dải vỏ sò.
Không có hiện vật kim loại.
Từ nghiên cứu so sánh tầng cư trú gò Duối với
tầng cư trú gò Đình Hòa Diêm, có thể rút ra một số nhận xét sau:
i. Tầng cư trú được tạo
thành bởi tích tụ vỏ nhuyễn thể, xương, răng động vật, cá, công cụ đá và đồ gốm
vỡ dày từ 30 đến 80cm
ii. Ở gò Duối, hiện vật kim
loại chỉ xuất hiện ở giai đoạn muộn, ở lớp 1-3 (khoảng 30cm trở lên). Ở gò Đình,
theo các mô tả và thống kê hiện vật của cuộc đào thám sát 1999 và khai quật năm
2002 trong lớp cư trú hiện vật kim loại rất hiếm gặp. Trong đợt thám sát năm
1999, đồ sắt chỉ tìm thấy trong khu mộ táng. Đợt khai quật năm 2002, chỉ có 01
dao và 02 mảnh sắt được tìm trong lớp 1 của tầng cư trú. Về loại
hình, những đồ sắt trong các lớp trên của gò Duối giống với đồ sắt trong mộ gò
Đình, niên đại của đồ sắt ở cả gò Duối và gò Đình đều vào khoảng cận kề và sau
Công nguyên và xuất lộ cùng thời với đồ đồng, gốm tinh mịn. Sự xuất hiện của
sắt, đồng và gốm tinh mịn cho thấy quá trình diễn biến văn hóa ở phức hợp di
tích Hòa Diêm từ sớm đến muộn khá đồng đều ở cả gò Duối lẫn gò
Đình.
iii. Đồ
gốm thô của tầng cư trú cả ở gò Duối và gò Đình chỉ gồm một số loại hình của đồ
đun nấu và đồ đựng như: Bát miệng khum, đáy hình chỏm cầu, thân không hoa văn
hay có văn chải. Nồi miệng loe với nhiều kiểu biến thiên, thành miệng trang trí
văn in ấn lõm hay in chấm, nồi miệng khum, đồ gốm có chân đế cao vừa loe
choãi...
Đồ gốm
trang trí văn chải chiếm tỉ lệ lớn (hầu như không có văn thừng), những kỹ thuật
tạo hoa văn trang trí khác như văn chải kết hợp khắc vạch và in ấn, in ấn móng
tay, in mép sò, in que nhiều răng, tô màu... đều thấy trên đồ gốm cư
trú.
Đồ gốm tinh mịn với
miệng hũ hay bình có miệng uốn cong ra ngoài, cổ có trang trí được tìm thấy cả
trong khu cư trú lẫn khu mộ táng.
Tại lớp trên (1-3)
của gò Duối có gốm kiểu Hán văn in ô vuông và gốm men Hán-Lục
Triều (ảnh
5. Ở gò Đình trong cả tầng cư trú và khu mộ táng đều
không thấy thông báo về loại gốm này.
Như vậy, dấu tích cư trú của cư dân cổ Hòa
Diêm phân bố hầu khắp ở các gò Đình, Miếu, Duối. Sự nhận diện tầng cư trú ở Hoà
Diêm chủ yếu qua những dấu tích bếp, cụm gốm, tích tụ thức ăn nhuyễn thể, xương
cá, xương động vật nhỏ như chim, gia cầm và xương động vật có vú vừa và lớn,
công cụ đá, công cụ xương, trang sức bằng vỏ nhuyễn thể. Hiện vật kim loại hiếm
và chỉ thấy ở giai đoạn muộn của cư trú. Tầng cư trú này có độ dày từ 80 đến
30cm và đã bị phá huỷ ở một số nơi do mộ táng cùng thời hay muộn hơn chôn
vào.
Niên đại của tầng cư
trú: Dựa vào niên đại C14, loại hình di
vật và di tích xuất lộ, những yếu tố kế thừa trong đồ đá, đồ gốm và đồ xương từ
văn hóa Xóm Cồn và những địa điểm Tiền Sa Huỳnh khác như Bãi Ông (Quảng Nam);
Long Thạnh (Quảng Ngãi) và Truông Xe (Bình Định), có thể ước đoán dấu tích cư
trú có niên đại khởi đầu từ thế kỷ 3, 4 TCN và kéo dài đến những thế kỷ đầu công
nguyên. Những mảnh gốm tinh mịn (loại gốm Chăm kiểu Hán) và đồ bán sứ Hán-Lục
Triều ở gò Duối cho thấy có thể có những tích tụ văn hóa kéo dài đến sau thế kỷ
3 CN. Như vậy, sự xuất hiện của kim loại ở khu vực này khá muộn so với không
gian của văn hóa Sa Huỳnh Bắc.
III.3.2. Tính chất của
khu mộ táng:
Khu mộ táng phân bố trên gò Đình. Khu mộ này
được thám sát và khai quật nhiều đợt từ năm 1999-2011, đó là cuộc khai quật
tháng 8.2002, 100m2, 02 mộ huyệt đất 24 mộ chum; khai quật tháng 1.
2007, 72m2, phát hiện 16 mộ táng gốm 14 mộ chum và 02 mộ đất; khai
quật 2010phát hiện 9 mộ
chum, vò và 2 mộ đất; khai quật tháng 8.2011, 54,5m2, phát hiện 26 mộ
chum và mộ huyệt đất thuộc hai giai đoạn sớm và muộn, không có lớp cư
trú.
Mộ táng Hòa Diêm có những đặc trưng
sau:
Táng thức: Mộ chum xen lẫn mộ đất, số lượng mộ
huyệt đất ít hơn so với mộ chum. Mộ đất có hung táng, cải
táng và chôn tượng trưng. Mộ chum có cải táng, hoả táng và chôn tượng trưng, đặc
biệt của mộ táng Hòa Diêm là lối chôn phức hợp. Mộ chum Hoà Diêm với những táng
thức và táng tục đã phát hiện không khác so với những phát hiện ở hang Tabon vào
thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Chum quan
tài Hòa Diêm rất đa dạng về hình dạng, kích cỡ và trang trí. Ngoại trừ loại chum
hình cầu có kích thước lớn giống với chum hình cầu của các di tích mộ chum Sa
Huỳnh Bắc và Sa Huỳnh Nam ở Việt Nam được sản xuất có lẽ dành riêng cho mai
táng, những chum quan tài khác với những loại hình đa dạng và trang trí đẹp có
nhiều khả năng được tái tận dụng từ những đồ gốm không chỉ dành riêng cho mục
đích chôn cất người chết. Trong đồ gốm
tùy táng Hòa Diêm, các nhà nghiên cứu có thể nhận thấy những yếu tố kế thừa từ
giai đoạn Tiền Sa Huỳnh và Xóm Cồn, và trong đồ gốm mộ giai đoạn muộn (từ sau
CN) nổi trội nhất là yếu tố gốm Kalanay.Như
vậy, táng thức Hòa Diêm
giai đoạn muộn từ đầu Công nguyên trở về sau giống táng thức Tabon, gốm tùy táng
và gốm quan tài Hòa Diêm giống truyền thông gốm Kalanay.
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã xác lập ít
nhất bốn tổ hợp/truyền thống gốm Tiền Sơ sử ở Đông Nam Á (hải đảo), đó là Sa
Huỳnh, Niah, Kalanay và Tabon. Mối quan hệ giữa những tổ hợp này không
giống/bằng nhau. Dù có những liên hệ genetic (nguồn gốc và phát sinh) nhưng đã
phát triển độc lập với nhiều tính địa phương trong chuyên hoá và mức độ tinh tế
hoá trong sản xuất. Mỗi truyền
thống, thậm chí mỗi địa điểm trong từng truyền thống đều có những loại hình gốm
riêng biệt, có thể diễn
giải hiện tượng này bằng sự hiện diện của sản xuất địa phương hay trao đổi hàng
hóa gốm đặc biệt của mỗi vùng. Ngoài ra, khác biệt mang tính địa phương còn có
thể là hình thức của biểu hiện tộc người, tức là cách thức mà qua đó những cộng
đồng cư dân duy trì bản sắc tộc người của mình.
Như vậy có thể thấy rằng tổ hợp gốm Sa Huỳnh
Bắc quan hệ chặt chẽ với gốm Tabon, tổ hợp gốm Hòa Diêm (Sa Huỳnh Nam) với gốm
Kalanay.
Mộ táng Hòa Diêm có niên đại sớm muộn khác
nhau qua kết quả khai quật. Niên đại bắt đầu của táng thức mộ chum ở Hòa Diêm
chưa thể xác định một cách chắc chắn do chưa có những dữ liệu cụ thể.
Cuộc khai quật năm 2007 cho thấy có 3 nhóm
mộ:
Nhóm mộ 1: Dấu tích của những mộ ngay trên lớp
sinh thổ.
Nhóm mộ 2: Dấu tích của mộ 13 và mộ
14
Nhóm mộ 3: Gồm các mộ từ mộ số 2 đến mộ số 12.
Theo những người khai quật, nhóm mộ 3 này có đồ gốm tùy táng giống gốm Kalanay
và có niên đại từ thế kỷ 1 CN trở về sau.
Khai quật tháng 8.2011 cho kết quả “26 ngôi mộ
với 2 dạng táng thức là mộ chum và mộ huyệt đất và có niên đại từ sớm đến muộn
và gần như không có sự kế thừa về loại hình chum mộ cũng như chất liệu giữa các
giai đoạn mộ táng. Niên đại của Hòa Diêm trong những cuộc khai quật lần trước đa
số thống nhất khung niên đại 2500 TCN đến CN một vài trăm năm. Tuy nhiên, với
những phát hiện lần này có thể sẽ đẩy lùi mốc niên đại khởi điểm cho Hòa Diêm xa
hơn với sự xuất hiện các mộ chum ở lớp dưới ăn sâu xuống sinh thổ”.
Niên đại kết thúc của mộ táng Hòa Diêm được
xác định dựa trên những tư liệu so sánh với các địa điểm cư trú và mộ táng thuộc
loại hình Sa Huỳnh Nam có niên đại khởi đầu trước Công nguyên và kéo dài đến
những thế kỷ đầu Công nguyên ở Việt Nam và một số địa điểm khác ở Đông Nam Á
(Kalanay); Sự có mặt của hiện vật tùy táng có nguồn gốc Trung Hoa, Ấn Độ, Tây Á
như tiền Ngũ Thù Tây và Đông Hán, hạt chuỗi khắc axit, hạt chuỗi bằng vàng, đặc
biệt là đồ gốm tùy táng tinh mịn màu da bò, xám trắng, vàng da cam với những
loại hình cốc chân cao đặc, nắp, bình... loại gốm có mặt trong các địa điểm có
niên đại vài thế kỷ đầu Công Nguyên ở Đông Nam Á.
Như vậy,
niên đại kết thúc của mộ táng Hòa Diêm khoảng thế kỷ 3,4
CN.
III.3.3. Gốm trong tầng cư trú và gốm mộ
táng: Trong dòng gốm thô có thể nhận thấy sự tương
đồng giữa hai tổ hợp này, đó là:
Về
loại hình:
i. Nồi miệng loe, thành miệng gãy gập tạo gờ gãy
thành miệng ngoài. Giữa miệng và thân không có gờ gãy góc phân
biệt.
Mép miệng tròn. Thành
miệng ngoài phía trên gờ gãy góc thường có trang trí hoa văn in chấm, hoặc ấn
lõm, khắc vạch.
ii. Miệng loe, thành miệng gãy gập tạo gờ ở thành
miệng ngoài, có gờ gãy góc phân biệt giữa miệng và thân. Trên thành miệng ngoài
thường có trang trí hoa văn khắc vạch kết hợp văn in hoặc in mép
sò.
Gốm có kiểu miệng này
thường trang trí văn chải trên thân, từ cổ trở xuống.
iii. Miệng loe xiên, mép miệng tròn khum vào trong.
Giữa miệng và thân có gỡ gãy góc. 
iv. Đồ gốm có chân đế cao vừa, hơi choãi 
v. Nồi gốm miệng khum
kiểu khum không có gờ,
mép miệng tròn thành miệng khum vào trong.
Về hoa
văn:
Cả ở hai nơi đều có
những tương đồng trong các đồ án hoa văn trên loại miệng loe gẫy và loe lòng
máng, in chấm, in ấn lõm, khắc vạch xiên, khắc vạch trên nền văn chải. Tuy nhiên
riêng gò Duối có hoa văn dạng khuông nhạc; hoa văn nửa vòng tròn móc nhau còn gò
Đình có in cuống rạ, trổ lỗ, hình lá và trang trí dạng đường xoáy tròn trên gốm
đen bóng.
Như
vậy, sự giống và khác nhau trong các sưu tập gốm giữa cư trú và mộ táng xuất
phát từ ba nguyên nhân:
i. Tầng cư trú và khu mộ táng dù có niên đại khởi
đầu sớm muộn khác nhau nhưng đã từng có một giai đoạn cùng tồn
tại.
ii. Sự đa dạng trong chất liệu và loại hình gốm ở
khu mộ táng so với khu cư trú do tính chất văn hóa của từng khu quy định.
iii. Sự phong phú của gốm (về cả chất liệu và loại
hình) của khu mộ táng so với gốm của tầng cư trú còn do mối quan hệ văn hoá với
bên ngoài ở thời điểm cận kề công nguyên trở về sau.
IV. Một số vấn đề về Hòa Diêm và từ Hòa
Diêm
IV.1. Tính chất cư trú Hòa Diêm trong bối cảnh
văn hóa Xóm Cồn và văn hóa Tiền Sa Huỳnh
Tầng cư trú ở phức hợp di tích Hòa Diêm có
những nét tương đồng với cư trú của cư dân văn hóa Xóm Cồn và cư dân Tiền Sa
Huỳnh trong khu vực. Trong diễn trình văn hóa Tiền, Sơ sử Phú Yên, Khánh Hòa và
Bình Thuận có thể nhận biết ít nhất hai giai đoạn sớm muộn (xem
bảng Các địa điểm Khảo cổ
học Tiền, Sơ sử ở Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận) và cư trú Hòa Diêm thuộc
vào giai đoạn muộn của diễn trình này.
Đặc điểm chung của cư trú giai đoạn
muộn:
a. Sự có mặt khá đột ngột của những hiện vật
kim loại đồng và sắt ở những lớp văn hóa trên của di chỉ, những hiện vật này tuy
ít về số lượng nhưng phân bố đều và đồng nhất về hình loại, điều này cho thấy sự
chuyển biến từ giai đoạn đồ đá sang giai đoạn kim khí ở đây không phải là sự
chuyển tiếp dần dần, kéo dài mà rất nhanh, với cường độ mạnh. Tại những lớp văn
hóa trên cùng của các di chỉ có sự hiện diện của những mảnh gốm tinh, mịn loại
chất liệu của gốm giai đoạn lịch sử thường tìm thấy ở các địa điểm giai đoạn sớm
của Champa và Óc Eo.
b. Sự thiếu vắng công cụ đá mài với những loại
hình rìu hình thang có đốc thu nhỏ, loại hình đồ đá phổ biến trong giai đoạn sớm
và thay vào đó khá nhiều hòn kê - ghè, hòn nghiền, bàn mài.... Sự thay đổi này
có thể liên quan đến phương thức khai thác tự nhiên rừng-biển của các nhóm cư
dân.
c. Đồ gốm: Tỉ lệ đồ gốm văn chải và văn thừng
dao động giữa các địa điểm, trong một số địa điểm văn chải không còn chiếm tỉ lệ
tuyệt đối như ở giai đoạn sớm.
IV.2. Tính chất mộ táng Hòa Diêm trong bối
cảnh mộ chum Sa Huỳnh và mộ chum Đông Nam Á
Về niên
đại mộ táng Hòa Diêm có nhiều giai đoạn khác nhau, giai đoạn sớm có những nét
chung với mộ chum vò ở Phú Yên (như Rừng Long Thủy, Suối Mây), ở Đông Nam Bộ
(Suối Chồn, Giồng Cá Vồ)... và ngay ở trên địa bàn Khánh Hòa, ở một số di tích
như Vĩnh Yên – có mảnh chum kiểu Hòa Diêm, chum hình cầu... Mộ chum Hòa Diêm
giai đoạn sớm này nằm trong xu thế chung của loại hình Sa Huỳnh Nam – truyền
thống II – và thể hiện xu thế đa dạng hóa của táng thức mộ chum ở giai đoạn muộn
từ cận kề đến sau công nguyên. Đó là các địa điểm mộ chum, vò Nam Trung bộ và
Nam bộ Việt Nam như Xóm Ốc – Suối Chình (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi), Rừng Long Thủy
- Gò Bộng Dầu và Suối Mây (Phú Yên), mộ vò Vĩnh Yên (Khánh Hòa), Hòa Vinh
I, IIvà Phú Trường
(Bình Thuận), Giồng Lớn(Bà Rịa-Vũng
Tàu), Giống Cá Vồ (TP. Hồ Chí Minh)... trong khi truyền thống I – mộ chum đã
chấm dứt sự tồn tại của mình.
Giai đoạn muộn, từ Công
nguyên trở về sau truyền thống mộ chum II này đã tiếp nhận những yếu tố mới (có
thể bằng buôn bán, trao đổi và sự di chuyển của các nhóm dân cư) dẫn đến những
thay đổi trong táng thức, táng tục và đồ tùy táng ... Những
mộ chum Hòa Diêm giai đoạn muộn từ những thế kỷ đầu công nguyên trở đi (như đã
trình bày ở phần trên) về
táng thức rất giống phức hợp mộ táng Tabon trong khi loại hình chum quan tài và
đồ tủy táng gốm có những tương đồng đáng kể với phức hợp gốm
Kalanay.
Như vậy, từ Công nguyên trở đi diễn biến của
mộ chum ở Nam Trung Bộ có xu hướng đa dạng hoá và gần gũi hơn với Đông Nam Á hải
đảo
Những tương đồng trong cách thức mai táng và
đồ tùy táng (đặc biệt là đồ gốm mai táng) giữa Hòa Diêm với những nơi khác (đặc
biệt là với miền Trung và miền Nam Philipin) một mặt phản ánh những quan hệ tiếp
xúc và buôn bán liên đảo, liên lục địa ở Đông Nam Á lúc bấy giờ, mặt khác cho
thấy sự hình thành và phát triển của những trung tâm sản xuất gốm hàng hóa và
nhu cầu buôn bán nội vùng, liên vùng đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của không
chỉ khía cạnh vật chất mà quan trọng hơn là khía cạnh tinh thần của những cộng
đồng có chung những quan niệm về tín ngưỡng, về nghi thức, nghi lễ tang ma.
Những đợt di dân vào đầu thiên niên kỷ I Công nguyên trên khắp lục địa Á Âu, đặc
biệt là trên biển Thái Bình Dương cũng đóng vai trò đáng kể trong việc mang đến,
mang đi những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, có thể là sản phẩm nhập
nguyên chiếc, có thể là sản –phẩm làm theo kỹ thuật và loại hình... cùng với sự
trao đổi ý tưởng, tri thức cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật. Flaver cho rằng những
mẫu họa tiết ngoại lai thường được các cộng đồng chọn lọc để tiếp nhận và kết
quả là sự phổ biến kéo dài hàng nghìn năm của những mô típ trang trí giống nhau
trên một không gian rộng, còn Bacus
giải thích những tương đồng về phong cách “có thể là kết quả không chỉ của trao
đổi mà còn là kết quả của sự chia sẻ những biểu trưng chung của giới quý tộc và
sự tham gia vào cùng một hệ thống liên minh”.
Hòa Diêm là khu di tích cư trú và mộ táng quan
trọng với diện phân bố rộng và có niên đại kéo dài từ những thế kỷ trước và từ
công nguyên trở đi, có mối quan hệ lịch đại – kế thừa với những di tích sớm hơn
như Xóm Cồn và những di tích Tiền Sa
Huỳnh khác, có mối quan hệ đồng đại nhiều chiều và mạnh mẽ với các di tích Trung
bộ, Đông Nam bộ, Đông Nam Á Lục địa và Hải đảo. Như vậy có nhiều nguồn, nhiều cơ
tầng văn hóa nội sinh và ngoại sinh gớp phần tạo dựng diện mạo độc đáo của khu
di tích này mà trong đó những mối liên hệ Tabon – Sa Huỳnh/Hòa Diêm – Kalanay có
vị trí quan trọng đặc biệt nhất là từ đầu công nguyên trở
đi.
Tài liệu dẫn
Trương Đăc Chiến 2011, Khai quật di tích Phú
Trường (Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận) lần thứ nhất. NPHMVKCH năm 2010,
Nxb KHXH, Hà Nội 2011, tr.183-188.
Bùi Chí
Hoàng, YAMAGATA Mariko, Nguyễn Kim Dung, Khai quật di tích Hòa Diêm (Khánh Hòa)
lần thứ ba, năm 2010. NPHMVKCH năm 2010,
Nxb KHXH, Hà Nội 2011, tr. 178-180
Bùi Chí
Hoàng, Yamagata Mariko và Nguyễn Kim Dung, Khai quật di tích Hòa Diêm (Khánh
Hòa) năm 2010, Bài trình bày tại HNTBKCH năm 2011, Hà Nội
Lương Ninh, Nguyễn Mạnh
Cường 1999. Báo cáo thám sát di
chỉ KCH Hoà Diêm (Khánh Hoà). Tư liệu
Thư viện Viện Khảo cổ học. Hà Nội
Bùi Chí Hoàng YAMAGATA
Mariko, Nguyễn Kim Dung 2008, Báo cáo khai quật di tích khảo cổ học Hòa Diêm (xã
Cam Thịnh Đông- huyện Cam Ranh – tỉnh Khánh Hòa), Báo cáo khai quật, Tư liệu
Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ, Tp. Hồ Chí
Minh.
Fox Robert 1970. The Tabon Caves.
Archaeological Explorations and Excavations on Palawan Island, Philippines.
National Museum. Manila.
Hoàng Thúy Quỳnh, Đồ gốm văn hóa
Sa Huỳnh. Luận văn thạc sĩ, Tư liệu khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH & NV, Hà
Nội, 2008
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hoạt
động khảo cổ học của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 2011, Bài báo cáo tại HNTBKCH
lần thứ 46, Hà Nội 9.2011
Lâm
Thị Mỹ Dung, 2008, Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ sơ sử sang sơ kỳ lịch sử
ở miền trung Trung bộ và nam Trung bộ Việt Nam, Đề tài khoa học
trọng điểm cấp Đại
học Quốc gia Hà Nội (mã số QG.06.07), (Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường
ĐHKHXH & NV), Hà Nội.
Andrea Yankowski, Trade,
Technologies & Traditions – The Analysis of Artifacts Recovered from a Metal
Age Burial Site in District Ubujan, Tagbilaran City, Bohol, Master Thesis, San
Francisco, California, 2005: 61-62.
Hutterer, Karl L. &. William
K MacDonald, Houses Built on Scattered Poles: Prehistory and Ecology in Negros
Oriental, Philippines. Cebu City, The University of San Carlos, 1982:
334
Bùi Chí Hoàng, Yamagata, Nguyễn
Kim Dung, Khai quật Hòa Diêm năm 2007 và 2010, in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học
Khảo cổ học Khánh Hòa, Nha Trang 2010
Andrea Yankowski, Trade,
Technologies & Traditions – The Analysis of Artifacts Recoveres From a Metal
Age Burial site in District Ubujan, Tagbilaran City, Bohol. Master Thesis,
Sanfracisco State University, 2005
Fontaine và Davidson,
Archaeological Site of Hoa Vinh, Asian Perspectives, XXIII-1,
1980
Flavel Ambika, Sa Huynh –
Kalanay? Analysis of the Prehistoric
Decorated Earthenware of South Sulawweri in an Island Southeast Asian Context,
Bachelors of Science Thesis, Centre for Archaeology University of Western
Australia, 1997.
Bacus, Elisabeth A., Styles of
Alliance? Decorated Earthenwares in Late Prehistoric and Protohistoric
Philippines Polities. Trong John N. Miksic (cb.) Earthenware in Southeast Asia –
Proceedings of the Singapore Symposium on Premodern Southeast Asian
Earthenwares, 39-51, Singapore: Singapore University Press,
2003
Chú thích
Lương Ninh,
Nguyễn Mạnh Cường 1999.
Dựa vào phân
tích và nghiên cứu so sánh loại hình quan tài gốm, đồ gốm tùy táng, đồ tùy táng
khác và niên đại C14 kết hợp với ý kiến của
những nhà nghiên cứu khác, chúng tôi đã phác họa hai loại hình của văn hóa Sa
Huỳnh, Sa Huỳnh Bắc từ Huế đến Bình Định và Sa Huỳnh Nam từ Khánh Hòa đến Đông
Nam bộ (Lâm Thị Mỹ Dung, 2008, Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ
sơ sử sang sơ kỳ lịch sử ở miền trung Trung bộ và nam Trung bộ Việt Nam, Đề
tài khoa học trọng điểm cấp Đại học Quốc
gia Hà Nội (mã số QG.06.07),
(Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường ĐHKHXH & NV), Hà
Nội.
, Tìm hiểu mối
quan hệ giữa các tổ hợp này Fox (Fox Robert. Tabon Cave1970) nhận định ở trang
98: “Mối quan hệ trước hết của Tabon là với Niah ở Borneo và
Sa Huỳnh ở Đông Dương, ít hơn với Malai, Thái Lan và Nam Trung Hoa, rất vừa phải
với miền Trung và miền Bắc Philipin (ít nhất là nếu so sánh Tabon – Kalanay).
Mối quan hệ (gần gũi) giữa Tabon với những phức hệ gốm khác như Sa Huỳnh và Niah
là sự phổ biến của văn thừng và carved paddle decoration (cắt (khoét) thành hình
mái chèo)? trong những tổ hợp này. Trong khi đó, ở phức hợp Kalanay, miền Trung
Philipin hoạ tiết carved paddle không thấy sự hiện diện rõ ràng và không phát
hiện thấy văn thừng. Ngay từ xưa, người ta đã thấy sự hiếm hoi của những cách xử
lý bề mặt kiểu paddle marked (dấu hình mái chèo) và mat marked (dấu hình nan),
văn thừng ở miền Trung và miền Bắc Philipin” tr. 98 và tr.103. Về hình dạng gốm
Tabon cũng cho thấy mối quan hệ chặt chẽ với gốm Borneo, Đông Dương và Malay hơn
là với Kalanay và những gốm kim khí khác ở Luzon và miền Trung Philipin. Về sự
đa dạng trong mỗi truyền thống gốm này có thể xem thêm ý kiến của Bacus trong
Andrea Yankowski, Trade, Technologies & Traditions – The Analysis of
Artifacts Recovered from a Metal Age Burial Site in District Ubujan, Tagbilaran
City, Bohol, Master Thesis, San Francisco, California, 2005:
61-62.
Một số nhà
nghiên cứu so sánh gốm tinh mịn màu đỏ hồng, vàng hay trắng ở Hoà Diêm với các
di tích Champa sớm như Trà Kiệu, Đồng Nà... nhưng theo nghiên cứu so sánh của
chúng tôi, ở Hoà Diêm không hay chưa thấy những dạng gốm Chăm tinh mịn điển hình
giống như những loại đã tìm thấy ở các tỉnh từ Quảng Nam đến Phú Yên. Có thể từ
sau Công nguyên, khu vực Khánh Hoà phát triển theo một quỹ đạo văn hoá gần hơn
với miền Nam Việt Nam và gốm tinh mịn ở đây mang đặc trưng gốm tinh mịn tiền Óc
Eo và Óc Eo ((Lâm Thị Mỹ Dung, 2008, Nghiên cứu quá trình chuyển
biến từ sơ sử sang sơ kỳ lịch sử ở miền trung Trung bộ và nam Trung bộ Việt
Nam, Đề tài khoa học trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (mã số QG.06.07),
(Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường ĐHKHXH & NV), Hà
Nội.
Theo
Chử Văn Tần và sau đó là Vũ Quốc Hiền trong diễn biến văn hoá từ
Tiền Sa Huỳnh đến Sa Huỳnh có thể nhận thấy ít nhất hai truyền thống Long Thạnh-
Sa Huỳnh và Bình Châu-Bàu Trám-Sa Huỳnh. Dưới ánh sáng của khối tư liệu hiện
nay, chúng tôi cho rằng có thể xác định hai truyền thống này một cách cụ thể như
sau:
i. Truyền
thống Long Thạnh và Sa
Huỳnh (chum
hình trứng, trụ, cầu lớn, sắt nhiều, đồng hiếm…) khởi đầu vào cuối thiên niên kỷ
I trước Công nguyên và kết thúc cơ bản vào cuối thế kỷ 1 TCN (truyền thống I).
Truyền thống này bắt nguồn trực tiếp từ cỏc nhúm di tớch Tiền Sa
Huỳnh.
ii. Truyền
thống Bàu Trám/Bình Châu/ Hoà Vinh II/ GMV---- Hoà Diêm/Suối
Chình… mộ chum
chủ yếu hình cầu biến thể, mộ đất, nhiều hiện vật đồng hơn, tồn tại lâu hơn
đến thế
kỷ 2,3 SCN
(truyền thống II). Trong truyền thống này bờn cạnh những yếu tố Tiền Sa Huỳnh
cũn cú sự tham gia rất mạnh mẽ của cỏc yếu tố từ văn hoá Xóm
Cồn.
Vùng Bắc Sa
Huỳnh (từ Huế đến Bình Định), đây là địa bàn phân bố
chính của truyền thống I, nhưng vẫn có truyền thống II theo thế cài răng
lược.