Le Minh Khai
Người dịch: Hà Hữu Nga
Lời người dịch: Trên trang mạng leminhkhai.wordpress.com có một số bài viết ngắn đề cập
đến các vấn đề quan trọng về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Chúng tôi cố gắng dịch
và chuyển tải đến những ai liên quan - quan tâm, và mong rằng các vị sẽ có các
trao đổi giúp làm rõ vấn đề mà tác giả Le Minh Khai đặt ra nhằm thúc đẩy học
thuật phát triển.
Bất cứ ai đã học một thứ tiếng nước ngoài nào thì cũng
đều biết rằng không phải lúc nào ngôn ngữ này cũng có những từ tương đương chính
xác trong một ngôn ngữ khác, chính vì vậy mà nhiều thứ có thể “mất đi khi dịch”.
Trong tiếng Việt và tiếng Hán có một thuật ngữ đặc biệt có vấn đề, đó là thuật
ngữ dân tộc/民 族. Thuật ngữ này do người Nhật tạo ra từ cuối
thế kỷ XIX, và sau đó đã được người Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận để dịch
từ nationalityvà nation -
hai thuật ngữ sau này đã thay đổi nghĩa trong các ngôn ngữ phương Tây. Kết quả
là ngày nay rất khó có thể coi dân
tộc và nation là
tương đồng nghĩa.
Trong khi lâu nay tôi đã vật lộn với vấn đề về tính bất
tương đồng của hai thuật ngữ dân
tộc và nation thì
tôi cũng nhận thấy rằng trong tiếng Việt có một thuật ngữ khác thường đi thành
cặp với từ dân tộc, là
từ bản
sắc cũng rất có vấn đề.
Bản sắc là một thuật ngữ bắt đầu trở
nên thông dụng ở Việt Nam trong mấy thập kỷ qua, để dịch thuật
ngữ identity. Rõ ràng
là thuật ngữ này bắt đầu thông dụng khi trí thức Việt Nam ngày càng tiếp xúc
nhiều hơn với học giới phương Tây kể từ sau chính sách Đổi Mới, và rõ ràng đã có
những cuộc tranh luận về việc dịch thuật ngữ này. Tôi chưa đọc bất cứ thảo luận
thực sự nào về vấn đề này, vì vậy tôi không dám chắc những từ nào khác được dùng
thay thế cho thuật ngữ bản sắc (có lẽ là căn cước). Dù sao
thì hiện nay bản
sắc đã được sử dụng rất rộng rãi.
Dựa theo một cuốn từ điển tiếng Việt mà tôi có từ năm
1996 thì nghĩa cơ bản của bản sắclà “màu
sắc”, nhưng nó còn có nghĩa là “một tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính”.
Và cuốn từ điển đưa ra một ví dụ: bản sắc dân tộc. (Bản sắc
d. Màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính. Bản sắc
dân tộc).
Bản sắckiểu đó không có gì giống
với identity. Về một
số phương diện, khái niệm đó lại gần gũi với những điều ngược lại khi các học
giả phương Tây nói về identity.
Bản sắc như thế thuộc về một cái gì
đó hiện thực mà người ta có thể đồng nhất cùng. Nhưng identity thì
lại là một cái gì đó mà người ta NGHĨ hoặc TƯỞNG TƯỢNG là có thực. Nó không tồn
tại trong thực tế mà nó được tạo dựng, tưởng tượng và/hoặc hư cấu nên.
Chẳng hạn người Mỹ NGHĨ rằng họ là một hợp quần xiển
dương và thúc đẩy tự do. Khi còn nhỏ họ được học điều đó trong nhà trường, và
chính phủ của họ cũng thường xuyên dựng đặt quan điểm đó. Trong một số trường
hợp điều đó là đúng, nhưng trong những trường hợp khác thì lại không phải như
vậy.
Trong những năm 1980, nước Mỹ ủng hộ mạnh mẽ Iraq do
Saddam Hussein cai trị. Chẳng có mấy chút tự do ở Iraq trong thời gian đó, và Mỹ
cũng chẳng làm gì để thúc đẩy tự do ở Iraq lúc đó. Chính phủ Mỹ vui vẻ hỗ trợ kẻ
độc tài Saddam Hussein, vì ông ta chống lại một đất nước được coi là kẻ thù của
Mỹ là Iran. Vì vậy hành vi của chính phủ Mỹ lúc đó không hề ăn nhập gì với
cái identity dân
tộc của nó cả. Lúc đó nước Mỹ đưa hàng ngàn binh lính đến Nam Hàn để bảo vệ tự
do của nó, và điều đó thích hợp với cái identity dân
tộc kia.
Vậy thì identitylà một cái
gì đó được tạo dựng và được tưởng tượng ra. Nếu người Mỹ không được dạy dỗ ở
tiểu học và trung học mà chính phủ Mỹ vẫn nhắc nhở rằng mình là một dân tộc thúc
đẩy tự do thì liệu người Mỹ có thực sự nghĩ như vậy không? Chắc là
không.
Công bằng mà nói thì do người ta tin là
có identity nên
chắc chắn nó phải là một cái gì đó có thật, và hàng ngàn lính Mỹ tại Nam Hàn đã
chứng tỏ điều mà người Mỹ tin rằng họ là dân tộc thúc đẩy tự do. Tuy nhiên vì nó
là một cái gì đó được tạo dựng và được tưởng tượng ra nên nhiều điều về nó là
không thật, và điều đó đã được thể hiện rõ tại Iraq vào những năm 1980, khi
người Mỹ vui lòng cung cấp vũ khí cho kẻ độc tài đủ để ông ta có thể chống lại
Iran, và cũng đủ để chặn đứng nhân dân Iraq của ông ta có được tự do.
Khi các học giả phương Tây viết về bản sắc dân tộc thì họ
tập trung vào một thực tế đó là một cái gì đó được “tạo dựng” hoặc “tưởng tượng”
nên. Họ cố gắng hiểu xem ai hoặc cái gì là những lực lượng hoặc sức mạnh đứng
đàng sau sự nỗ lực này để tạo dựng nên bản sắc đó, và tại sao họ lại làm điều
đó, hoặc tại sao người dân lại có nhu cầu tự tưởng tượng mình theo một cách thức
như vậy.
Tại Việt Nam ngày nay, nhà nước đang hết sức, cũng như
trong nhiều thập kỷ nay, mong làm cho người dân suy nghĩ và sống bằng những cung
cách mà nhà nước bằng lòng. Trong những năm gần đây, nhà nước đã sử dụng chính
thuật ngữ bản sắc dân tộcđể làm
như vậy. Vì thuật ngữ này được nhà nước Việt Nam sử dụng nên nó không thuộc
loại bản sắc mà các học giả phương Tây hiểu và
sử dụng, nhưng với tư cách là “các đặc điểm thật của dân tộc” thì đó chính là
những gì mà các từ này thể hiện theo nghĩa đen. Nhà nước Việt Nam muốn nhân dân
tin rằng (và trong một nhà nước như vậy thì có lẽ người dân cũng tin chắc như
vậy) thật sự tồn tại những đặc điểm ấy và có thể được xác nhận
là bản sắc dân tộc.
Khi nỗ lực cổ vũ cho ý tưởng bản sắc dân
tộc, nhà nước Việt Nam đang thực sự hỗ trợ để tạo ra một bản sắc dân tộc,
giống hệt như lúc nào chính phủ Mỹ cũng nói về việc thúc đẩy tự do theo đúng
cung cách như vậy. Có những người Việt Nam TIN rằng Việt Nam là một dân tộc có
những “đặc điểm thực sự” nào đó hệt như những người Mỹ TIN rằng nước Mỹ là một
dân tộc thúc đẩy tự do. Tuy nhiên nếu các học giả Việt Nam xem xét vẫn đề này
một cách xát xao, giống như các học giả Mỹ đã làm đối với xã hội của mình, thì
chắc họ sẽ nhận thấy rằng giống như bất cứ nỗ lực nào nhằm tạo dựng một bản sắc
dân tộc trên thế giới, thì “những đặc điểm có thật” này cũng chứa đựng đầy các
mâu thuẫn và thực sự không “có thật”.
Tuy nhiên vấn đề lại là ở chỗ tôi chưa hề thấy học giả
Việt Nam nào làm như vậy khi họ không có một thuật ngữ nào có thể thay cho khái
niệm “bản sắc”. Bản sắc dân tộc không có nghĩa
là identity. Nó cố
gắng để quy về cái gì đó là “thật”. Bản sắc chỉ là một cái gì đó mà người ta
“nghĩ” ra. Có lẽ thuật ngữ “khái niệm bản sắc dân tộc” sẽ chính xác hơn,
vì bản sắc chỉ là một niềm tin hoặc một cách nhận thức.
Tôi biết người Trung Quốc thể hiện khái niệm bản sắc là
“nhận thức hoặc đồng nhất với vị thế/vị trí nào đó” (身份認同- thân phần nhận
đồng). Đó là một cụm từ rắc rối, nhưng nó còn có nghĩa hơn nhiều so với khái
niệm bản sắc khi nó nói đến việc thừa nhận/đồng
nhất. Vì vậy, tuy rắc rối hơn, nhưng việc họ mô tả cái gọi bản sắc dân
tộc bằng cụm từ 國家身份認同– quốc gia thân phần
nhận đồng) thì lại có thể hiểu được.
Bằng cụm từ đó, người Trung Quốc có thể chuyển tải được
khái niệm bản sắc và bản sắc
dân tộc theo nghĩa phương Tây của từ identity. Trong
khi đó người Việt không thể làm được như vậy với cụm từ bản sắc
dân tộc.
Tôi thực sự thấy toàn bộ vấn đề này rất hấp dẫn và điển
hình cho những nỗ lực liên tục tại Việt Nam trong hai thập kỷ qua. Một nguyên do
chủ yếu trả lời câu hỏi tại sao nhà nước Việt Nam lại ra sức thúc đẩy ý
tưởng bản sắc dân tộc chính là vì họ sợ toàn
cầu hóa. Trong khi đó các trí thức Việt Nam lại chưa thể tìm được từ nào khả dĩ
để dịch khái niệm identity của
phương Tây. Theo lẽ thường tình, tôi cho rằng chính giới trí thức mới cần phải
trăn trở về điều này chứ không phải là nhà nước.
Nguồn:
leminhkhai.wordpress.com/22 June, 2010.
http://kattigara-echo.blogspot.com/2012/06/ban-sac-va-identity.html