Michael
Vickery
Người
dịch: Hà Hữu Nga
Trong
một bài giảng đầu tiên của tôi cho một lớp sinh viên nghiên cứu khảo cổ học năm
thứ tư tại Đại học Nghệ thuật Hoàng gia ở Phnom Penh, tôi đề xuất thảo luận về
Phù Nam, mà hầu hết đều tin là đã tồn tại ở Nam Cambodia và Việt Nam, phát triển
dọc theo Vịnh Thái Lan đến bán đảo Mã Lai và có niên đại từ thế kỷ 1-7, bằng
cách hỏi sinh viên xem họ biết gì về những khởi đầu của chính thể đó. Một sinh
viên nhanh nhẩu trả lời: “Preah Thong và Neang Neak”1. Câu trả lời đó
tất nhiên thuộc địa hạt dã sử, và hai cái tên đó không hề thấy trong bất cứ văn
liệu nào liên quan đến Phù Nam, còn thong, một từ
tiếng Thái có nghĩa là “vàng”, cho đến thế kỷ 14 vẫn chưa hề xuất hiện trong vốn
từ vựng Khmer. Không còn nghi ngờ gì rằng đó là việc người Cambodia đã cải biên
huyền thoại lập nước Ayutthaya [Hà
Hữu Nga: từ nguyên अयोध्य* Ayodhya, không thể
cưỡng chống nổi*; riêng
tôi, còn suy nghĩ và liên hệ đến hai
từ nguyên khác là आयुधीय Ayudhiya,
chiến sỹ, người chiến binh; và अयुध्य Ayudhya,
bất khả chinh phục*?]
gắn liền với hoàng tử U Thong, “chiếc nôi vàng”; về nhân vật
này, ít nhất cũng có tới 6 phiên bản lý giải các nguồn gốc khác nhau, trong đó
có một phiên bản nói về cội rễ Cambodia của ông 2.
Có
lẽ những người thực sự tin vào dã sử sẽ trả lời rằng việc quay trở lại vấn đề
Phù Nam chỉ là cái tên mới của một tích truyện cũ mà thôi. Đó có lẽ là một ý
tưởng ẩn sau một tiết mục múa tại buổi lễ Hành trình Văn hóa Dân tộc ngày 3
tháng Tư năm 1999 tại Phnom Penh, được giới thiệu là “Hôn lễ Khmer truyền thống
...biểu tượng và phản ánh sự thống hợp của Preah Thong và Neang Neak, hoặc Preah
Bat Kaundyn và Neang Soma [sic Somâ] [सोम* soma,
mặt trăng, nước, không khí, chân không, trời, bầu trời, gió, rượu tiên, rặng
núi*], hoặc Preah Bat Hun Tien và Neang Liv Yi". Mớ bòng bong dã
sử này đã biến cải trật tự niên đại khởi nguồn các tích truyện. Tên nhân vật của
cặp thứ ba thực sự được tìm thấy trong một số văn liệu Trung Quốc viết về Phù
Nam; cặp thứ hai được đề cập sớm nhất trong bi ký Champa
về Bhavapura [भावपुर* Đô
thành Vũ trụ*]tại Cambodia vào thế kỷ thứ 7, và một
vài thế kỷ sau đó trong các bi ký giai đoạn Angkor, còn cặp đầu tiên có thể chỉ
bắt nguồn từ giai đoạn hậu Angkor. Tất nhiên các tước vị hoàng gia thì hoàn toàn
sai niên đại. Các tước vị Preah
Bat/brah [ब्र* brah bản
thể, thần
thánh, linh thiêng, mênh mông, bao la, rộng lớn*] pada [पद* pada,
bảo hộ, che chở*] không được biết đến ở Phù Nam. Trong thực tế thì thậm
chí nó còn không được sử dụng trong văn khắc giai đoạn Chân Lạp thế kỷ 7-8, và
mặc dù thông thường tại Angkor không hề thấy cái tên Kaundinya [Hà
Hữu Nga: trong văn liệu Ấn Độ, có một người nổi
tiếng, mang tên अज्ञात कौण्डिन्य* Ajnata
Kaundinya, đó là một trong 24 vị La Hán đầu tiên trong tăng đoàn của
Đức Phật thế kỷ 6 TCN] “từ Ấn Độ hoặc từ bán đảo Mã Lai, hoặc các đảo phương nam
[nhấn mạnh thêm]” trong bất kỳ bi ký
nào 3.
Hơn
nữa, các tích truyện lại đều khác nhau. Neang Neak, nửa người, nửa rắn naga, là
một nhân vật siêu nhiên, Soma là một nữ thần, nhưng Liv Yi, Liu-ye, Liễu Diệp
thì hoàn toàn là một nữ thủ lĩnh cộng đồng người của
mình. 4 Dã sử có thể vô hại, gây
cười, và thậm chí mang tính khai trí, nếu có phương pháp nhiên cứu đúng, nhưng
nếu áp đặt nghiên cứu lịch sử một cách khoa học vào các tư liệu gốc thì chí ít
cũng là mất thời gian, và sẽ thật tồi tệ nếu áp đặt nghiên cứu khoa học với mục
đích làm tăng thêm các định kiến dân tộc, sắc tộc thì thật là nguy
hiểm.5
Phù
Nam: Một tổng hợp chuẩn mực
Bộ Les États
Hindouisés, Các quốc gia Ấn Độ hóa, trong đó có lịch sử đại cương Phù Nam
thuộc loại thông sử Đông Nam Á, của George Coedès được người đọc biết đến rộng
rãi, là một bộ sách mang tính lý tưởng và chuẩn mực để những công trình đi sau
học hỏi 6. Nó không bỏ qua các yếu tố dã sử, ngay cho dù
là một bộ sách đậm chất dã sử, như chúng ta sẽ thấy, nhưng loại dã sử đó chắc
chắn trở thành một bộ phận trong hành trang tri thức của nhiều nhà Đông phương
học cổ điển 7.
Trong
bộ sách này chúng ta biết được rằng Funan/Fou-nan/b’iu nậm, một cái
tên có thể có nghĩa là “núi” trong tiếng Khmer (hiện đại là phnom, cổ đại
là vnam) được thành
lập khi một người Bà La Môn ब्रह्मन्* braman tên
là कौण्डिन्य* Kaundinya “từ
Ấn Độ hoặc từ bán đảo Mã Lai, hoặc các đảo phương nam [nhấn mạnh thêm]”, căn cứ
vào một giấc mơ, đã được trao một cây cung thần thông và dong buồm ra đi, cuối
cùng cập bến ở Cambodia, tại đây ông gặp một nữ thủ lĩnh có tên là
Liu-ye/Lieou-ye/Ljêu Iap. Đầu tiên bà ta tìm cách kháng cự, nhưng không thể đối
địch được với chiếc cung thiêng của người Bà La Môn, nữ thủ lĩnh đã phải quy
phục, rồi họ cưới nhau, và thành lập triều đại đầu tiên của các thủ lĩnh Phù
Nam 8.
Tích
truyện này thể hiện cái mà Coedès gọi là cuộc “Ấn Độ hóa Đầu
tiên” 9. Sau đó Phù Nam của Coedès tiếp tục phát triển
như một chính thể ven biển quan trọng, mà các chi tiết về chính thể này được
biết tới nhờ các văn liệu Trung Quốc, thông qua một số thủ lĩnh địa phương mà
một kẻ tiếm quyền Ấn Độ, một Kaundinya thứ hai, cũng từ Ấn Độ và theo Coedès thì
là người đem lại một cuộc “Ấn Độ hóa lần hai”, cho đến cuối thế kỷ thứ 6 hoặc
đầu thế kỷ thứ 7 thì Phù Nam đã bị nước chư hầu của mình là Chân Lạp ở phía bắc
đánh bại, và theo một số giải thích, mặc dù không rõ ràng theo cách của Coedès
thì cỗ chiến xa của người Khmer đã bắt đầu chống lại nước Phù Nam
phi-Khmer 10.
Tiếp
tục với Coedès, thủ đô của Phù Nam mang tên tiếp Phạn
là व्याधपुर* Vyâdhapura 獵人城* Liệp
nhân thành,
Đô thành thợ săn, và một tên gọi khác theo tiếng địa phương mà người Trung Quốc
gọi là 特牧城*
T’e-mu Đặc
Mục thành ở
gần Ba Phnom. Khi nước chư hầu Chân Lạp ở phía bắc tấn công, các thủ lĩnh Phù
Nam đã bỏ chạy đến một nơi mới mà tiếng Trung Quốc gọi là na-fu-na, được Coedès
dịch là नरवरनगर* naravaranagara, 優秀人城 [Ưu
tú nhân thành*] thành xa
hơn về phía nam, và Coedès cho là ở Angkor Borei.
Các
sử liệu Trung Quốc rất mơ hồ trong việc giải thích về tổ chức nội tại Phù Nam,
và ngày nay chúng ta không còn bất cử nguồn sử liệu nào khác, vì vậy chắc chắn
là nhiều kết quả lịch sử chuẩn mực từ các giả thuyết đều ít nhiều dựa trên chút
bằng chứng nhỏ nhoi còn lại. Các thủ lĩnh đầu tiên có các tước vị bắt đầu bằng
các từ hun/houen/ yuơn.
Vào thế kỷ thứ ba, đã có các thủ lĩnh mang tước vị fan/b’jơm đứng
trước những cái tên có một hoặc hai âm tiết bằng ngôn ngữ địa phương. Vào các
thế kỷ 5-6 người Trung Quốc ghi được hai cái tên वर्मन्* varman người
bảo vệ*, phù hợp với bi ký bằng tiếng Phạn được định niên đại cùng thời. Ở đây,
chí ít chúng ta cũng có đôi chút cơ sở, nên dù sao thì chúng cũng rất đáng
giá.
Trong
một số sử liệu cuối cùng của Trung Quốc đề cập đến Phù Nam vào thời nhà Đường,
có nói rằng vào thời Tùy (581-618) các thủ lĩnh Phù Nam được gọi
là Koulong, dễ dàng liên hệ với tước vị cao của người Khmer
là kuruň, một loại
thủ lĩnh địa phương, mặc dù tước vị này không thấy trong bất kỳ bi ký nào cùng
thời. Nếu trong trường hợp đó sử liệu Trung Hoa chính xác thì có thể thấy
rằng kuruň có một vị
thế cao hơn vào thế kỷ 7, khi các tên vua và các tước vị đã được ghi trong các
bi ký. Louis Finot biện luận rằng các vua Phù Nam có tước vị kuruň bnam, vua
núi, nhưng như Claude Jacques đã chỉ rõ điều đó là không có cơ sở. Trong thực
tế, chúng ta không hề biết gì về các tước vị của các thủ lĩnh Phù Nam
ngoài Hun,
Fan và वर्मन्* varman12. Sử liệu
đời Đường cũng chỉ cho ta biết một cái tên thủ đô Phù
Nam 特牧* T’e-mu
mà các thủ lĩnh Phù Nam đã rời bỏ khi bị quân của vua Chân
Lạp चित्रसेन* Citrasena13 [Người
có ngọn lao sáng*] tấn công. Một điều rất quan trọng cần phải ghi nhận là các
diễn giải của các sử liệu Trung Quốc sớm về Phù Nam không hề nhắc đến tên kinh
đô, mà chỉ nói nó cách biển 500 hải lý (200km) mà
thôi 14.
Coedès
là một nhà tổng hợp vĩ đại – ông thực sự là một tài năng lớn nhất với tư cách là
một tác gia diễn giải lịch sử; và ông phải tìm ra hoặc tưởng tượng, một mối nối
giữa mỗi chi tiết với một chi tiết nào đó khác ở mọi lúc mọi
nơi 15. Pelliot, chịu trách nhiệm về những nghiên cứu
chủ yếu về Phù Nam, cũng là một nhà tổng hợp đầy nghị lực, dù còn thua Coedès
nhiều, nhưng ông lại không sợ giật lùi mà tuyên bố rằng một số chi tiết lại
không ăn nhập với nhau 16. Trong bài viết kinh
điển Le Fou-nan, mà toàn bộ
các công trình khác đều dựa vào đó, thì rõ ràng là người Trung Quốc, hết thế hệ
này đến thế hệ khác và từ lịch sử triều đại này đến triều đại khác đều lặp lại
cũng vẫn những tích truyện đó, không hề có cách nào để tiếp cận với các nguồn sử
liệu mới, và thêm vào hoặc bớt đi các chi tiết theo những ý thích bất chợt của
người biên soạn 17. Ông cũng cho thấy rằng các đoạn cóp
đi cóp lại này đôi khi dẫn đến sự lẫn lộn cách kết ghép các chữ Hán với nhau
theo những nghĩa, những âm hoàn toàn khác, dẫn đến các thông tin sai lạc, vô
nghĩa trong các văn bản cuối cùng 18.
Trong
tổng hợp của mình khoảng 40 năm trước công trình đầu tiên của Coedès, Pelliot
nhấn mạnh tính chất đáng tin cậy của một số công trình nghiên
cứu có quy mô rộng lớn hơn về ảnh hưởng của Ấn Độ, nhưng
ngược lại với quan điểm sau này của Coedès, ông cho rằng kinh
đô 特牧* Đặc
Mục của Phù Nam có lẽ ở Angkor Borei, đối với ông, hàm ý là na-fu-na नरवरनगर* naravaranagara, 優秀人城 *
[Ưu tú nhân thành*] phải
nằm trong vùng Kampot 19. Cho dù Pelliot là một nhà khoa
học giỏi hơn nhà khoa học Coedès, nhưng cả hai đều nhìn Phù Nam và Đông Nam Á
thông qua lăng kính Ấn Độ học; và các giả thuyết dựa vào những gì mà những người
Ấn Độ đã phải thực hiện, hoặc những gì mà văn hóa Ấn Độ đã làm ở Đông Nam Á, đã
đến với họ một cách tự nhiên bất cứ khi nào có một chi tiết lạ cần phải diễn
giải 20.
Những
điều mà tôi muốn giải gỡ lại không phải chỉ là Coedès
và Pelliot, mà còn là các sử liệu Trung Hoa về Phù Nam, như đã được Pelliot dịch
và thảo luận, để tìm kiếm những giải pháp khác cho một số vấn đề có liên quan.
Một nhiệm vụ tương tự như vậy đã được Eveline Porée-Maspero thực hiện, nhưng
công trình của bà đã bị bỏ qua, rõ ràng là vì các kết luận của bà đôi khi khác
với các kết luận của tôi, là một phần của sự ủng hộ cho lý thuyết về xã hội
Khmer được chia thành hai nhóm hôn
nhân 21.
Tiền
sử Phù Nam
Chúng
ta hãy bắt đầu với tiền sử Phù Nam theo các văn liệu Trung Quốc. Có nghĩa là
thông tin về quá khứ cổ đại của mình đã được người Phù Nam cung cấp cho các sứ
bộ đầu tiên của Trung Quốc là 康泰* Khang
Thái và 朱應* Chu
Ứng, đã đến Phù Nam giai đoạn 245 – 250 SCN. Các tích truyện này là những truyền
thống truyền khẩu, hoàn toàn khác về giá trị bằng chứng lịch sử thu được từ các
quan sát của những người khác đến Phù Nam, hoặc các báo cáo đương thời mà người
Trung Quốc có được về Phù Nam 22.
Dã
sử của người Phù Nam cũng giống như dã sử của nhiều dân tộc khác, cả ở châu Á
lẫn châu Âu, đều bắt đầu bằng một truyền thuyết khai sáng; và cũng giống như các
truyền thuyết khai sáng khác nó liên quan đến một anh hùng có nguồn gốc ngoại
quốc 23. Các sứ bộ Trung Quốc đầu tiên vào thế kỷ thứ ba
đã nghe kể về truyền thuyết này, và nó đã được kể lại trong các cuộc tiếp xúc
sau đó giữa Phù Nam và Trung Quốc, và được ghi lại trong một số văn liệu lịch sử
Trung Quốc. Ngoài ra còn có 4 phiên bản khác nhau về cách thức thú vị
này.
-
Phiên bản đầu tiên có được từ báo cáo của 康泰* Khang
Thái vào thế kỷ 3 SCN và được lưu giữ trong các ghi chép về sau. Thủ lĩnh Phù
Nam đầu tiên là một phụ nữ có tên là 柳葉 Liễu
Diệp Liu-ye/Lieouye/liǝu-iäp.
Còn 混填* Hỗn
Điền Hun/ Ƴuǝn/
Houen-chen/ là người thờ một vị thần, có xuất sứ từ 摸趺國* Mạc
Phu quốc, nhờ được ban chiếc cung thần, đã khuất phục
được 柳葉* Liễu
Diệp và trở thành vị vua đầu tiên của Phù Nam [Pelliot 1925-
3[6].24 .
-
Phiên bản 2, văn liệu III-(3[6]): nữ thủ lĩnh người Phù Nam
là 柳葉* Liễu
Diệp. Còn 混填[潰]* Hỗn
Điền [Hội] là một người nước ngoài thờ các thần linh nên có được cây cung thần,
theo thương thuyền đến Phù Nam, khuất phục Liễu Diệp rồi cưới bà làm
vợ 25.
-
Phiên bản 3, văn liệu V-(4[6]): nữ thủ lĩnh người Phù Nam
là 柳葉* Liễu
Diệp. Còn 混填* Hỗn
Điền là một người 激國* Kích
quốc, có cây cung thần, đến Phù Nam, cưới Liễu
Diệp 26.
-
Phiên bản 4, văn liệu VI-(6[7]): nữ thủ lĩnh người Phù Nam
là 柳葉* Liễu
Diệp. Còn 混填* Hỗn
Điền là một người 徼国* Kiếu
quốc ở phương Nam, thờ các thần linh nên có cây cung thần, đến Phù Nam, cưới
Liễu Diệp. Họ cùng cai trị vương quốc và chia 7 thành cho các con
trai 27.
Như
Pelliot đã nhấn mạnh, trong vài thế kỷ, một số tích truyện về Phù Nam đã được kể
đi kể lại, nên
thay đổi một số chi tiết trong một số bộ sử Trung Quốc. Điều đó rất đúng với các
tích truyện từ thời tiền sử; và đó cũng là các tích truyện có ảnh hưởng nhất đến
các nhà tổng hợp hiện đại về lịch sử Phù Nam. Trong sự kiện tiền sử đầu tiên
này, việc hình thành hoàng tộc đầu tiên, không có bằng chứng cho thấy người
chinh phục đầu tiên có nguồn gốc Ấn Độ, cũng không có gì rõ ràng về việc ông là
một người Bà La Môn, và hầu như chắc chắn tên ông chỉ được ghi bằng tiếng Trung
Quốc chứ không phải là कौण्डिन्य* Kaundinya,
như chúng tôi sẽ giải thích dưới đây.
Về
vấn đề thứ nhất Pelliot đã đồng ý. Ông không thể đưa ra bất cứ gợi ý nào
cho 激國* Kích
quốc, 徼国* Kiếu
quốc, mà chỉ coi chúng là những biến thể của một cái tên duy nhất, và lưu ý
rằng 徼国* Kiếu
quốc ở phía nam Phù Nam. Còn về trường hợp 摸趺國* Mạc
Phu quốc, theo
báo cáo của Khang Thái, thì trong một đoạn khác của văn liệu này quê hương của
người lạ ấy lại có tên là Heng-tie,
trong khi đó theo Pelliot thì những chữ Hán Mo/Heng và Fu/Tie hoàn toàn tương
đồng và được người đi sau, không biết gì về các địa phương đó, đã chép thế cho
nhau. Để quyết định xem chữ nào giống với nguyên mẫu nhất, Pelliot đã sử dụng
phương pháp chọn “các chữ đã được sử dụng trong việc chuyển dịch [các tên nước
ngoài]” và ông đã chọn để kết hợp Mo-tie/mâk-d'iet 28.
Cách kết hợp đó có thể không chính xác, nhưng báo cáo dẫn hai từ “Heng-tie” cho
rằng nó nằm ở đông nam Yeou-po, cách Ấn Độ về phía đông nam 5000 hải lý. Trong
trường hợp đó thì nới mà Hỗn Điền khởi hành để đến Phù Nam có thể thuộc bờ biển
phía đông của bán đảo Mã Lai. Vì vậy mới có chuyện Coedès rất mù mờ trong việc
định vị địa điểm này như đã nói ở trên. Sự mơ hồ đó lại kèm theo với các huyền
thoại chính trị Indonesia trong đó “nhấn mạnh ...là...ở “bên kia biển” chứ không
có một địa điểm xác định” 29.
Còn
về cái tên của vị khách có âm tiết đầu là Hun/Ƴuǝn, còn âm tiết
thứ hai thì Pelliot vá víu với các chữ Hán trong bốn phiên bản trên thành Tien
hoặc D’ien để có thể chấp nhận được về phương diện ngữ âm học nhằm thể hiện một
cách hợp lý âm tiết thứ hai của cái tên Kaundinya. Tuy nhiên nếu đó là cái tên
gốc thì thật đáng ngạc nhiên là không hề có một văn bản nào nhắc đến âm tiết thứ
ba, vì như các nghiên cứu Hán tự đã nhấn mạnh, người Trung Quốc đã rất tài năng
trong việc chuyển âm một cách hệ thống ở nhiều khu vực tại châu Á, đặc biệt là
các vùng sử dụng ngôn ngữ Ấn Độ 30.
Về
phương diện định hướng tôn giáo cho Hun/Ƴuǝn các
nguồn gốc trên bán đảo Mã Lai của ông nói riêng mà Pelliot cho là có thể không
muộn hơn thế kỷ I, đã gây khó dễ cho việc chấp nhận ông thờ cúng một vị thần,
hoặc các vị thần, thì là người Ấn Độ. Hơn nữa, như đã chỉ ra bên dưới, bản thân
người Phù Nam thời gian đó không chắc chắn quen thuộc Ấn Độ. Trừ phiên bản thứ
nhất, cả ba phiên bản đều tiếp tục tích truyện bằng những cung cách khác nhau
như sau:
-
Phiên bản 2 III-(3[6]): dòng dõi của Liễu Diệp và Hỗn Hội cai
trị.
-
Phiên bản 3 V-(4[6]): con cháu của Liễu Diệp và Hỗn Điền cai trị đến
khi混盤況* Hun
Pan
huang Hỗn Bàn Huống chết 31.
-
Phiên bản 4, VI-(6[7]): Hỗn Điền và Liễu Diệp có một con trai và họ đã phân
phong cho người này một thái ấp gồm 7 thành. Một hậu duệ
là 混盤況* Hun
Pan
huang Hỗn Bàn Huống đã kiểm soát toàn bộ các thành, sau đó phân phong cho con
cháu cai trị 32.
Tiếp
đó, giai đoạn thứ ba trong ba phiên bản trên là:
-III-(3[6]):
các hậu duệ của Liễu Diệp và Hỗn Hội suy yếu và mất quyền thống trị. Sau đó viên
tướng 範熊* Fan
Hsiun/Siun Phạm Hùng bắt đầu một triều đại mới.
-V-(4[6]):
sau khi 混盤況* Hun
Pan
huang Hỗn Bàn Huống chết, người ta chọn viên tướng tài 范師蔓* Fan
Shih man Phạm Sư Mạn lên làm vua. Khi ông chết thì 范旃* Fan
chan,
Phạm Chiên, người cháu con chị gái của ông giết chết con cả
của 范師蔓* Fan
Shih man Phạm Sư Mạn và lên làm vua; sau đó một người con khác
của 范師蔓* Fan
Shih man Phạm Sư Mạn, là 范長* Fan
chang
Phạm Trường, giết chết 范旃* Fan
chan,
Phạm Chiên. Rồi viên tướng của 范旃* Fan
chan
Phạm Chiên là 范金* Fan
hsin Phạm Kim giết chết 范長* Fan
chang
Phạm Trường, và người dân nước này chọn ông làm vua. Điều đó xảy ra vào thời Ngô
(222-280), và Tấn (265 - 419) 33.
-
VI-(6[7]): người con thứ hai của 混盤況* Hun
P’an
huang Hỗn Bàn Huống là 盤盤* P’an
P’an Bàn Bàn nối ngôi và trao công việc quốc gia cho viên
tướng 范蔓* Fan
man Phạm Mạn [cũng chính là 范師蔓* Fan
Shih man Phạm Sư Mạn hoặc Sri Mara trong các tích truyện khác]. Sau
khi 盤盤* P’an
P’an Bàn Bàn chết, người dân tôn 范蔓* Fan
man Phạm Mạn lên làm vua. 范蔓* Fan
man Phạm Mạn đóng những con tàu lớn và chinh phục các quốc gia láng giềng, gồm
cả Tun sun Đốn Tốn. Ông được tôn là “Vị vua Vĩ đại của Phù Nam”. Sau đó là các
cuộc giết tróc nội tộc, rồi 范金* Fan
hsin Phạm Kim, viên tướng của 范旃* Fan
chan
Phạm Chiên lên ngôi 34.
Trong
các văn liệu Trung Quôc, còn một tình tiết khác trước khi bước vào giai đoạn
lịch sử cùng thời với các sứ bộ đầu tiên của Trung Quốc.
-
X-(3[5]): Trong thời 范旃* Fan
chan
Phạm Chiên [cháu của 范師蔓* Fan
Shih man Phạm Sư Mạn], một người nước T'an Yang đến Ấn Độ, sau đó đến Phù Nam và
ông ta đã kể cho 范旃* Fan
chan
Phạm Chiên về các phong tục, sự giàu có và vĩ đại của Ấn
Độ 35.
-
VI-(6[7]), 范旃* Fan
chan
Phạm Chiên phái một sứ bộ đến Ấn Độ. Ông ta đi dọc ven biển [phía tây của bán
đảo] sau đó đến con sông Ấn Độ [Hằng Hà?], mất một năm để tới được thành phố nơi
vua Ấn Độ trị vì. Vua Ấn Độ ngạc nhiên gặp ông, vì nhà vua không biết gì về Phù
Nam. Ông cử một phái bộ đến Phù Nam mang theo 4 con ngựa; phái bộ Ấn Độ cùng về
với phái bộ Phù Nam, và họ từ Ấn Độ về đến Phù Nam sau 4 năm kể từ khi phái bộ
Phù Nam được gửi đi Ấn Độ. Đó cũng chính là thời gian mà các phái bộ đầu tiên
của Trung Quốc đến Phù Nam. Họ hỏi những người Ấn Độ rất kỹ về đất nước Ấn
Độ 36. Với tình tiết này, chúng ta đang ở trong thời
đoạn lịch sử cùng các sứ bộ đầu tiên của Trung Quốc đến Phù Nam
khi 范金* Fan
hsin Phạm Kim lên làm vua. Vì vậy hai vụ sát hại nội tộc cuối cùng trong triều
đại Fan của 范旃* Fan
chan
Phạm Chiên do 范長* Fan
chang
Phạm Trường gây ra, và sau đó là do 范金* Fan
hsin Phạm Kim gây ra, đã diễn ra trong 4 năm khi phái bộ đi Ấn Độ.
Trong
các diễn giải này chúng ta thấy trước hết là một triều đại Hun với số thế hệ
không thể xác định được, tiếp theo đó là triều đại Fan rất ngắn rõ ràng là thuộc
thế hệ thứ ba, nói là “rõ ràng” bởi vì mối quan hệ
giữa 范金* Fan
hsin Phạm Kim với những người kế thừa trực tiếp không được ghi lại, đã trị vì
Phù Nam khi người Trung Quốc tới vào các năm 245 – 250
SCN 37.
Mặc
dù Pelliot muốn thấy cái tên Hỗn Điền mà trong thực tế là một hỗn hợp bốn cái
tên khác nhau (trong âm tiết thứ hai) trong bốn văn bản khác nhau, khi người
Trung Quốc dịch hai âm tiết đầu tiên [kaun-diri] từ cái tên Kaundin[ya], thì
việc diễn giải này được chuyển dịch có vẻ không hợp lý bằng tên tước vị hậu duệ
của ông là 混盤況* Hun
P’an
huang Hỗn Bàn Huống, trong đó âm tiết thứ hai và thứ ba không ăn nhập với âm
tiết thứ nhất để có được bất kỳ một cái tên hoặc một tước vị nào của Ấn Độ đã
biết; còn riêng từ kaun không được dùng làm đại diện cho cái tên 'Kaundinya'
hoặc bất cứ cái tên nào khác được. Chúng ta phải kết luận rằng Hun/Ƴuǝn là
một tên thị tộc hoặc một tước vị tiền sử Austronesian hoặc Mon-Khmer mà trong
huyền thoại gốc của Phù Nam chính là tước hiệu của các thủ lĩnh, có lẽ là huyền
thoại, đầu tiên38. Dưới đây chúng tôi sẽ đưa thêm bằng chứng khác cho
thấy Hun/Ƴuǝnkhông hề có
liên hệ gì với cái tên 'Kaundinya' cả. Các tích truyện kể về vị thủ lĩnh Hun đầu
tiên đã trao cả 7 thành cho các con trai ông cũng quá mơ hồ đối với một nghiên
cứu nghiêm túc, và các tích truyện đó thuộc về một truyền huyền thoại rất phổ
biến ở Đông Nam Á. Vì vậy trong các truyền thống Lào những người sáng lập đầu
tiên của vương quốc này đã cử các con trai họ đi lập 7 chính thể khác nhau, được
gọi là Mường trong
tiếng Thái và tiếng Lào 39. Pelliot chắc chắn cũng hiểu
rõ tính chất mong manh trong sáng tạo của ông, nhưng vẫn phải bảo vệ nó với một
chút khẩn nài riêng biệt. Trong công trình nghiên cứu đầu tiên của mình, ông
thừa nhận rằng “nguồn thông tin duy nhất về khởi đầu lịch sử của vương quốc cổ
này mà chúng ta có được lại mang đặc trưng huyền thoại”; và ông đã dịch hai từ
tiếng Hán 柳葉 Liu
ye/Lieouye/liǝu-iäp là
“người trị vì mơ hồ Lá Liễu”. Hai mươi hai năm sau ông đã lưu ý về tính chất
không chắc chắn của các tên địa danh và vị trí của chúng khi nói rằng tích
truyện về Kaundinya rành rành là có đặc tính truyền thuyết, và chi tiết về chiếc
cung thần không là cái gì khác ngoài một đặc trưng dân gian. Nhưng ông vẫn biện
hộ rằng “tuy nhiên cũng đã có một thời, khi đó các vị Bà La Môn đầu tiên xuất
hiện ở Phù Nam, và khi đó nền văn minh Ấn Độ đã bén rễ. Tại sao lại là vô lý khi
một Kaundinya thực sự là một trong những tác nhân chủ yếu của quá trình Ấn Độ
hóa đó?” 40.
Trước
hết, ngay cả khi không có bất cứ lợi ích gì của sự nhận thức muộn màng dưới dạng
các nghiên cứu sau này về quá trình “Ấn Độ hóa”, thì cái thời được gán cho Hỗn
Điền, thế kỷ I SCN cũng là quá sớm. Không hề có bằng chứng về quá trình Ấn Độ
hóa [tôn giáo, nghệ thuật, kiến trúc, các khái niệm về nhà nước] ở bất cứ nơi
nào tại Đông Nam Á vào thời điểm đó. Hơn nữa, bản thân người Phù Nam cũng không
hề thừa nhận Hỗn Điền là người đem đến cho họ văn hóa Ấn Độ, mà họ cho rằng họ
hoàn toàn mù tịt về Ấn Độ trước thời 范旃* Fan
chan
Phạm Chiên trị vì, rõ ràng là vào đầu thế kỷ III SCN. Pelliot biết rõ về điều
này và bị rắc rối với chính nó, nhưng ông đã gạt nó sang một bên bằng cách nói
“có lẽ chúng ta không nên hiểu văn bản chỉ theo nghĩa
đen” 41.
Và
với sự nhận thức học thuật muộn màng, tôi nghĩ một số ít người sẽ không còn biện
hộ cho ảnh hưởng của Ấn Độ là do các Bà La Môn vào bất kỳ thời gian nào, hoặc
cho rằng “Nền văn minh Ấn Độ đã được cấy vào”. Đây là các yếu tố học thuật của
văn hóa dân gian sớm ở Đông Nam Á cần phải được thay thế bằng các cấu trúc mới.
Như Pierre-Yves Manguin đã lưu ý “Không gì có thể ít chính xác hơn quan điểm của
Coedès về tính chất lạc hậu của Đông Nam Á trước khi có người Ấn Độ giáo tới].
Các nghiên cứu khảo cổ học trong vòng ba mươi năm nay đã chứng minh rằng quá
trình “Ấn Độ hóa” [Đông Nam Á] trong thế kỷ I SCN đã diễn ra sau khoảng một
thiên niên kỷ giao lưu đều đặn với Ấn Độ, trong đó các nhóm cư dân Đông Nam Á
bắt đầu tự tổ chức thành các hệ thống chính trị với mức độ phức hợp ngày càng
tăng, đã đóng vai trò quyết định, đặc biệt là trong việc hình thành mạng lưới
thương mại biển khai thác vàng và
thiếc” 42.
Tích
truyện về người anh hùng khai sáng đến từ bên kia biển là một thành tố của các
huyền thoại khai sáng phổ biến rộng rãi, trong đó một vị vua hoặc một anh hùng
từ nước ngaoif tới cưới con gái của một thủ lĩnh địa phương, mà trong thực tế
không ai lại coi đó là một diễn giải lịch sử có thật 43.
Bên cạnh hoàn cảnh mà những cái tên Hun/Ƴuǝn không
cho phép phục hồi lại thành “Kaundinya”, thì tên của người nữ thủ lĩnh Phù Nam
bị Hun/Ƴuǝn khuất
phục cũng vẫn còn được để ngỏ cho việc diễn giải tiếp. Cái tên Liu ye/Lieou
ye/liǝu-iäp đã
được các sử gia lấy lại của Pelliot năm 1903 theo nghĩa đen, Lá Liễu [feuille-de-saule].
Tuy nhiên Pelliot đã bị rắc rối với vấn đề này, vì ở Cambodia làm gì có cây
liễu. Ông gợi ý rằng đã có một chuỗi nhầm lẫn trong việc chuyển dịch ra tiếng
Hán, vì vậy mà một từ gốc là 椰子* da
tử, dừa
đã được dịch thành 柳* liễu vì
hai chữ này rất giống nhau. Nếu đúng như vậy, ông nói, thì có thể ở Phù Nam có
thị tộc dừa “giống như thị tộc dừa mà chúng ta đã biết ở Champa
cổ” 44.
Quan
điểm này có vẻ mâu thuẫn bởi việc mổ xẻ vô cùng kỹ lưỡng niên đại công trình của
người Pháp về bi ký Cham của Jean Boisselier. Theo Boisselier “việc đề cập đến
các bộ tộc क्रमुकवंश* KramukavamšaCau
và नारिकेलवंश* NarikelavamšaDừa
xuất hiện rất muộn [thế kỷ 11], và hầu như ngẫu nhiên trong bi ký Chăm...trong
bất kỳ trường hợp nào cũng không cho phép đưa các ý tưởng này lui về đến thế kỷ
8”; và “Các bộ tộc này, chẳng liên quan gì đến điều mà G. Maspero đã nói về họ,
chắc chắn không là gì khác hơn những gia đình thủ lĩnh địa phương, dường như
không có bất kỳ vai trò quan trọng nào trước...Ông hoàng Than” (thế kỷ
11) 45.
Nếu
đúng như vậy thì có lẽ cần phải tính đến một cách diễn giải mới về “Lá
Liễu”. Mặc dù
Pelliot chắc chắn rằng Liǝu-iäp không
phải là một cách chuyển âm một cái tên địa phương thành các chữ Hán, nhưng thay
vì cố gắng đi tìm để phục hồi nghĩa đen của cái tên địa phương, tôi cho rằng có
lẽ chúng ta nên xem xét khả năng ngược lại, có thể Liǝu-iäp chỉ
là một cách mà người Trung Quốc diễn đạt ngữ âm học cái tên đó mà không hề quan
tâm gì đến nghĩa đen của nó khi thể hiện bằng các chữ Hán. Điều đó có nghĩa là
cái tên gốc có thể là một cái tên nào đó như “Liv/liu-eap”, hoặc
“Liv/liu-yeap/yàp”. Ngữ âm này không gợi lên bất cứ một mối liên quan trực tiếp
nào, nhưng nó lại là một cái tên có nghĩa tương tự với những cách chuyển dịch
cái tên Chenla/ Ts'iën-lâp [眞臘*],
Lin-i/ Liǝm-iǝp [林邑*] sang
chữ Hán, v.v...trong đó người Trung Quốc cổ cho thấy rằng những cái tên địa
phương có âm tiết cuối là /p/, một đặc trưng ngữ âm học thông dụng trong tiếng
Khmer và các ngôn ngữ Đông Nam Á
khác 46.
______________________________
Còn
nữa...
Nguồn: Funan Reviewed :
Deconstructing the Ancients. In: Bulletin de l'Ecole
française d'Extrême-Orient. Tome 90-91, 2003. pp. 101-143.
* Ghi chú của người
dịch: Các từ có đánh dấu sao [*] là do tôi, Hà Hữu Nga, trộm tìm, dịch sang
tiếng Phạn, tiếng Hán, và tiếng Việt để tiện cho bản thân trong việc nghiên cứu,
so sánh và xác định nghĩa của từ mà thôi.
Chú
thích
1.
Câu truyện này diễn ra trong thời gian 1999- 2002 khi tôi đang giảng dạy môn
Lịch sử Cambodia tại Khoa Khảo cổ của Đại học Hoàng gia Nghệ thuật, Phnom Penh,
Cambodia.
2.
Xem Charnvit 1976, chapter 4; Vickery 1979, pp. 145-151. Bản tiếng Thái tôi
nghiên cứu viết “kamphut”, Charnvit và những người khác hầu hết đều đồng nhất
với cái tên “Kamboja”, xuất hiện trong các truyện huyền thoại khác bằng tiếng
Thái, và được coi là thuộc miền trung Thái Lan. Tuy nhiên, như tôi đã diễn giải
trong Vickery 1977, pp. 369-377, hai cái tên kambujd, 'kamphuť, đều có
nghĩa là “bắt nguồn từ kambu/và kamboja”, tên của
một quốc gia trong địa lý học huyền thoại thời cổ đại Ấn Độ, sau đó được thay
bằng các bộ phận thuộc Mianma và Thái Lan, là hoàn toàn khác nhau, kể cả về
nguồn gốc lẫn từ nguyên. Về nghĩa của từ Thongvà ảnh hưởng
của tiếng Thái trong huyền thoại Cambodia, xem Coedes 1951b, p. 118.
3.
Các bi ký đề cập đến Kaundinya gồm có K. 263, K. 268, K. 483, K. 528, K. 669, K.
806. Kaundinya chỉ xuất hiện trong một bi ký thuộc giai
đoạn Phù
Nam, K.5 Gunavarman [गुण वर्मन्*người
bảo vệ có công lao, tài năng, đức hạnh*]. Bi
ký Champa trong công trình của Finot 1904, tr.923. Các tài liệu tham khảo bi ký
Cambodia có thể tìm trong mục K công trình Coedès 1966.
4.
Sự khác nhau giữa Liv
Yi và Somâ đã
được Porée-Maspero 1950, p. 247 chú thích rõ ràng, tuy nhiên bà vẫn cảm thấy
rằng mối liên hệ quan trọng giữa toàn bộ các tích truyện là “tầm quan trọng của
người phụ nữ” với tư cách là thủ lĩnh, hoặc người sáng lập một triều đại. Bà
cũng không nhận ra được nguồn gốc rất muộn của các tích truyện
về Preah Thong, mặc
dù vẫn ghi chú ở trang 252 rằng cái tên Thoň rất
gần gũi với tên Toň trong
một huyền thoại tương tự của người Lào, có nghĩa là vàng. Tất nhiên
trong thời gian Porée-Maspero viết công trình trên, việc những người nói tiếng
Thái xuất hiện muộn tại vùng bây giờ gọi là trung Thái Lan, nơi có thể tác động
ảnh hưởng đến Khmer, vẫn chưa được thừa nhận. Porée-Maspero đã có những nhận xét
rất hữu ích về thông sử Phù Nam, vốn chưa được chú ý đầy đủ, và còn thiếu độ tin
cậy, không nghi ngờ gì nữa, rõ ràng là các nhận xét đó không lẫn với lý thuyết
không thể chấp nhận được của bà về hôn nhân hoàng gia liên tộc giữa hai thị tộc
với hơi hướng hoàng gia được truyền qua người phụ nữ, cho dù đó là mẹ, vợ hay
chị em gái. Coedès 1951b đã phê phán rất hay về vấn đề này.
5.
Nhiều nỗi kinh hoàng của các cuộc chiến mới đây tại Yugoslavia cũ là kết quả của
những áp đặt hệt như vậy của dã sử như là những diễn giải chính thức về quá khứ.
Các hiện tượng tiêu cực như vậy không phải không được biết đến ở Đông Nam Á, kể
cả Cambodia.
6.
Coedès 1964a, và bản dịch tiếng Anh trong Coedès 1968; Vickery
1999b.
7.
Một số học giả châu Á hiện đại, mà cách gọi “các nhà Đông phương học” không còn
chính xác về phương diện chính trị vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh như vậy. Có thể
xem một ví dụ tiêu biểu trong Reynolds 1995, p. 421.
8.
Coedès 1964a, p. 76; Coedès 1968, p. 37. Những cái tên chính xác chỉ người và
địa danh trong lịch sử Phù Nam sẽ được dẫn trước theo bản tiếng Anh của Coedès,
tiếp theo là bản tiếng Pháp trong công trình về Phù Nam của Pelliot (xem ở
dưới), và được nhắc lại trong nguyên bản tiếng Pháp của Coedès, cũng như ở những
chỗ hữu dụng bằng các âm tiếng Hán cổ, có nghĩa là theo trật tự Anh/Pháp/âm cổ.
Vì vậy, các âm Liu-ye/LieouFunan yd*lidu-iap được ghi cả bằng tiếng Anh, tiếng
Pháp và âm Hán cổ. Sau trích dẫn đầu tiên đến bản tiếng Anh. Những cố gằng liên
hệ các tên cổ với các tên hiện đại phải được tiến hành thông qua ngữ âm cổ, đặc
biệt liên quan đến những dấu chấm câu đã bị mất đi trong các văn bản tiếng Trung
Quốc hiện đại, nhưng nó lại đặc trưng cho cả tiếng Khmer cổ và hiện đại cũng như
các ngôn ngữ khác của Đông Nam Á. Ngữ âm cổ được dẫn từ công trình của Pelliot
1925 và của Wheatley 1983. Đôi khi chữ Hán cổ cũng được gọi là chữ Hán Trung
đại, là âm thời đại Đường, từ các năm 618 – 906, do Karlgren 1923 [1974] khôi
phục thông qua việc so sánh giữa một vài phương ngữ Trung Hoa, và cho phép khoi
phục các phụ âm đầu tiên đã thay đổi và các dấu chấm câu đã biến mất trong tiếng
Hán hiện đại. Toàn bộ các phần dịch từ tiếng Pháp, trừ Coedès 1968, trong bài
viết này đều là của tôi.
9.
Trong bản dịch tiếng Anh từ hinduization của
Coedès đã được thay đổi thành indianization, một
loại hiệu chỉnh mang tính chính trị trước chữ viết hoa; nhưng chúng ta không nên
quên rằng Coedès viết và suy nghĩ về Hinduization, và
các quốc gia Hindu ở
Đông Nam Á.
10.
Để biết chi tiết về phê bình các truyện cổ Phù Nam – Chân Lạp, xem Vickery 1994,
và Vickery 1998, chương 2.
11.
Coedès 1964a, p. 130; Coedès 1968, p. 68; và Coedès 1943-46, pp. 3-4. Để có một
cái nhìn khác nhau về việc xác định địa điểm Naravaranagara,
dựa nhiều vào bi ký có cái tên này, xem Vickery 1998, tr. 352-353, và thảo luận
ở đoạn dưới.
12.
Pelliot 1903, pp. 274, 283. Không có bi ký tiền Angkor nói về một vị thủ lĩnh
tối cao là kuruň, còn trong
thời nhà Tùy thì không có bi ký Khmer nào có tên một vị vua. Các thủ lĩnh tối
cao và một số thủ lĩnh cấp thấp hơn, trong thế kỷ thứ 7 mang tước vị Khmer là vrah
kamratáň, chỉ thấy trong tiếng Khmer, không thấy trong chữ Phạn; và tước vị
thủ lĩnh duy nhất rõ ràng được gọi là kuruň là kuruň Malen,
có lẽ là một vị trí ở Battambang hoặc Pursat, trong bi ký K. 451/A.D. 680. Xem
Vickery 1998, tr. 36, 44, 138, 188-189, 196-197, 249-250, 361.
Về kuruň
bnam, xem Finot 191 1, tr. 203 và Jacques 1979, tr.
375.
13.
Pelliot 1903, tr. 274.
14.
Pelliot 1903, tr. 262, 290; và xem thảo luận bên dưới.
15.
Để biết được đánh giá thêm về khía cạnh này trong công trình của Coedès, xem
Maurel 1998, tr. 235-238.
16.
Pelliot 1903, tr. 248-303. Xem thêm Pelliot 1925.
17.
Để nắm được các nhận xét rõ ràng về vấn đề này, xin
xem Wheatley
1983, p. 120; "Không may là không thể hoàn toàn phân lập được một số lớp thông
tin liên quan đến Phù Nam đã bị tan chảy lẫn nhau trong các văn liệu Trung
Quốc"; "khó mà đảm bảo chắc chắn về nguồn gốc của bất kỳ hạng mục thông tin nào,
vì các nhà phân tích Trung Quốc ... rất dễ kết hợp ... bất kỳ tư liệu nào thích
hợp dễ dàng có được, tuy nhiên có thể xác định được niên đại"; và tr. 153, chú
thích 12 "một ví dụ cực đoan nhất của thực tiễn thấy trong ... [một công trình]
năm 1609, nhưng vẫn duy trì những tư liệu không thay đổi từ ... thế kỷ 3 SCN
[trong đó] đến đoạn viết về Đốn Tốn ... [tác giả] đã bổ sung một bức tranh về
một cư dân được ấn định bằng cách phù hợp với vùng Trung Quốc hơn là đối với
Đông Nam Á".
18.
Các ví dụ ở đây là 4 cái tên khác nhau đã được dùng để gọi người sáng lập huyền
thoại Phù Nam, và cái tên Ấn Độ Chan-t'an, được thảo luận ở
dưới.
19.
Pelliot 1903, p. 295.
20.
Ở đoạn cuối, Coedès (1951) đã lúng túng trong việc phê phán lý thuyết của
Porée-Maspero bằng cách tuyên rằng “ở Phù Nam giống như ở Cambodia chúng ta đang
đề cập đến các quốc gia Ấn Độ hóa”, và “việc truyền ngôi...chỉ là một trong
những khía cạnh của vấn đề thâm nhập của nền văn minh Ấn Độ và các nền văn minh
bản địa trong các quốc gia Ấn Độ hóa, và sự chú ý trong nghiên cứu của bà đã
vượt ra khỏi cái khung lịch sử địa phương”. Như tôi đã chỉ ra trong Vickery
1998, chương 6, chính các tước vị Hoàng gia Cambodia và các đẳng cấp cao khác đã
cho thấy các địa vị của họ đã được tạo thành trước khi thấm nhập bất cứ một cái
gì từ Ấn Độ. Porée-Maspero đã đúng khi nghiên cứu lý giải bằng “khuôn khổ lịch
sử địa phương”, ngay cả khi diễn giải của bà bị hiểu sai.
21.
Porée-Maspero 1969, pp. 791-799. Tôi không biết tiếng Trung Quốc, và vì vậy
trong lĩnh vực này tôi dựa vào công trình của các học giả khác, mà hầu hết là
các công trình trước đây. Đã đến lúc những người thạo tiếng Hán phải xem xét lại
toàn bộ các ghi chép của người Trung Quốc về Đông Nam Á thời gian đó, nhạy bén
với các vấn đề về sử ký Đông Nam Á, và quen thuộc với các công trình học thuật
mới trong vòng 30 năm gần đây. Thực ra đã có người có đủ các điều kiện và đã bắt
tay vào công việc này, đó là Tatsuo Hoshino, nhưng mặc dù đã đưa ra một số gợi ý
hữu ích, nhưng phương pháp luận của ông làm cho các tổng hợp trở nên khó chấp
nhận, thiếu các luận giải cụ thể, cách đó nhiều chuyên gia khác cũng làm được.
Tuy nhiên ở một số vấn đề, ông đã chỉ ra các lỗi lầm trong việc đọc, hoặc diễn
giải khiên cưỡng của các học giả đi trước. Ở những chỗ thích hợp, tôi sẽ trích
dẫn những gì mà tôi cho là hữu ích; cũng xin thông báo trước rằng về tổng thể,
tôi không chấp nhận các diễn giải của ông. Xem Appendix I.
22.
Từ “contemporaneity” cùng thời, đương thời được sử dụng trong trường hợp này rất
lỏng lẻo. Các bộ sử Trung Quốc trong đó các tư liệu như vậy về nước ngoài còn
lưu giữ lại thường được soạn muộn hơn nhiều so với niên đại của các tư liệu gốc;
vì vậy khi kể lại trong các bộ sử về sau, thì thông tin thường trở nên xa lạ đối
với ác sử gia Trung Quốc khi các câu truyện truyền miệng lần đầu được nghe các
sứ bộ đến Phù Nam kể lại vào thế kỷ thứ ba SCN. Lần cuối cùng Pelliot lựa chọn
niên đại mà sứ bộ đến Phù Nam là khoảng năm 245 - 250, trong khi lần đầu tiên
ông xác định là năm 225 – 230, xem Pelliot 1903, pp. 303 and
292-293.
23.
Vì sợ rằng người châu Âu giễu cợt các huyền thoại châu Á, nên hãy để họ không
quên tích truyện Romulus và Remus đã được một con chó sói nuôi dưỡng; Brut, cháu
của Aeneas, người sáng lập đất của dân Brestons, Anh quốc; hoặc Frankon, con
trai Hector là tổ tiên của dân Franks. Xem Vickery 1979, pp. 129-130; and
Friedman 1987. Còn loại truyền thuyết kiểu này ở Indonesia, có thể xem Manguin
1991.
24.
Pelliot 1925, pp. 245-246. Vì tiếp theo tôi đã đập vụn các phiên bản ra để so
sánh theo từng giai đoạn, nên tôi đã gán cho chúng những cái nhãn phân loại.
Nhãn phân loại được tạo ra như sau: các tài liệu trong đó có chứa các phiên bản
[thế kỷ gốc soạn thảo phiên bản đó]. Phiên bản đầu tiên chỉ có duy nhất trong
Pelliot 1925. Đối với các phiên bản trong Pelliot 1903, việc đánh dấu tư liệu
đầu tiên được sử dụng bằng các số La Mã đã được chính Pelliot sử dụng. Phiên bản
cổ nhất này không có trong Pelliot 1903; và ở đây Pelliot đã sửa đổi các quan
điểm trước đó của ông về tôn giáo của người khách ngoại quốc kia. Trong Pelliot
1903, tr. 254, n.5, ông cho rằng việc thực hành “thờ cúng các thần linh”, “thêm
vào ý nghĩa thông dụng của nó ...thường được dùng để định danh là dòng Bà La
Môn”, nhưng trong Pelliot 1925, tr. 245-246, n.5, ông xác định rằng từ chữ
Hán 神 thần,
trong tất cả các ngữ cảnh này cần phải được dịch là số ít chứ không phải là số
nhiều, và thêm vào chữ thần thì “dùng chữ Thiên là đúng”. Điều đó chưa chắc đã
thể hiện đó là Đạo Bà La Môn, mặc dù Pelliot vẫn kiên trì rằng “ngay trong
trường hợp này tôi vẫn tin rằng đó là một câu hỏi về một dòng Bà La Môn”. Những nhận
xét hữu ích về vấn đề này có thể thấy trong Porée-Maspero 1969, tr. 954-955. Để
biết thêm về ngữ âm học cổ đại Hun/Ƴuǝn xem
Wheatley, tr. 121; những vấn đề khác, xem Pelliot 1925. Để có thêm thảo luận về
các huyền thoại sáng tạo và các nguồn tư liệu tiếng Trung Quôc mà tôi chưa kịp
xem để thảo luận rốt ráo tại đây, và với các nguồn này tôi không đồng ý về nhiều
chi tiết, xin xem Népote 1999.
25.
Pelliot 1903, tr. 254, trong đó Pelliot gợi ý rằng chữ 潰 houei Hội
là viết nhầm của từ gốc 填 T’ien, Điền.
Tôi không có bản tiếng Anh dịch chữ houei, và cũng không có phiên âm cổ của từ
này.
26.
Pelliot 1903, p. 256.
27.
Pelliot 1903, p. 265.
28.
Pelliot 1925, pp. 247-248.
29.
Manguin 1991, tr. 49. Một khác biệt rõ ràng giữa các huyền thoại Indonesia và
các huyền thoại Phù Nam, trong huyền thoại Indonesia thì các thủ lĩnh địa phương
là đàn ông và họ là những người chiến thắng người khách lạ, thường là một thương
nhân, nhưng chúng ta cũng không được quên rằng huyền thoại Phù Nam được các nhà
biên niên sử Trung Quốc ghi nhận và có lẽ đã chịu ảnh hưởng của các định kiến
của chính họ (nhờ đó người Phù Nam có thể coi Liễu Diệp đã thắng), còn huyền
thoại Indonesia thì được định niên đại từ “cuộc bùng nổ kinh tế thế kỷ 15-17”
[Manguin 1991, p. 53].
30.
Xem Wheatley 1974, tr. 97, chú thích 2, và tr. 100; Wheatley 1983, tr. 147, chú
thích 2.
31.
Pelliot 1903, tr. 257.
32.
Pelliot 1903, tr. 265-266; với cổ âm do Wheatley phục hồi, tr.
121.
33.
Pelliot 1903, tr. 257. Để có thêm nhận xét về một vấn đề liên quan đến bản tính
của Fan-shih-man, xem “Phù Nam ở đâu?” bên dưới.
34.
Pelliot 1903, tr. 265-267. Hai tên địa danh khác do Fan Shih man chinh phục là
K'iu touk'ouen và Kieou-Tche được ghi trong văn bản, nhưng Pelliot không thể cắt
nghĩa được. Để biết thêm các cố gắng ngoạn mục về phương diện này, xin xem
Wheatley 1961, tr. 21 (Ch'i-tu-k'un) và tr. 23 (Chiu-chih), cũng như Stein
(1947: 1 17-120), là người có thể đã bị hiểu sai bởi việc xác định không thể
chấp nhận được về Srï Mаrа, bia Võ Cạnh, với Fan Shih Man. Tuy nhiên Tun-sun Đốn
Tốn sẽ được giải thích rõ bên dưới, vì rất quan trọng về phương diện xác định
tộc thuộc.
35.
Pelliot 1903, tr. 277-278. Pelliot 1903, tr. 292, cho rằng T'an Yang "có thể nằm
ở Tây Ấn Độ”.
36.
Pelliot 1903, tr. 271. Chi tiết cho rằng phái bộ Trung Quốc thời Fan Hsiin được
ghi nhận trong Pelliot 1903, tr. 268. Jacques 1995a cho rằng con sông ở Ấn Độ
phải là sông Ấn hà.
37.
Trong một công trình nghiên cứu khác tôi đã gợi ý rằng tước vị fan/biǝm chính là
một tước vị quan đầu huyện rất phổ biến trong các bi ký Khmer thế kỷ 7. Xem
Vickery 1998, tr. 190-204, 446. Nếu điều đó là đúng thì Fan Hstin có lẽ là một
người anh em hoặc cháu của Chan. Coedès 1962, tr. 73, n. 2 viết rằng “cái tên
Fan này...được viết bằng cùng một chữ được dùng để ghi tên thần Brahma” khi ám
chỉ rằng đó là một dấu hiệu chứng tỏ ảnh hưởng Ấn Độ. Trong trường hợp này
Coedès đã nhầm lẫn. Chữ này có ký hiệu 626e trong Karlgren 1957, theo Karlgren
lại không được sử dụng cho bất kỳ khái niệm Ấn Độ nào. Một chữ fan khác, tiết
18, chữ thứ tư, trong Karlgren 1974, tr. 40, đã được sử dụng bằng chữ Hán để chỉ
tiếng Phạn là tiếng “fan”, Brahma là vua “fan”, Ấn Độ là nước “fan”, và thậm chí
trong một số trường hợp thì Phật giáo cũng được gọi là “fan” viện, có nghĩa là
Phật viện. Nó được sử dụng để thể hiện cả Brahma và Brahman, còn Từ điển Từ
nguyên tiếng Hán thì ghi chú đây là phần đầu của biểu tượng đơn vị âm học
Brahma”. Thông tin này có được là nhờ Tiến sĩ Geoff Wade thuộc Đại học
Singapore. Sự khác biệt được lưu giữ trong tiếng Việt trong đó chữ đầu tương
đương với chữ fan của
Phù Nam được viết là phạm, còn chữ thứ
hai có nghĩa Sanskrit thì
được viết là phạn. Coedès tiếp
tục “Điều đó liên tục được coi là cách chuyển dịch chữ “braman”, sau đó là
varman...cuối cùng là tên bộ tộc xác định yếu tố bản địa của hoàng gia ngược lại
với yếu tố Ấn Độ” [Stein 1947, pp. 252, ff., 319]”. Trong ba cái tên đó chỉ có
cái tên cuối cùng là có lý, nhưng trong thời gian đó, như cần phải rõ ràng ở
đây, có lẽ vẫn không hề có một “yếu tố Ấn Độ” nào trong hoàng
tộc. Varmanluôn luôn là
yếu tố cuối cùng trong các tước vị, trong khi fan luôn
luôn đứng trước tên. Cách thức tốt nhất là giả định rằng fan là một tước hiệu
thể hiện cấp bậc, và cho dù mức độ tương hợp không đủ để thỏa mãn các nhà ngôn
ngữ học thuần túy, nhưng poň là
khả năng duy nhất thấy trong bi ký học. Địa vị tương ứng cũng thích hợp. Người
Trung Quốc gọi fanlà
tướng trước khi trở thành vua, còn poňkhi xuất hiện
trong bi ký thế kỷ thứ 7, ở dưới vua một bậc [Vickery 1998, tr.
190-204].
38.
Xem Porée-Maspero 1969, tr. 795-796 về việc định danh mơ hồ cái tên Kaundinya,
nhưng trong đó bà đã cố lạm dụng để kết nối với một huyền thoại không tương hợp
về “một người anh hùng đã sống qua cơn hồng thủy”. Hoshino 1993, tr. 19 cũng
nhận ra vấn đề này khi cho rằng “Tôi ngờ là cái tên Kaundinya đã được gán ghép
từ những chữ khác nhau. Hun có thể so sánh với tước vị Fan của các vị vua và
tướng lĩnh Phù Nam” và có thể đó là một từ có gốc Nam Á, Nam phương ...kể cả Nam
Đảo”. Với quan điểm đó, nếu Hoshino có ý định cho rằng hun và fan có
thể là những cách chuyển dịch khác nhau của cùng một tước vị địa phương thì có
lẽ tôi không đồng ý.
39.
Để có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn này, xem Martin Stuart-Fox 1998, pp.
25-26. Cần nhớ rằng còn có một tích truyện như vậy trong các truyện cổ Lào, tối
thiểu là với hai cách xác định khác nhau về việc người khai sáng có 7 con trai,
đó là Khun Bulom/Borom, và Khun Lô Kham. Cũng cần lưu ý thêm là Bulom/Borom,
trong một số phiên bản được viết là bolomensuvan, परमेश्वर* paramešvara, Thần
vương, thụy hiệu của Jayavarman II, người sáng lập Angkor, có một tiểu sử mơ hồ
chẳng khác gì Khun Bulom. Người khai sáng truyền thống Malacca cũng là một người
nước ngoài và cũng được gọi là परमेश्वर paramešvara, Thần
vương, đến từ bên kia biển [Wheatley 1961, tr. 307-308].
40.
Pelliot 1903, tr. 290-291; Pelliot 1925, tr. 249.
41.
Pelliot 1903, tr. 291. Hãy so sánh điều này với sự cực kỳ miễn cưỡng của ông
trong Pelliot 1903, tr. 300, để hiệu chỉnh văn bản tiếng Hán, nếu có
thể.
42.
Xem Vickery 1998, tr. 51-60; Manguin 1999, dịch từ tiếng Pháp. Đặc trưng huyền
thoại của tích truyện Hun-t'ien/Kaundinya cũng được Mabbet và Chandler [1995,
tr. 71] đề cập.
43.
Chẳng hạn, xem Friedman 1987.
44.
Pelliot 1903, tr. 245, n. 2.
45.
Boisselier 1963, tr. 61-62, trong đó Boisselier xác quyết rằng các ghi chú G.
Maspero liên quan đến các bộ tộc này là "assez aventureuses" khá mạo hiểm, và
tr. 230.
46.
Ngữ âm học Hán cổ của Wheatley 1983. Các cách thể hiện những cái tên Đông Nam Á
bằng chữ Hán gồm có hai loại, một loại thì cố gắng dịch âm tên nước ngoài bằng
các chữ Hán, còn một loại thì dịch nghĩa các tên gọi đó. Chen-la [眞臘*]
, Lin-i [林邑*] rõ
ràng thuộc loại đầu, trong khi Chi-tu [赤土*] Xích
Thổ vẫn được coi là bán đảo Mã Lai thì thuộc loại thứ hai. Xem Wheatley 1961,
tr. 26-36.
Tài
liệu dẫn
Anderson,
John 1981, English Intercourse
with Siam in the Seventeenth Century, Bangkok, Chalemmit
Bookshop.
Aymonier,
Etienne 1903, Le Fou-nan,
Journal Asiatique 10/1 (janv.-fév. 1903), pp. 109-150.
Bellwood,
Peter 1992, Southeast Asia Before
History, The Cambridge History of Southeast Asia, vol. I, pp.
55-136.
Bergaigne,
Abel 1882, Les inscriptions
sanscrites du Cambodge, Journal Asiatique, pp. 1-56.
Blust,
Robert 1992, The Austronesian
Settlement of Mainland Southeast Asia, in Papers from the Second Annual Meeting
of the Southeast Asian Linguistics Society, edited by Karen L. Adams and
Thomas John Hudak, pp. 25-83. Arizona State University, Program for Southeast
Asian Studies, Tempe, Arizona, 1994.
Brown,
Robert L. 1996, The Dvaravati Wheels
of the Law and the Indianization of South East Asia, Leiden,
Brill.
Boisselier,
Jean 1963, La statuaire du
Champa, Paris, École française d'Extrême-Orient.
Boisselier,
Jean 1965, Nouvelles données sur
l'histoire ancienne de la Thaïlande, Conférence, Alliance française/Centre
culturel [Bangkok]. Seven pages, no pagination, introduction by Marie-Jean
Vinciguerra, Attaché culturel.
Boisselier,
Jean 1966, Le Cambodge, 1. 1,
in Asie du Sud-Est, première partie, Manuel d'Archéologie d'Extrême-Orient,
Paris, Éditions A. et J. Picard et Cie.
Charnvit
Kasetsiri 1976, The Rise of
Ayudhya, Kuala Lumpur, Oxford University Press.
Coedès,
George 1928 E.C. 21, La tradition
généalogique des premiers rois d'Angkor d'après les inscriptions de Yaçovarman
et de Râjendravarman, BEFEO 28, pp. 124-40.
Coedès,
George 1931 E.C. 25, Deux inscriptions
sanskrites du Fou-Nan, BEFEO 3 1 , pp. 1 - 1 2.
Coedès,
George 1938, Le fondateur de la
royauté angkorienne et les récentes découvertes archéologiques au Phnom
Kulên, Cahiers de l'École française d'Extrême-Orient 14, pp. 40-48;
republished in George Coedès, Articles sur le pays khmer, Tome II, pp.
277-284.
Coedès,
George 1942, Inscriptions du
Cambodge, Vol. 2, Hanoi, EFEO.
Coedès,
George 1943-46, Quelques précisions
sur la fin du Fou-nan, BEFEO 43, pp. 1-8.
Coedès,
George 1948, Les États hindouisés
d'Indochine et d'Indonésie, Paris, Ed. de Boccard
Coedès,
George 1951a, Inscriptions du
Cambodge, Vol. 3, Paris, E. de Boccard.
Coedès,
George 1951b, Les règles de la
succession royale dans l'ancien Cambodge, Bulletin de la Société des Études
Indochinoises, nouvelle série no. 26 (2), pp.l 17- 130.
Coedès,
George 1952, Inscriptions du
Cambodge, Vol. 4, Paris, E. de Boccard
Coedès,
George 1954, Inscriptions du
Cambodge, Vol. 6., Paris, École française
d'Extrême-Orient.
Coedès,
George 1962, Les peuples de la
Péninsule indochinoise, Paris, Dunod.
Coedès,
George 1964a, Les États hindouisés
d'Indochine et d'Indonésie, Paris, Ed. de Boccard.
Coedès,
George 1964b, Inscriptions du
Cambodge, Vol. 7, Paris, École française
d'Extrême-Orient.
Coedès,
George 1966, Liste générale des
inscriptions du Cambodge, In Inscriptions du Cambodge, Vol. 8, pp.
76-225.
Coedès,
George 1968, The Indianized States
of Southeast Asia, Edited by Walter F. Vella, Translated by Susan Brown
Cowing, Honolulu, University of Hawaii Press.
Dowling,
Nancy H. 1999, A New Date for the
Phnom Da Images and Its Implications for Early Cambodia, Asian Perspectives,
Volume 38, Number 1, pp. 51-61.
Dupont,
Pierre 1941, Variétés
archéologiques, BEFEO 41, pp. 233-254.
Dupont,
Pierre 1943-46, La dislocation de
Tchen-la et la formation du Cambodge angkorien, BEFEO 43, pp.
17-55.
Dupont,
Pierre 1949, Tchen-La et
Panduranga", Bulletin de la Société des Études Indochinoises 24/1, pp.
9-25.
Dupont,
Pierre 1952-54, Les débuts de la
royauté angkorienne, BEFEO 46, pp. 1 19-76
Ferlus,
Michel 1977, Étude d'une strate de
changements phonétiques dans l'ancien Cambodge, Mon-Khmer Studies 6, pp.
59-67.
Filliozat,
Jean 1969, L'inscription dite de
Võ-cạnh, BEFEO 55, pp. 107-1 16.
Finot,
Louis 1904, Les inscriptions de
Mi-son, BEFEO 4, pp. 897-977.
Finot,
Louis 1911, Sur quelques
traditions indochinoises, In Mélanges d'indianisme offerts par ses élèves à
M. Sylvain Levi, Paris, Ernest Leroux, pp. 193-212.
Finot,
Louis 1927, Séance du 14
janvier, Journal Asiatique 210 (janv.-mars), p. 186.
Friedman,
Jonathan 1987, Review Essay on
Islands of History by Marshall Sahlins, in History and Theory, Vol. 13, pp.
72-99.
Groslier,
Bernard Philippe 1985-86, For a geographic
history of Cambodia, Seksa Khmer 8-9, pp. 3 1 -76.
Hall,
D. G. E. 1955, A History of
South-East Asia, New York, St. Martin's Press, [reed.
1981].
Hall,
Kenneth R. 1985, Maritime Trade and
State Development in Early Southeast Asia, Honolulu, University of Hawaii
Press.
Higham,
Charles and Rachanie Thosarat 1998, Prehistoric Thailand:
From Early Settlement to Sukhothai, Bangkok, River
Books.
Hoshino,
Tatsuo 1986, Pour une histoire
médiévale du moyen Mékong, Bangkok, Editions Duang
Kamol.
Hoshino,
Tatsuo 1991, Wen Dan and its
Neighbours: The Central Mekong Valley in the Seventh and Eighth Centuries,
typescript, n.p.
Hoshino,
Tatsuo 1993, Puram; earliest
Chinese sources on Sri Thep and Lopburi, Paper presented to
the Symposium sur les
sources de l'histoire du pays khmer, Paris.
Hoshino,
Tatsuo 1995, Reappraisal of the
Chinese texts on Shi li Fo Shi: Dvaravati and Sri Buddha Sei (?), In
Southeast Asian Studies, Tokyo University of Foreign
Studies.
Hoshino,
Tatsuo 1996a, The Kingdom of Red
Earth (Chitu Guo) in Cambodia and Vietnam from the sixth to the eighth
centuries, Paper presented to the 14th I.A.H.A. conference, Bangkok, May
1996.
Hoshino,
Tatsuo 1996b, Chang Zhou
(Elephant/Master Province) and Sakolnakhon site in Northeast Thailand, Paper
presented to the 6th International conference on Thai Studies, Chiang Mai,
October 1996.
Jacques,
Claude 1972, La carrière de
Jayavarman II, BEFEO 59, pp. 205-20.
Jacques,
Claude 1979, Funan,
Zhenla. The Reality Concealed
by These Chinese Views of Indochina, In Early South East
Asia. Essays in Archaeology,
History and Historical Geography, Ed. By R. B. Smith and W. Watson, New
York/Kuala Lumpur, Oxford University Press, pp. 371-389.
Jacques,
Claude 1986a, Le pays khmer avant
Angkor, Journal des Savants, janv.-fév., pp. 59-95.
Jacques,
Claude 1986b, Cours Année
1985-1986, Paris, École pratique des hautes études, IVe section,
typescript.
Jacques,
Claude 1987, L'Empire angkorien:
mythe ou réalité, typescript, Conférence à Tokyo, 25 June
1987.
Jacques,
Claude 1995a, Funan, Zhenla,
Srîvijaya, In Les apports de
l'archéologie à la connaissance des anciens États en Thaïlande, 3e Symposium
franco-thaï, 11-13 décembre 1995, Bangkok, Silpakon University, pp.
14-23.
Jacques,
Claude, éd. 1995b, Études épigraphiques
sur le pays cham, [Reprint], Paris, École française d'Extrême-Orient
(Réimpressions 7).
Karlgren,
Bernhard 1923, Analytical Dictionary
of Chinese and Sino-Japanese, Dover/New York, [Reprint, 1
974].
Karlgren,
Bernhard 1957, Grammata Serica
Recensa, Museum of Far Eastern Antiquities Bulletin 29,
Stockholm.
Lê
Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải 1995, Văn hóa Óc Eo, Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Loofs,
H. H. E. 1979, Problems of Continuity
the pre-Buddhist and Buddhist Periods in Central Thailand, with Special
Reference to U-Thong, in R. B. Smith and W. Watson, eds, Early South East Asia:
Essays in Archaeology, History, and Historical Geography, New York, Oxford
University Press.
Mabbet,
Ian and David Chandler 1995, The Khmers, Oxford
(UK) / Cambridge (US A),Blackwell.
Mabbet,
Ian and David Chandler 1980, The Southeast Asian
Ship: An Historical Approach, Journal of Southeast Asian Studies 11/2, pp.
266-276.
Mabbet,
Ian and David Chandler 1985, Sewn-Plank Craft of
South-East Asia, a Preliminary Survey, in Sewn Plank Boats,
Archaeological and Ethnographic papers based on those presesented to a
conference at Greenwich in November 1984, ed. by Sean McGrail and Eric Kentley,
Greenwich, National Maritime Museum (Archaeological Series No. 10, BAR
International Series 276).
Mabbet,
Ian and David Chandler 1991, The Merchant and the
King: Political Myths of Southeast Asian Coastal Polities, Indonesia 52, pp.
41-54.
Mabbet,
Ian and David Chandler 1993, Palembang and
Sriwijaya: An Early Malay Harbour-City Rediscovered, Journal of the
Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society 66/1, pp.
23-46.
Mabbet,
Ian and David Chandler 1996, Southeast Asian
Shipping in the Indian Ocean During the First Millenium A.D.", in H. P. Ray
& J.-F. Salles (eds.), Tradition and Archaeology. Early Maritime Contacts in
the Indian Ocean, Lyon / New Delhi, Manohar (Maison de l'Orient méditerranéen /
NISTADS), pp. 181-198.
Mabbet,
Ian and David Chandler 1999, Srivijaya dans
l'oeuvre de George Coedès, in Colloque George Coedès aujourd'hui, Bangkok,
Centre d'Anthropologie Sirindhorn, 9-10 September.
Mabbet,
Ian and David Chandler 2002, From Funan to
Srivijaya: Cultural Continuities and Discontinuities in the Early Historical
Maritime States of Southeast Asia", in 25 Tahun Kerjasama Pusat Penelitian
Artkeologi dan École française d'Extrême-Orient, Makalah Seminar Dimensi Budaya
dalam Membangun Persatuan Bangsa-Bangsa di Asia Tenggara, Palembang, 16-18 July
2001, Jakarta, 2002, pp. 59-82.
Maspero,
Georges 1928, Le royaume de
Champa, Paris/Bruxelles, Éditions G. Van Oest, [reprint. EFEO,
1988].
Mauger,
Henri 1935, Angkor Borei,
BEFEO 35, p. 491.
Mauger,
Henri 1936, Asram Maha Rosei,
BEFEO 36, pp. 65-95.
Maurel,
Frédéric 1998, The work of George
Coedès: views of a young man, Journal of the Siam Society 86/1-2, pp.
235-238.
Népote,
Jacques 1999, Mythes de fondation et
fonctionnement de l'ordre social dans la basse vallée du Mékong accompagnés de
considérations sur l'indianisation, Péninsule 38(1), pp.
33-64.
Paris,
Pierre 1952-54, Quelques dates pour
une histoire de la jonque chinoise, BEFEO 46, pp.
267-278.
Pelliot,
Paul 1903, Le Fou-Nan, BEFEO
3, pp. 248-303.
Pelliot,
Paul 1904, Deux itinéraires de
Chine en Inde à la fin du vine siècle, BEFEO 4, pp. 13
1-385.
Pelliot,
Paul 1925, Quelques textes
chinois concernant l'Indochine Hindouisée, EFEO Études Asiatiques II, pp.
243-263.
Porée-Maspero,
Éveline 1950, Nouvelle étude sur la
Nâgï Somâ, Journal Asiatique, pp. 237-267.
Porée-Maspero,
Éveline 1962-69, Étude sur les rites
agraires des Cambodgiens, 3 Vol., Paris/La Haye, Mouton & Co. Pou,
Saveros
Porée-Maspero,
Éveline 2001, Nouvelles inscriptions
du Cambodge, vol. II & III, Paris, EFEO.
Reid,
Anthony 1993, Southeast Asia in the
Age of Commerce 1450-1680, Vol. 2, Chiang Mai, Silkworm
Books.
Reynolds,
Craig J. 1995, A New Look at Old
Southeast Asia, Journal of Asian Studies 54/2, pp.
419-446.
Sanderson,
D. С W., et. al. 2003, Luminescence dating of
anthropogenically reset canal sediments from Angkor Borei, Mekong Delta,
Cambodia, Quaternary Science Reviews 22, pp.
1111-1121.
Shorto,
H. L. 1963, The 32 myos in the
medieval Mon kingdom, Bulletin of the School of Oriental and African Studies
26/3 (London), pp. 572-591.
Stargardt,
Janice 1986, Hydraulic Works and
South East Asian Polities, In Southeast Asia in the 9th to
14th Centuries, ed. by David G. Marr and A. C. Milner,
Canberra, Australian National University / Institute of Southeast Asian Studies,
Singapore, pp. 23-48.
Stark,
Miriam T. 1998, The Transition to
History in the Mekong Delta: A view from Cambodia, International Journal of
Historic Archaeology 2/3, pp. 175-204.
Stark,
Miriam T., et. al. 1999, Results of the
1995-1996 Archaeological Field Investigations at Angkor Borei, Cambodia",
Asian Perspectives 38/1, pp. 7-36.
Stein,
R. A. 1947, Le Lin-Yi, sa
localisation, sa contribution à la formation du Champa, et ses liens avec la
Chine, Han-Hiue Bulletin du Centre d'études sinologiques de Pékin 2, pp.
1-335.
Stuart-Fox,
Martin 1998, The Lao Kingdom of Lan
Xâng: Rise and Decline, Bangkok, White Lotus Press.
Syafei,
Soewadji 1977, The Relation Between
Cambodia and Indonesia in the 8th to 9th Century" [sic], Majalah Arkeologi,
Indonesia, pp. 14-18.
Thurgood,
Graham 1999, From Ancient Cham to
Modern Dialects, Two Thousand Years of Language Contact and Change,
Honolulu, University of Hawaii.
Vickery,
Michael 1972, The 'Kalpana'
documents in a review of three collections of Thai historical documents,
Journal of the Siam Society 60/1, pp. 397-410.
Vickery,
Michael 1977, Cambodia after Angkor,
the Chronicular Evidence for the Fourteenth to Sixteenth Centuries, Ph.D.
Yale University, dec. 1977 [Ann Arbor: University of Michigan, University
Microfilms].
Vickery,
Michael 1979, A New Tâmnàn About
Ayudhya, Journal of the Siam Society 67/2, pp. 1 23- 1
86.
Vickery,
Michael 1986, Some Remarks on Early
State Formation in Cambodia, In Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries,
ed. by David G. Marr and A. C. Milner, Canberra/Singapore, Australian National
University (Research School of Pacific Studies) / Institute of Southeast Asian
Studies, pp. 95-115.
Vickery,
Michael 1987, Review of K. R. Hall,
Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, in Journal of
Asian Studies 1987, pp. 21 1-213.
Vickery,
Michael 1994, Where and What was
Chenla?, In Recherches nouvelles sur le Cambodge, dir. By F. Bizot, Paris,
EFEO (Études thématiques I), pp. 197-212.
Vickery,
Michael 1998, Society, Economies,
and Politics in Pre-Angkor Cambodia: the 7th-8th Centuries, Tokyo, The
Centre for East Asian Cultural Studies for Unesco/The Toyo
Bunko.
Vickery,
Michael 1999a, The Khmer Inscriptions
of Roluos (Preah Ko and Lolei): Documents from a Transitional Period in
Cambodian History, Seksa Khmer n. s. 1 (jr- 1999), pp.
47-93.
Vickery,
Michael 1999b, Coedès' Histories of
Cambodia, in Colloque George Coedès
aujourd'hui, Bangkok, CEDREFT, 9-10 September 1999.
Vickery,
Michael 2001, Resolving the
Chronology and History of 9th-Century Cambodia", SiksucakrZ (Newsletter of
the Center for Khmer Studies, CKS, Siemreap, July 2001), pp.
17-23.
Wang
Gungwu 1958, The Nanhai Trade,
Journal of the Malaysian Branch Royal Asiatic Society 3 1/2, pp.
1-135.
Wheatley,
Paul 1961, The Golden
Khersonese, Kuala Lumpur, University of Malaya
Press.
Wheatley,
Paul 1974, The Mount of the
Immortals: A note on Tamil cultural influence in fifth-century Indochina,
Oriens Extremis, Vol. 21, part 1, pp. 97-108.
Wheatley,
Paul 1983, Nagara and Commandery:
Origins of the Southeast Asian Urban Traditions, University of Chicago
(Research Paper Nos. 207-208, Department of
Geography).
Wheatley,
Paul 1966, A Note on the Capital
of Srivijaya During the Eleventh Century, In Ba Shin, J. Boisselier & A.
B. Griswold, eds., Essays Offered to G. H. Luce, Ascona, Artibus Asiae
(Supplementum 23), I, pp. 225 -239.
Wheatley,
Paul 1967, Early Indonesian
Commerce, Ithaca, Cornell University Press.
Wright,
Michael 1999, The Nation, section Cl
"Focus", "The Quest for Bronze", Bangkok, 28 June.
http://kattigara-echo.blogspot.com/2012/11/phu-nam-nhin-lai-giai-co-tac-gia-ii.html