Nguyễn Quang Hà: VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN
VỀ TẤM
BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN Ở CHÙA GIÀN – HUỆ TRẠCH
TỰ
(XÃ TRÍ
QUẢ, HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH)
Nguyễn Quang Hà[1]
Chùa xã Trí Quả (Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tên chữ là “Huệ Trạch
tự”, hay còn có tên Nôm là chùa Giàn - Một trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Điện,
Pháp Lôi, Pháp Vũ) trong tín ngưỡng thờ tự ở vùng Dâu. Hiện nay các vị trong
làng kể lại về lai lịch của chùa: Vào thời Trần, con trai của Đức vua Trần Hưng
Đạo là Trần Hồng khi đánh giặc Mông Nguyên được Phật độ cho nên đã đánh thắng
giặc do đó ban cho tên chùa là “Huệ Trạch tự) (惠澤寺). Chùa trước đây có gác
chuông cổ nhưng đã bị phá đi để làm cầu. Trong chùa còn một chiếc chuông đồng
niên đại thời Lê, trên 4 núm có khắc “Huệ Trạch tự chung” (惠澤寺鍾). Ngoài sân,
trước tòa Tam bảo hiện còn tấm bia 4 mặt, mặt chính trên trán bia
ghi: “Huệ Trạch tự”(惠澤寺), mặt thứ tư phần niên đại ghi:
Chính Hòa nhị thập niên (1700) nội dung về việc cúng tiền xây gác chuông và cúng
ruộng vào chùa. Ở gian phải của tòa Tam bảo còn một cây hương, trên đó có khắc
tên người cung tiến. Chùa còn giữ được hai sắc phong. Đạo sắc thứ nhất phần niên
đại ghi 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924). Nội dung ban tặng: (…)“Diệu Cảm Nhiên
Phù, Chương Hiển Đôn Ngưng, Dực Bảo Trung Hưng Thành Hoàng Linh Ứng Tôn
Thần”(耀感然孚章顯敦凝翊保中興城皇靈應尊神). Sắc thứ 2 cũng có cùng ngày tháng năm với Đạo sắc
trên với đối tượng được ban là: (…) “Phụng sự Đại Thánh Pháp Thông Vương Phật
tôn thần”.(奉事大聖法通王佛尊神). Như vậy, Đạo sắc thứ nhất là sắc cho Thành hoàng được
thờ ở Đình làng, đạo sắc thứ hai chính là đạo sắc thờ ở chùa. Theo truyền thuyết
thì tên gọi “Chùa Huệ Trạch” có từ thời Trần. Tư liệu trên các văn bản, bi ký,
minh văn hiện nay chúng ta được biết thì tên gọi “Huệ Trạch
tự” sớm nhất qua tấm bia đá 4 mặt niên đại Chính Hòa 20 (1700).
Nhưng trước đó chùa có tên là gì (?). Chưa có tư liệu nào giải đáp điều
đó.
Năm 2004, gia đình ông Nguyễn Văn Đức (Nhà bên cạnh chùa Huệ Trạch) khi
đào đất làm lò gạch đã phát hiện được một tấm bia đá cổ. Vì không biết giá trị
tấm bia như thế nào nên gia đình đã giữ tấm bia này để ở trong nhà cho đến tháng
8/2012 mới được cán bộ Bảo tàng của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Bắc
Ninh xin phép gia đình, nhà chùa cùng chính quyền địa phương chuyển về Bảo tàng
tỉnh nghiên cứu. Thật may mắn, khi về chùa Huệ Trạch, chúng tôi cũng có được bản
dập thác bản của tấm bia này do ông Nguyễn Đình Nhân (Kỹ sư Nông nghiệp về hưu)
- Người cùng thôn Xuân Quan, xã Trí Quả tiến hành in dập trước
đó (1). Bia được để trong hộp có
mái che nên rất rõ nét, chữ khắc đậm, sâu, còn nguyên vẹn. Lòng bia có kích
thước 40 x 40 cm, 13 dòng, trung bình mỗi dòng khoảng hơn 10 chữ, tổng số chữ
trên bia là 133 chữ. Dưới đây là toàn bộ nội dung văn bia chữ Hán và phần phiên
âm, dịch nghĩa như sau:
Nguyên văn chứ Hán:
舍利塔銘
维大陏仁壽元年歲次辛酉十月辛亥朔十五日乙丑
皇帝普為一协法界幽顯生靈謹於交州龍編縣禪衆寺奉安舍利敬造靈塔願太祖武元皇帝元明皇后皇帝皇后皇太子諸王子孫等并内外羣官爰民庶六道三塗人非人等生生世世值佛聞法永离苦空同昇妙果
勅使大德慧雅法師吏部羽騎慰姜微 送舍利於此造塔.
Phiên âm:
Xá lợi tháp minh
Duy Đại Tùy Nhân Thọ nguyên niên, tuế thứ Tân dậu, thập nguyệt, Tân hợi
sóc, thập ngũ nhật, Ất sửu.
Hoàng đế phổ vi nhất, hiệp pháp giới u hiển sinh linh. Cẩn ư Giao Châu,
Long Biên huyện, Thiền Chúng tự, phụng an xá lợi, kính tạo linh tháp nguyện.
Thái tổ Vũ nguyên Hoàng đế, Nguyên minh Hoàng hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu, Hoàng
thái tử chư vương, tử tôn đẳng tịnh nội ngoại, quần quan viên cập dân thứ, Lục
đạo, Tam đồ nhân phi nhân đẳng, sinh sinh thế thế trực Phật văn pháp vĩnh ly
khổ, không đồng thăng diệu quả.
Sắc sử Đại đức Tuệ Nhã pháp sư. Lại bộ Vũ kỵ úy Khương Vi tống xá lỵ ư
thử, tạo tháp.
Dịch nghĩa:
Bài minh bia tháp xá lợi
Ngày Ất sửu (Ngày 15) tháng Tân hợi (Tháng 10) năm Tân Dậu niên hiệu
Nhân Thọ nguyên niên thời Đại Tùy (601).
Hoàng đế cẩn trọng mở dòng thuyết pháp, mở cõi u hiển đến mọi kiếp sinh
linh. Kính phụng xá lợi tại chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao Châu. Theo
ước nguyện của Thái tổ Vũ nguyên Hoàng đế, Nguyên minh Hoàng hậu, Hoàng đế,
Hoàng hậu, Hoàng thái tử cùng các chư vương, con cháu nội ngoại, các quan viên
cho đến thứ dân, Lục đạo, Tam đồ trên cõi đời cùng sống thuận theo lời dạy của
đức Phật, nghe được văn pháp mãi mãi ly rời khổ đau, trầm luân, được nhẹ nhàng
lên chốn diệu quả.
Sắc sai Đại đức Tuệ Nhã pháp sư. Lại bộ Vũ kỵ úy Khương Vi đem xá lỵ tạo
tháp ở đây).
Trên đây, chúng ta gặp phải tên địa danh như: Chùa Thiền Chúng, huyện
Long Biên, Giao Châu. Bài minh bia này được dựng cách ngày nay đã vừa đúng 1412
năm có những khái niệm, thuật ngữ Phật giáo. Điều khẳng định trước tiên: Đây là
tấm bia sớm nhất mà ngày nay chúng ta phát hiện được. Trước đó, chúng ta đã biết
đến tấm bia: “Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo an đạo tràng chi bi
văn”(大陏九真郡寶安道場之碑文)do Nguyên Nhân Khí soạn năm Tùy Đại Nghiệp 14
(618)(2).
- Về tên gọi chùa Thiền Chúng: Phần ghi
về chùa Thiền Chúng (禪衆寺) trong sách “Thiền uyển Tập
anh” được biên tập trong phần“Bảy đoạn văn đối thoại trong
giới Thiền học Việt Nam” phần viết về La Quý An, Thiền Ông
trong bài “Trực minh vương tắc xuất”(直明王則出) (Gặp vua sáng
thì ra)có
đoạn:“長老羅貴安真人,姓丁氏早嵗遊方,徧参襌匠,歷年滋久,不契法缘,將有退志.後聞禪衆通善會下一語,心地開豁乃復事焉.善將圓寂,謂曰:昔吾
師定公嘗囑云:“汝持吾法,丁人則傳”.汝其當之,吾今逝矣 (Trưởng Lão La Quý An chân nhân, họ Đinh. Hồi còn
nhỏ tuổi, đã đi khắp đó đây, tầm sư học đạo, nhưng qua nhiều năm mà không gặp cơ
duyên, có phần nhụt chí. Sau khi nghe được một câu nói của Thông Thiện
ở chùa Thiền Chúng nhân một ngày hội mà lòng
bừng sáng, bèn xin thờ Thông Thiện làm thầy. Khi Thiện sắp viên tịch, có nói với
nhà sư rằng: Xưa thầy ta là Định Không từng dặn: “Ngươi gắng giữ lấy phép của
ta, gặp người họ Đinh thì truyền”. Nay người hãy nhận lấy, ta đi
đây”.
Đoạn truyện trên, đã thuật lại cơ duyên giữa La Quý An với nhà sư Thông
Thiện ở chùa Thiền Chúng (禪衆). Nhờ câu nói của Thông Thiện mà La Quý An bừng
sáng được Đạo và từ đó ông tôn Thông Thiện làm thầy(3). Sư Thông Thiện là học
trò của Định Không. Theo mục truyện thiền sư Định Không (?- 808) lại cho biết
thiền sư người hương Cổ Pháp, tu ở chùa Thiền Chúng (hương Dịch Bảng, phủ Thiên
Đức (…) ông là người am hiểu sâu sắc vận số thế cuộc, khi xảy ra việc gì người
trong hương thường suy tôn phục tùng, ai nấy đều tôn gọi ông là Trưởng lão”(4).
Nhưng người trực tiếp và trụ trì trước Thiền sư Định Không là ai cho đến nay vẫn
chưa rõ. Chỉ biết rằng trước nhà sư Định Không gần 200 năm có nhà sư Pháp Hiền
(?- 626), họ Đỗ, người huyện Chu Diên trụ trì chùa Thiền Chúng
(5).
Qua các đoạn ghi về tiểu truyện các vị thiền sư phái Tì Ni Đa Lưu Chi
(Vinitaruci), chúng tôi thử lập phả hệ (không đầy đủ) các vị thiền sư đã từng
trụ trì chùa có tên gọi Thiền Chúng để dễ hình
dung qua bảng thống kê như sau:

|
TT
|
Tên Thiền sư
|
Năm sinh, năm mất
|
Trụ trì chùa
|
Giải thích địa danh thuộc
|
Ghi chú
|
|
1
|
PhápHiền(法賢)
|
(?- 626)
|
Thiền Chúng (禪衆)
|
Núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du
|
TUTA, tr 169, 170.Có lẽ ghi nhầm thành “ChúngThiền”
(衆禪)
|
|
2
|
ĐịnhKhông(定空)
|
(?- 808)
|
ThiềnChúng
(禪衆)
|
Hương Dịch Bảng
|
TUTA,đd, tr 174
|
|
3
|
ThôngThiện(通善)
|
(?- ?)
|
Thiền Chúng
(禪衆)
|
|
TUTA,đd, tr 177(Thông Thiện là học trò của Định
Không)
|
|
4
|
ThiềnNham(禪巖)
|
(1093- 1163)
|
Chùa Trí Quả (置果寺)
|
Hương Cổ Châu, huyện Long Biên
|
TUTA,đd, tr 212:“Thiền sư người Cổ Châu, họ Khương, húy Thông, tu hành ở
chùa Thiên Phúc núi Tiên Du…sau trở về bản hương trùng tu chùa Trí
Quả).
|
Trong tác phẩm “Đất nước Việt Nam qua các đời”, GS. Đào Duy Anh đã khảo cứu công phu về địa danh Giao Châu (交州).Bên cạnh đó, địa danh huyện Long Biên còn nhiều tư liệu chưa thống nhất. Địa danh này được nhắc đến nhiều lần trong các thư tịch cổ thời Bắc thuộc. Tư liệu được nhắc đến có niên đại gần với tấm bia vừa phát hiện ở chùa Thiền Chúng (Chùa Huệ Trạch) đã nhắc đến ở trên là những chi tiết viết về cuộc khởi nghĩa của Lư Tuần. Tên gọi “Long Biên” đã được sách Tư trị thông giám bổ (資治通鑑補) do Tư Mã Quang đời Tống biên tập, Hồ Tam Tỉnh (đời Nguyên, chú âm), đến đời Minh được Nghiên Diên và Đoàn Doãn Hậu đời Minh bổ sung và hiệu đính, ghi như sau:“Tuần thần chí Long Biên nam tân”(循辰至龍編津) (nghĩa là: (Lư) Tuần buổi sớm đến bờ phía nam Long Biên) (7) chua thêm:“Giao Chỉ quận, Long Biên huyện, châu quận giai trị yên” (郊址郡龍編縣州郡皆治焉).(Quận Giao Chỉ, huyện Long Biên, đều đóng trị sở ở đó). Trong sách “Thủy kinh chú” ghi rõ hơn: “Kiến An, nhị thập tam niên lập châu chi thủy, giao long bàn biên ư thủy nam, bắc nhị tân cố cải Long Uyên vi Long Biên (建安二十三年立州之始蛟龍蟠边於水南北二津故改龍淵为龍編). (nghĩa là: Kiến An năm thứ 23(Đời Hán Hiến Đế (218) - Tg) bắt đầu lập châu, giao long chầu hai bên bờ phía nam, bắc nên đổi Long Uyên thành Long Biên (8). Sách Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm (御批歷代通鑑集覽) biên soạn đời Càn Long bổ sung đoạn viết về Lư Tuần (9) và địa danh Long Biên như sau: “Tuần lũ bại, toại bôn Giao Châu chí Long Biên”(Chú: Hậu Hán Thư, Quận Quốc chí, Giao Chỉ trị Long Biên. Thủy Kinh chú, lập châu chi thủy, giao long bàn biên vu thủy nam, bắc nhị tân, cố danh”(循婁敗遂奔交州至龍編(注:後漢書郡國誌交址治龍編水經注立州之始蛟龍蟠边于水南北二津故名)). (Lư) Tuần mấy lần bị đánh bại, bèn chạy sang Giao Châu đến Long Biên (chú: Hậu Hán thư, phần Quận quốc chí ghi: Giao Chỉ lấy Long Biên làm sở trị. Thủy kinh chú (ghi): Ban đầu lập châu, giao long chầu hai bên bờ nam, bờ bắc của sông, nên đặt tên gọi). Cả hai sách Thủy Kinh Chú (水經注) và Ngự phê lịch đại thông giám tập lãmđều giải thích việc đổi tên gọi“Long Uyên”(giao long ở vực/sông sâu) thành “Long Biên”(giao long ở bên vực/sông) dựa theo hiện tượng cảnh quan môi trường mà định tên gọi. Cách đặt tên gọi trên gọi là từ nguyên học dân gian. Tuy nhiên, hai cuốn sách trên lại không cho biết cụ thể việc đổi tên đó được tiến hành vào thời gian nào và do ai đổi?. Theo sự khảo cứu của học giả Trần Văn Giáp thì sách: “Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm có thể sẽ cho cho chúng ta hiểu lầm sự thay đổi ấy có từ đời Hán (10). Thực ra, không phải thế. Đọc lời khảo cứu của Lê Quý Đôn, ta mới thấy rõ: Sự thay đổi ấy mới có từ đời Đường; mà nhất là trong lời văn của Nhan Sư Cổ và Chương Hoài, Thái tử Lý Hiền. Sư Cổ ( tức Nhan Sư Cổ), người sống vào đời Đường có làm chú thích hai bộ Hán thư của Ban Cố đã nói: Chữ“Uyên” là tên húy vua nhà Đường (11), cho nên Sư Cổ, Chương Hoài đổi làm“Long Biên”)(12). Theo GS. Đào Duy Anh, cho đến thời Tống huyện Long Biên chỉ có thể còn lại miền Từ Sơn, Tiên Du (tỉnh Hà Bắc) ngày nay (13). Như vậy, căn cứ vào việc đổi tên gọi“Long Uyên” thành“Long Biên” trong phần chú thích sách Hán thư của Sư Cổ - Nhà Huấn hỗ học đời Đường là cách thay đổi tên gọi theo lối tỵ húy. Nhưng ở tấm bia xá lỵ này vẫn viết là “Long Biên”(龍編) mà không viết là “Long Uyên”(龍淵). Vì thế đã không phù hợp với cách giải thích của Sư Cổ, Chương Hoài. Dù thay đổi tên gọi, giải thích tên gọi theo kiểu từ nguyên học dân gian theo cách giải thích của sách Thủy Kinh Chú và sách Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm hay cách lý giải của Nhan Sư Cổ, Chương Hoài, Thái tử Lý Hiền hoặc giải thích sự thay đổi tên gọi do kiêng húy thì tên gọi: Long Uyên rồi sau này là Long Biên đều có ý nghĩa riêng của nó…Từ cuối thế kỷ XIX, qua các khảo cứu của Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị khảo, cho đến đầu thế kỷ XX, qua các khảo cứu của nhà thư tịch học Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, học giả Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời… cho đến nhiều giáo sư, học giả hiện nay chưa đi đến thống nhất về giới hạn địa danh huyện Long Biên. Thậm chí nhà sử học Đặng Xuân Bảng còn cho rằng địa giới huyện Long Biên đến tận Lạng Sơn, vùng Hồ Ba Bể (Bắc Kạn). Gần đây, qua Những phát hiện mới về khảo cổ học cho thấy vào thời Trần tên gọi huyện Long Biên còn được nhắc đến trên tấm bia“Hưng Phúc tự bi”(興福寺碑) phát hiện ở thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Lâm, Hưng Yên, ghi vào thời điểm xây dựng ngôi chùa này vào năm 1351 thuộc huyện Long Biên, Xứ Kinh Bắc (14). Long Biên đã từng là đất đai của các huyện Tiên Du, Yên Phong, Gia Lâm và cả Văn Lâm nữa. Như thế địa danh huyện Long Biên trong lịch sử khá phức tạp. Thời Hán, Long Biên là trị sở xứ Giao Châu. Thời Tùy, Đường có lẽ cũng theo như thế. Nơi ấy có vực sâu, thường có nhiều Cá Sấu chầu bên từng gây ra nỗi kinh hoàng cho người phương Bắc và đã được sử sách ghi lại. Nhưng cho đến mãi thời Trần theo tư liệu bi ký huyện Văn Lâm (Hưng Yên - ngày nay) vẫn thuộc phạm vi huyện Long Biên, xứ Kinh Bắc... Vị trí xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Lâm (Hưng Yên) với xã Trí Quả (Thuận Thành - Bắc Ninh) khá gần nhau về địa lý. Từ tên gọi huyện Long Biên thời Tùy (Qua bài minh tháp chùa Thiền Chúng), cho đến những ghi chép trong sử sách Trung Quốc về huyện Long Biên, về cuộc khởi nghĩa của Lư Tuần (TK VI), tấm bia thời Trần (TK XIII) đã nhắc đến ở trên…đã cho chúng ta nghĩ đến giới hạn huyện Long Biên rất rộng và có sự thay đổi, diên cách nhiều lần. Qua đó là cơ sở góp thêm bằng chứng cho phép chúng ta nghĩ đến chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên rất có thể là Huệ Trạch tự (chùa Trí Quả - Thuận Thành, Bắc Ninh) sau này.
|
STT
|
Địa điểm
|
Thông tin
| |
|
1
|
Ung châu Tiên Du
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Tiên Du
tự
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Chưa có thông
tin
|
|
|
|
Kích
thước
|
Chưa có thông
tin
|
|
2
|
Kỳ châu Phượng Tuyền
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng huyện Phù
Phong
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ[4] (t9),
tr.143
|
|
|
|
Kích
thước
|
32x34cm
|
|
3
|
Đồng châu Đại Hưng quốc
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Uỷ ban quản lý văn vật huyện Đại
Chi tỉnh Thiểm Tây
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Thiểm Tây bi thạch tinh
hoa,
tr.30
|
|
|
|
Kích
thước
|
Chưa có thông
tin
|
|
4
|
Thanh châu Thắng Phúc
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Thành phố Thanh
châu
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ (t9),
tr.144
|
|
|
|
Kích
thước
|
63x77cm (trán bia:
31x27cm)
|
|
5
|
Đại Hưng huyện Long Trì
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Không
rõ
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ (t9),
tr.142
|
|
|
|
Kích
thước
|
35x30cm
|
|
6
|
Tín châu Kim luân
tự
|
Niên
đại
|
602 (Nhân Thọ
2)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bạch Đế thành Tây Bi
Lâm
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ (t.9),
tr.153
|
|
|
|
Kích
thước
|
43x46cm
|
|
7
|
Lộ châu Phạn Cảnh
tự
|
Niên
đại
|
602 (Nhân Thọ
2)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Không
rõ
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Chưa có thông
tin
|
|
|
|
Kích
thước
|
Chưa có thông
tin
|
|
8
|
Đặng châu Đại Hưng quốc
tự
|
Niên
đại
|
602 (Nhân Thọ
2)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Thành phố Khai
Phong
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ (t.9),
tr.156
|
|
9
|
Tử châu Hoa Lâm
tự
|
Niên
đại
|
604 (Nhân Thọ
4)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Không
rõ
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Nakamura Nobuo
(2004)
|
|
10
|
Nghi châu Thần Đức
tự
|
Niên đại
|
604 (Nhân Thọ
4)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Diệu
huyện
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Thiểm Tây bi khắc tinh
hoa,
tr.32
|
|
11
|
Liêm châu Hoa Thành
tự
|
Niên
đại
|
604 (Nhân Thọ
4)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Không
rõ
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ,
tr.166
|
|
12
|
Kinh thành Diên Hưng
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Hàm
Dương
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Hàm Dương bi
thạch,
tr.18
|
Theo báo cáo của TS. Lê Viết Nga (Giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh), thời gian vừa qua tại Bắc Ninh đã phát hiện được một tấm bia, theo minh văn có niên đại vào năm 601. Ngày 29 tháng 8 năm 2012, chúng tôi đã có dịp cùng GS.Phan Huy Lê, PGS.TS.Tống Trung Tín, TS.Nguyễn Văn Sơn đến Bảo tàng Bắc Ninh và trực tiếp quan sát tấm bia này dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Viết Nga.

Xung quanh thông tin nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt, chúng ta cũng tìm thấy trường hợp tương tự tại Trung Quốc. Theo văn bản khai quật minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" tại chùa Hoằng Nghiệp ở U châu năm 846, hộp đá lớn được phong bằng "hương nê" (bùn hương), phía trên có minh văn (Kosugi Kazuo, 1934).



17:57
danillewoods7537368