Nguyễn Quang Hà: VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN
VỀ TẤM
BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN Ở CHÙA GIÀN – HUỆ TRẠCH
TỰ
(XÃ TRÍ
QUẢ, HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH)
Nguyễn Quang Hà[1]
Chùa xã Trí Quả (Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tên chữ là “Huệ Trạch
tự”, hay còn có tên Nôm là chùa Giàn - Một trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Điện,
Pháp Lôi, Pháp Vũ) trong tín ngưỡng thờ tự ở vùng Dâu. Hiện nay các vị trong
làng kể lại về lai lịch của chùa: Vào thời Trần, con trai của Đức vua Trần Hưng
Đạo là Trần Hồng khi đánh giặc Mông Nguyên được Phật độ cho nên đã đánh thắng
giặc do đó ban cho tên chùa là “Huệ Trạch tự) (惠澤寺). Chùa trước đây có gác
chuông cổ nhưng đã bị phá đi để làm cầu. Trong chùa còn một chiếc chuông đồng
niên đại thời Lê, trên 4 núm có khắc “Huệ Trạch tự chung” (惠澤寺鍾). Ngoài sân,
trước tòa Tam bảo hiện còn tấm bia 4 mặt, mặt chính trên trán bia
ghi: “Huệ Trạch tự”(惠澤寺), mặt thứ tư phần niên đại ghi:
Chính Hòa nhị thập niên (1700) nội dung về việc cúng tiền xây gác chuông và cúng
ruộng vào chùa. Ở gian phải của tòa Tam bảo còn một cây hương, trên đó có khắc
tên người cung tiến. Chùa còn giữ được hai sắc phong. Đạo sắc thứ nhất phần niên
đại ghi 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924). Nội dung ban tặng: (…)“Diệu Cảm Nhiên
Phù, Chương Hiển Đôn Ngưng, Dực Bảo Trung Hưng Thành Hoàng Linh Ứng Tôn
Thần”(耀感然孚章顯敦凝翊保中興城皇靈應尊神). Sắc thứ 2 cũng có cùng ngày tháng năm với Đạo sắc
trên với đối tượng được ban là: (…) “Phụng sự Đại Thánh Pháp Thông Vương Phật
tôn thần”.(奉事大聖法通王佛尊神). Như vậy, Đạo sắc thứ nhất là sắc cho Thành hoàng được
thờ ở Đình làng, đạo sắc thứ hai chính là đạo sắc thờ ở chùa. Theo truyền thuyết
thì tên gọi “Chùa Huệ Trạch” có từ thời Trần. Tư liệu trên các văn bản, bi ký,
minh văn hiện nay chúng ta được biết thì tên gọi “Huệ Trạch
tự” sớm nhất qua tấm bia đá 4 mặt niên đại Chính Hòa 20 (1700).
Nhưng trước đó chùa có tên là gì (?). Chưa có tư liệu nào giải đáp điều
đó.
Năm 2004, gia đình ông Nguyễn Văn Đức (Nhà bên cạnh chùa Huệ Trạch) khi
đào đất làm lò gạch đã phát hiện được một tấm bia đá cổ. Vì không biết giá trị
tấm bia như thế nào nên gia đình đã giữ tấm bia này để ở trong nhà cho đến tháng
8/2012 mới được cán bộ Bảo tàng của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Bắc
Ninh xin phép gia đình, nhà chùa cùng chính quyền địa phương chuyển về Bảo tàng
tỉnh nghiên cứu. Thật may mắn, khi về chùa Huệ Trạch, chúng tôi cũng có được bản
dập thác bản của tấm bia này do ông Nguyễn Đình Nhân (Kỹ sư Nông nghiệp về hưu)
- Người cùng thôn Xuân Quan, xã Trí Quả tiến hành in dập trước
đó (1). Bia được để trong hộp có
mái che nên rất rõ nét, chữ khắc đậm, sâu, còn nguyên vẹn. Lòng bia có kích
thước 40 x 40 cm, 13 dòng, trung bình mỗi dòng khoảng hơn 10 chữ, tổng số chữ
trên bia là 133 chữ. Dưới đây là toàn bộ nội dung văn bia chữ Hán và phần phiên
âm, dịch nghĩa như sau:
Nguyên văn chứ Hán:
舍利塔銘
维大陏仁壽元年歲次辛酉十月辛亥朔十五日乙丑
皇帝普為一协法界幽顯生靈謹於交州龍編縣禪衆寺奉安舍利敬造靈塔願太祖武元皇帝元明皇后皇帝皇后皇太子諸王子孫等并内外羣官爰民庶六道三塗人非人等生生世世值佛聞法永离苦空同昇妙果
勅使大德慧雅法師吏部羽騎慰姜微 送舍利於此造塔.
Phiên âm:
Xá lợi tháp minh
Duy Đại Tùy Nhân Thọ nguyên niên, tuế thứ Tân dậu, thập nguyệt, Tân hợi
sóc, thập ngũ nhật, Ất sửu.
Hoàng đế phổ vi nhất, hiệp pháp giới u hiển sinh linh. Cẩn ư Giao Châu,
Long Biên huyện, Thiền Chúng tự, phụng an xá lợi, kính tạo linh tháp nguyện.
Thái tổ Vũ nguyên Hoàng đế, Nguyên minh Hoàng hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu, Hoàng
thái tử chư vương, tử tôn đẳng tịnh nội ngoại, quần quan viên cập dân thứ, Lục
đạo, Tam đồ nhân phi nhân đẳng, sinh sinh thế thế trực Phật văn pháp vĩnh ly
khổ, không đồng thăng diệu quả.
Sắc sử Đại đức Tuệ Nhã pháp sư. Lại bộ Vũ kỵ úy Khương Vi tống xá lỵ ư
thử, tạo tháp.
Dịch nghĩa:
Bài minh bia tháp xá lợi
Ngày Ất sửu (Ngày 15) tháng Tân hợi (Tháng 10) năm Tân Dậu niên hiệu
Nhân Thọ nguyên niên thời Đại Tùy (601).
Hoàng đế cẩn trọng mở dòng thuyết pháp, mở cõi u hiển đến mọi kiếp sinh
linh. Kính phụng xá lợi tại chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao Châu. Theo
ước nguyện của Thái tổ Vũ nguyên Hoàng đế, Nguyên minh Hoàng hậu, Hoàng đế,
Hoàng hậu, Hoàng thái tử cùng các chư vương, con cháu nội ngoại, các quan viên
cho đến thứ dân, Lục đạo, Tam đồ trên cõi đời cùng sống thuận theo lời dạy của
đức Phật, nghe được văn pháp mãi mãi ly rời khổ đau, trầm luân, được nhẹ nhàng
lên chốn diệu quả.
Sắc sai Đại đức Tuệ Nhã pháp sư. Lại bộ Vũ kỵ úy Khương Vi đem xá lỵ tạo
tháp ở đây).
Trên đây, chúng ta gặp phải tên địa danh như: Chùa Thiền Chúng, huyện
Long Biên, Giao Châu. Bài minh bia này được dựng cách ngày nay đã vừa đúng 1412
năm có những khái niệm, thuật ngữ Phật giáo. Điều khẳng định trước tiên: Đây là
tấm bia sớm nhất mà ngày nay chúng ta phát hiện được. Trước đó, chúng ta đã biết
đến tấm bia: “Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo an đạo tràng chi bi
văn”(大陏九真郡寶安道場之碑文)do Nguyên Nhân Khí soạn năm Tùy Đại Nghiệp 14
(618)(2).
- Về tên gọi chùa Thiền Chúng: Phần ghi
về chùa Thiền Chúng (禪衆寺) trong sách “Thiền uyển Tập
anh” được biên tập trong phần“Bảy đoạn văn đối thoại trong
giới Thiền học Việt Nam” phần viết về La Quý An, Thiền Ông
trong bài “Trực minh vương tắc xuất”(直明王則出) (Gặp vua sáng
thì ra)có
đoạn:“長老羅貴安真人,姓丁氏早嵗遊方,徧参襌匠,歷年滋久,不契法缘,將有退志.後聞禪衆通善會下一語,心地開豁乃復事焉.善將圓寂,謂曰:昔吾
師定公嘗囑云:“汝持吾法,丁人則傳”.汝其當之,吾今逝矣 (Trưởng Lão La Quý An chân nhân, họ Đinh. Hồi còn
nhỏ tuổi, đã đi khắp đó đây, tầm sư học đạo, nhưng qua nhiều năm mà không gặp cơ
duyên, có phần nhụt chí. Sau khi nghe được một câu nói của Thông Thiện
ở chùa Thiền Chúng nhân một ngày hội mà lòng
bừng sáng, bèn xin thờ Thông Thiện làm thầy. Khi Thiện sắp viên tịch, có nói với
nhà sư rằng: Xưa thầy ta là Định Không từng dặn: “Ngươi gắng giữ lấy phép của
ta, gặp người họ Đinh thì truyền”. Nay người hãy nhận lấy, ta đi
đây”.
Đoạn truyện trên, đã thuật lại cơ duyên giữa La Quý An với nhà sư Thông
Thiện ở chùa Thiền Chúng (禪衆). Nhờ câu nói của Thông Thiện mà La Quý An bừng
sáng được Đạo và từ đó ông tôn Thông Thiện làm thầy(3). Sư Thông Thiện là học
trò của Định Không. Theo mục truyện thiền sư Định Không (?- 808) lại cho biết
thiền sư người hương Cổ Pháp, tu ở chùa Thiền Chúng (hương Dịch Bảng, phủ Thiên
Đức (…) ông là người am hiểu sâu sắc vận số thế cuộc, khi xảy ra việc gì người
trong hương thường suy tôn phục tùng, ai nấy đều tôn gọi ông là Trưởng lão”(4).
Nhưng người trực tiếp và trụ trì trước Thiền sư Định Không là ai cho đến nay vẫn
chưa rõ. Chỉ biết rằng trước nhà sư Định Không gần 200 năm có nhà sư Pháp Hiền
(?- 626), họ Đỗ, người huyện Chu Diên trụ trì chùa Thiền Chúng
(5).
Qua các đoạn ghi về tiểu truyện các vị thiền sư phái Tì Ni Đa Lưu Chi
(Vinitaruci), chúng tôi thử lập phả hệ (không đầy đủ) các vị thiền sư đã từng
trụ trì chùa có tên gọi Thiền Chúng để dễ hình
dung qua bảng thống kê như sau:

|
TT
|
Tên Thiền sư
|
Năm sinh, năm mất
|
Trụ trì chùa
|
Giải thích địa danh thuộc
|
Ghi chú
|
|
1
|
PhápHiền(法賢)
|
(?- 626)
|
Thiền Chúng (禪衆)
|
Núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du
|
TUTA, tr 169, 170.Có lẽ ghi nhầm thành “ChúngThiền”
(衆禪)
|
|
2
|
ĐịnhKhông(定空)
|
(?- 808)
|
ThiềnChúng
(禪衆)
|
Hương Dịch Bảng
|
TUTA,đd, tr 174
|
|
3
|
ThôngThiện(通善)
|
(?- ?)
|
Thiền Chúng
(禪衆)
|
|
TUTA,đd, tr 177(Thông Thiện là học trò của Định
Không)
|
|
4
|
ThiềnNham(禪巖)
|
(1093- 1163)
|
Chùa Trí Quả (置果寺)
|
Hương Cổ Châu, huyện Long Biên
|
TUTA,đd, tr 212:“Thiền sư người Cổ Châu, họ Khương, húy Thông, tu hành ở
chùa Thiên Phúc núi Tiên Du…sau trở về bản hương trùng tu chùa Trí
Quả).
|
Qua bảng thống kê, chúng ta thấy được tên gọi chùa (Thiền Chúng) ghi về
các vị Thiền sư sống ở thế kỷ VII - IX trong sách Thiền uyển tập
anh. Nhưng phần địa danh lại viết khác nhau: Mục Thiền sư Pháp Hiền (?- 626)
ghi: Chùa Thiền Chúng ở núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du; Mục
thiền sư Định Không(?- 808) lại ghi: Chùa Thiền Chúng, hương
Dịch Bảng. Về nhà sư Thông Thiện (? - ?) không rõ năm sinh, năm mất nhưng
sách viết rõ là học trò của Định Không thì ta cũng có thể ước đoán ông sinh vào
khoảng cuối thế kỷ VIII và mất vào khoảng đầu thế kỷ IX. Địa danh núi Thiên Phúc
(huyện Tiên Du) và hương Dịch Bảng đã đề cập ở trên khác xa về vị trí địa lý với
vị trí tấm bia được ghi về “chùa Thiền Chúng” (Phát hiện tại chùa Trí Quả) năm
2004. Sự không nhất quán về việc chú thích tên gọi, có khi lấy tên hương, tên
núi hoặc tên huyện thường thấy trong các tư liệu thư tịch cổ. Nhưng ở trên, tôi
nghĩ đều chỉ một chùa. Nhưng có lẽ có sự nhẫm lẫn. Ta hãy chú ý đến phần chú
thích về mục Thiền sư Thiền Nham (1093- 1163) ghi về nhà sư chùa Trí Quả như
sau:“Thiền sư người Cổ Châu, họ Khương, húy Thông, tu hành ở chùa Thiên Phúc núi
Tiên Du…sau trở về bản hương trùng tu chùa Trí Quả) (6). Qua ghi chép về Thiền
sư Thiền Nham, ta biết được mối quan hệ về thiền phái và tiểu sử, mối quan hệ
giữa chùa Thiên Phúc (núi Tiên Du) và chùa Trí Quả - bản hương (quê gốc) của
ông. Hiện nay chúng ta chưa biết ở núi Thiên Phúc, hương Dịch Bảng hoặc huyện
Tiên Du có chùa Thiền Chúng không?. Nhưng tại chùa Trí Quả đã phát hiện được
tấm bia thời Tùy có ghi bài minh tháp xá lỵ chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên,
Giao Châu. So sánh những đoạn viết về chùa Thiền Chúng thời Tùy - Đường
trong Thiền uyển tập anh với bài minh tháp xá
lỵ trên đã khiến tôi không ít phân vân: Vậy có một hay có mấy chùa Thiền Chúng
và có phải chùa Huệ Trạch đúng là tên gọi sau này của Chùa Thiền Chúng thời Tùy
hay không?. Hơn 1400 năm đã trôi qua, vật đổi sao rời, tư liệu, thư tịch không
ghi trực tiếp về lịch sử chùa Huệ Trạch khi đó, nhưng qua tấm bia phát hiện bên
cạnh chùa đã giúp cho chúng liên tưởng và có thể đi xa hơn dự
đoán rằng rất có thể chùa Thiền Chúng là tên gọi khác của chùa
Huệ Trạch và chùa Trí Quả sau này.
- Trở
lại địa danh huyện Long Biên:
Trong tác phẩm “Đất nước Việt Nam qua các đời”, GS. Đào Duy Anh đã khảo cứu công phu về địa danh Giao Châu (交州).Bên cạnh đó, địa danh huyện Long Biên còn nhiều tư liệu chưa thống nhất. Địa danh này được nhắc đến nhiều lần trong các thư tịch cổ thời Bắc thuộc. Tư liệu được nhắc đến có niên đại gần với tấm bia vừa phát hiện ở chùa Thiền Chúng (Chùa Huệ Trạch) đã nhắc đến ở trên là những chi tiết viết về cuộc khởi nghĩa của Lư Tuần. Tên gọi “Long Biên” đã được sách Tư trị thông giám bổ (資治通鑑補) do Tư Mã Quang đời Tống biên tập, Hồ Tam Tỉnh (đời Nguyên, chú âm), đến đời Minh được Nghiên Diên và Đoàn Doãn Hậu đời Minh bổ sung và hiệu đính, ghi như sau:“Tuần thần chí Long Biên nam tân”(循辰至龍編津) (nghĩa là: (Lư) Tuần buổi sớm đến bờ phía nam Long Biên) (7) chua thêm:“Giao Chỉ quận, Long Biên huyện, châu quận giai trị yên” (郊址郡龍編縣州郡皆治焉).(Quận Giao Chỉ, huyện Long Biên, đều đóng trị sở ở đó). Trong sách “Thủy kinh chú” ghi rõ hơn: “Kiến An, nhị thập tam niên lập châu chi thủy, giao long bàn biên ư thủy nam, bắc nhị tân cố cải Long Uyên vi Long Biên (建安二十三年立州之始蛟龍蟠边於水南北二津故改龍淵为龍編). (nghĩa là: Kiến An năm thứ 23(Đời Hán Hiến Đế (218) - Tg) bắt đầu lập châu, giao long chầu hai bên bờ phía nam, bắc nên đổi Long Uyên thành Long Biên (8). Sách Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm (御批歷代通鑑集覽) biên soạn đời Càn Long bổ sung đoạn viết về Lư Tuần (9) và địa danh Long Biên như sau: “Tuần lũ bại, toại bôn Giao Châu chí Long Biên”(Chú: Hậu Hán Thư, Quận Quốc chí, Giao Chỉ trị Long Biên. Thủy Kinh chú, lập châu chi thủy, giao long bàn biên vu thủy nam, bắc nhị tân, cố danh”(循婁敗遂奔交州至龍編(注:後漢書郡國誌交址治龍編水經注立州之始蛟龍蟠边于水南北二津故名)). (Lư) Tuần mấy lần bị đánh bại, bèn chạy sang Giao Châu đến Long Biên (chú: Hậu Hán thư, phần Quận quốc chí ghi: Giao Chỉ lấy Long Biên làm sở trị. Thủy kinh chú (ghi): Ban đầu lập châu, giao long chầu hai bên bờ nam, bờ bắc của sông, nên đặt tên gọi). Cả hai sách Thủy Kinh Chú (水經注) và Ngự phê lịch đại thông giám tập lãmđều giải thích việc đổi tên gọi“Long Uyên”(giao long ở vực/sông sâu) thành “Long Biên”(giao long ở bên vực/sông) dựa theo hiện tượng cảnh quan môi trường mà định tên gọi. Cách đặt tên gọi trên gọi là từ nguyên học dân gian. Tuy nhiên, hai cuốn sách trên lại không cho biết cụ thể việc đổi tên đó được tiến hành vào thời gian nào và do ai đổi?. Theo sự khảo cứu của học giả Trần Văn Giáp thì sách: “Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm có thể sẽ cho cho chúng ta hiểu lầm sự thay đổi ấy có từ đời Hán (10). Thực ra, không phải thế. Đọc lời khảo cứu của Lê Quý Đôn, ta mới thấy rõ: Sự thay đổi ấy mới có từ đời Đường; mà nhất là trong lời văn của Nhan Sư Cổ và Chương Hoài, Thái tử Lý Hiền. Sư Cổ ( tức Nhan Sư Cổ), người sống vào đời Đường có làm chú thích hai bộ Hán thư của Ban Cố đã nói: Chữ“Uyên” là tên húy vua nhà Đường (11), cho nên Sư Cổ, Chương Hoài đổi làm“Long Biên”)(12). Theo GS. Đào Duy Anh, cho đến thời Tống huyện Long Biên chỉ có thể còn lại miền Từ Sơn, Tiên Du (tỉnh Hà Bắc) ngày nay (13). Như vậy, căn cứ vào việc đổi tên gọi“Long Uyên” thành“Long Biên” trong phần chú thích sách Hán thư của Sư Cổ - Nhà Huấn hỗ học đời Đường là cách thay đổi tên gọi theo lối tỵ húy. Nhưng ở tấm bia xá lỵ này vẫn viết là “Long Biên”(龍編) mà không viết là “Long Uyên”(龍淵). Vì thế đã không phù hợp với cách giải thích của Sư Cổ, Chương Hoài. Dù thay đổi tên gọi, giải thích tên gọi theo kiểu từ nguyên học dân gian theo cách giải thích của sách Thủy Kinh Chú và sách Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm hay cách lý giải của Nhan Sư Cổ, Chương Hoài, Thái tử Lý Hiền hoặc giải thích sự thay đổi tên gọi do kiêng húy thì tên gọi: Long Uyên rồi sau này là Long Biên đều có ý nghĩa riêng của nó…Từ cuối thế kỷ XIX, qua các khảo cứu của Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị khảo, cho đến đầu thế kỷ XX, qua các khảo cứu của nhà thư tịch học Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, học giả Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời… cho đến nhiều giáo sư, học giả hiện nay chưa đi đến thống nhất về giới hạn địa danh huyện Long Biên. Thậm chí nhà sử học Đặng Xuân Bảng còn cho rằng địa giới huyện Long Biên đến tận Lạng Sơn, vùng Hồ Ba Bể (Bắc Kạn). Gần đây, qua Những phát hiện mới về khảo cổ học cho thấy vào thời Trần tên gọi huyện Long Biên còn được nhắc đến trên tấm bia“Hưng Phúc tự bi”(興福寺碑) phát hiện ở thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Lâm, Hưng Yên, ghi vào thời điểm xây dựng ngôi chùa này vào năm 1351 thuộc huyện Long Biên, Xứ Kinh Bắc (14). Long Biên đã từng là đất đai của các huyện Tiên Du, Yên Phong, Gia Lâm và cả Văn Lâm nữa. Như thế địa danh huyện Long Biên trong lịch sử khá phức tạp. Thời Hán, Long Biên là trị sở xứ Giao Châu. Thời Tùy, Đường có lẽ cũng theo như thế. Nơi ấy có vực sâu, thường có nhiều Cá Sấu chầu bên từng gây ra nỗi kinh hoàng cho người phương Bắc và đã được sử sách ghi lại. Nhưng cho đến mãi thời Trần theo tư liệu bi ký huyện Văn Lâm (Hưng Yên - ngày nay) vẫn thuộc phạm vi huyện Long Biên, xứ Kinh Bắc... Vị trí xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Lâm (Hưng Yên) với xã Trí Quả (Thuận Thành - Bắc Ninh) khá gần nhau về địa lý. Từ tên gọi huyện Long Biên thời Tùy (Qua bài minh tháp chùa Thiền Chúng), cho đến những ghi chép trong sử sách Trung Quốc về huyện Long Biên, về cuộc khởi nghĩa của Lư Tuần (TK VI), tấm bia thời Trần (TK XIII) đã nhắc đến ở trên…đã cho chúng ta nghĩ đến giới hạn huyện Long Biên rất rộng và có sự thay đổi, diên cách nhiều lần. Qua đó là cơ sở góp thêm bằng chứng cho phép chúng ta nghĩ đến chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên rất có thể là Huệ Trạch tự (chùa Trí Quả - Thuận Thành, Bắc Ninh) sau này.
Về một số thuật ngữ Phật học và bối cảnh lịch sử ra đời của bài minh
tháp.
Trong tấm bia có đề cập đến xá lợi/lỵ. Mọi người đều đã biết, Xá lợi
(舍利), tiếng Phạn là “Sarêra”. Nhà sư khi viên tịch, thân xác được thiêu đốt đi,
những phần xương còn lại sau khi hỏa táng gọi là xá lợi/lỵ. Nhưng xá lỵ ở đây là
xá lỵ của ai, tên là gì. Bài minh tháp không nói rõ. Nhưng có lẽ đây phải là xá
lỵ của Phật bởi tháp xá lỵ này được tạo dựng trước tiên là để cầu nguyện cho
Hoàng đế, Hoàng hậu, Hoàng Thái tử cùng các quần quan nhà Tùy:“Theo ước
nguyện của Thái tổ Vũ nguyên Hoàng đế, Nguyên minh Hoàng hậu, Hoàng đế, Hoàng
hậu, Hoàng thái tử cùng các chư vương, con cháu nội ngoại, các quan viên cho đến
thứ dân, Lục đạo, Tam đồ trên cõi đời cùng sống thuận theo lời dạy của đức Phật,
nghe được văn pháp mãi mãi ly rời khổ đau, trầm luân, được nhẹ nhàng lên chốn
diệu quả”.
Về đối tượng cầu nguyện cũng chính là mục đích dựng bia. Ở đây xuất hiện
một số thuật ngữ Phật học. Lục
đạo (六道) : Theo nhà Phật, người chết sẽ
theo việc làm bình sinh mà chia ra 6 chỗ ở : 1.Thiên đạo; 2. Nhân đạo; 3.A tu la
đạo; 4. Quỷ đạo; 5. Súc sinh đạo; 6. Địa ngục đạo (15). Khái
niệm Tam đồ (三塗) cũng có sự giải thích khác
nhau về thuật ngữ này. Cách giải thích thứ nhất: Ba đường ác nghiệp trong Phật
giáo: 1. Địa ngục; 2. Ngạ quỷ (Quỷ đói) và Súc sinh (Thú vật)(16); Cách giải
thích khác là: “Ba đường ác (tam ác, tam đồ, tam ác thú, tam ác đạo): Nhà Phật
cho rằng những ai khi sống mà phạm vào mười điều ác (Thập ác) thì khi chết sẽ đi
vào “ba nẻo dữ”, ba đường ác lụy. Một là đường quỷ đói, (ngạ quỷ đạo), nơi tụ
họp của các đường ma quỷ, hình thù xấu xí, dáng mạo dị hợm; tại đây các tội nhân
bị đ gánh đập tơi bời, muốn ăn không ăn được, muốn uống không uống được…Hai là
đường địa ngục (Địa ngục đạo), nơi các tội nhân bị dày vò bằng đủ cách: Thiêu
đốt, cưa xẻ, tra tấn, cùm kẹp…Ba là đường súc sinh (súc sinh đạo), nơi tội nhân
phải đầu thai thành súc vật để cho người ta hành hạ, ăn thịt (17). Cách giải
thích thứ 2: Tam đồ (Ba đường): Đường lửa (hỏa đồ) ở địa ngục lửa cháy; đường
máu (huyết đồ) nơi súc sinh ăn thịt lẫn nhau; đường gươm đao (đao đồ) nơi quỷ
đói bị gươm đao bức bách. Trong Bài tựa sách Thiền uyển tập
anh có đoạn: “…Thế là Phật giáo được thi hành rộng khắp, thiền
tông nối tiếp. Gió đưa hơi thanh mát cho Sáu đạo, tuyết vùi
lửa bỏng cháy ở Ba đường. Bí quyết thành Phật, thành Tổ cũng
từ đây mở mối (18). Xuất phát từ ý nghĩa đó mà người ta thường gọi là “Ba đường
sáu nẻo luân hồi”.
Vậy bối cảnh ra đời của bài minh tháp xá lỵ thời Tùy Nhân Thọ (601)
trên như thế nào?.
Trước tiên cần hiểu được tông phái của dòng thiền này qua các vị thiền
sư xuất hiện trong thời điểm đó. Trên đây chúng tôi đã thống kê những vị Thiền
sư trụ trì đầu tiên gắn với tên gọi chùa Thiền Chúng là Pháp Hiền. Pháp Hiền là
học trò của Tỳ Ni Đa Lưu Chi (? – 594). Tỳ Ni Đa Lưu Chi là học trò của Tăng Sán
(Người Trung Quốc). Mục truyện về Tỳ Ni Đa Lưu Chi trong
sách Thiền uyển tập anh cho biết: Ông trụ trì
chùa Pháp Vân, hương Cổ Châu, huyện Long Biên. Thiền sư người nước Thiên Trúc
(Ấn Độ), dòng dõi Bà la môn, năm Giáp Ngọ (574) ông lần đầu tiên đến kinh đô
Tràng An. Gặp lúc Chu Vũ đế tàn sát Phật giáo ông đi về đất Nghiệp (Hồ Nam). Hồi
đó, tổ thứ 3 (của Thiền tông Trung Hoa) là Tăng Xán lánh lạn đến ở ẩn ở núi Tư
Không rồi theo lời khuyên của Tăng Xán: “Ngươi mau về phương nam tiếp xúc với
thiên hạ, không nên ở đây lâu”. Trong khoảng 6 năm (574- 580) ông dịch xong bộ
kinh Tượng đầu, Báo nghiệp sai biệt.Tháng 3 năm Canh Tý
(580) sang nước ta, trụ trì chùa Pháp Vân (nay là chùa Dâu – Thuận Thành, Bắc
Ninh), dịch thêm kinh Tổng Trì. Một đoạn khác
viết: Vả lại tổ ta là Tăng Xán truyền tâm ấn ấy cho ta, để ta mau đi về phương
nam để giao tiếp với thiên hạ, không nên ở lâu tại đó. Trải từ bấy đến nay với
người gặp gỡ, quả là ứng hợp với lời huyền ký. Người phải khéo giữ gìn. Đã đến
lúc ta phải đi rồi. Nói xong sư chắp tay mà qua đời. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng,
thu xá lỵ năm sắc rồi dựng tháp phụng thờ. Bấy giờ là năm Giáp Tý niên hiệu Tùy
Khai Hoàng thứ 14 (594).(19).
Như vậy, Tỳ Ni Đa Lưu Chi viên tịch tại chùa Pháp Vân (Chùa Dâu- Diên
Ứng tự) năm 594 và đã được Thiền sư Pháp Hiền dựng Tháp tại chùa ở đó. Như vậy,
tháp xá lỵ của Tỳ Ni Đa Lưu Chi được tạo dựng trước “Xá lợi tháp minh”(năm 601)
là 7 năm. Sau khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi tịch diệt, Pháp Hiền đến núi Thiên
Phúc, Thiền uyển tập anh cho biết: Nhà sư tu
tập thiền định, quên hết cả vật lẫn bản thân mình, chim rừng bay đến vây quanh,
dã thú đùa rỡn. Người đương thời hâm mộ danh tiếng, đến học đạo với sư đông
không kể xiết. Nhân đó sư dựng chùa Chúng Thiền (có lẽ là Thiền Chúng – N.Q.H)
nhận tuyển dạy học trò. Tăng đồ đến lưu học tại chùa có khi đông đến hơn ba trăm
người. Dòng thiền nam phương hưng thịnh từ đó. Thứ sử nhà Tùy là Lưu Phương tâu
về triều. Tùy Cao Tổ từ lâu đã nghe tiếng người nước Nam này sùng chuộng đạo
Phật, đã có các bậc cao tăng đức vọng, bèn sai sứ đem xá lỵ Phật và năm hòm sắc
điệp sang ban cho sư để xây tháp cúng dàng. Sư bèn chia xá lỵ cho chùa Pháp Vân
ở Luy Lâu và các chùa ở các châu Phong, Hoan, Trường, Ái để dựng tháp thờ (20).
Cho đến ngày nay, ở các vùng Phong Châu (Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Hoan Châu (Nghệ
An, Hà Tĩnh), Trường Châu (Ninh Bình), Ái Châu (Thanh Hóa) chưa tìm thấy các
tháp xá lỵ thời Tùy như đã tìm thấy ở chùa Thiền Chúng.Thời nhà Tùy tồn tại ngắn
ngủi, sử sách viết về xứ Giao Châu cũng không nhiều. Đại Việt sử
ký toàn thư ghi về sự kiện năm Tùy Văn Đế Duy Kiến, niên hiệu
Nhân Thọ thứ nhất (601) như sau: “Dương Tố nhà Tùy tiến cử Thái sử Qua Châu là
Lưu Phương người Tràng An có tài thao lược làm tướng. Vua Tùy xuống chiếu lấy Tố
làm Giao Châu đạo hành quân tổng quản, thống lĩnh 27 doanh quân sang xâm chiếm.
Quân lệnh của Phương rất nghiêm, ai phạm tất chém. Nhưng Phương tính nhân ái,
binh sĩ người nào ốm đau đều thân đến thăm viếng nuôi dưỡng quân lính ai lấy đều
mến đức sợ uy (21).
Qua mục tiểu truyện các vị Thiền sư, cao tăng cùng các tăng đồ đến theo
học, cho ta biết phương pháp tu luyện đó là phép thiền định, lấy sự tĩnh lặng
làm căn bản. Tên gọi “Thiền Chúng”((禪衆)ở đây có thể được hiểu là: “Tứ chúng đồng
tu thiền” (四衆同修禪). “Tứ chúng” bao gồm: Tăng, ni, cư sĩ, phật tử. Nhưng khi đó,
các nhà sư chùa Thiền Chúng không chỉ có tu thiền mà còn có sự kết hợp giữa
thiền với Đạo giáo: Thiền sư kiêm Pháp sư. Sở dĩ chúng ta biết điều này bởi phần
cuối bài minh viết: “Sắc sử Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kỵ úy Khương Vi
tống xá lỵ ư thử tạo tháp”(勅使大德慧雅法師吏部羽騎慰姜微送舍利於此造塔.(Sắc sai Đại đức Tuệ Nhã pháp
sư, Lại bộ Vũ kỵ úy Khương Vi đem xá lỵ tạo tháp ở đây). Ở trên đã nói, năm 580,
tại chùa Dâu,Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dịch xong kinh Tổng Trì. Tổng
trì tức là bí mật giáo, mật tông (tantrisme).Từ rất sơm, Phật
giáo Thiền tông vùng này đã chịu ảnh hưởng của mật tông. Qua bài tháp minh còn
cho chúng ta biết thêm, vào thời Tùy, ở chùa Thiền Chúng – Bên cạnh thiền sư
Pháp Hiền còn có thêm một vị cao tăng sống cùng thời: Đại đức Tuệ Nhã pháp sư mà
sách Thiền uyển tập anh không ghi
chép.
Chùa Dâu thời Bắc thuộc - Trung tâm Phật giáo Giao Châu giữ vị trí rất
quan trọng. Nhưng những tư liệu gốc (tư liệu đương thời) phản ánh về lịch sử
Phật giáo ở vùng này thật ít ỏi. Thiền uyển tập anh, Đại Việt sử
ký toàn thư…và một số tư liệu thư tịch Trung Hoa chỉ ghi lại
vài dòng ngắn ngủi nên chúng ta không biết được nhiều hơn về các vấn đề Kinh tế,
chính trị, văn hóa… thời đó như thế nào. Trước đây, khi viết về Lịch sử chùa Dâu
đặc biệt là thời Bắc thuộc, tôi vẫn mong có nhiều cuộc khảo cổ học tương đối quy
mô để thêm những phát hiện mới mong lấp đầy khoảng trống trong nhận thức lịch
sử. Tấm bia tháp xá lợi phát hiện ngẫu nhiên nhưng đã đem đến cho chúng ta nhiều
hứng thú. Bài minh tuy ngắn ngủi nhưng đã cung cấp một số thông tin thú vị. Tuy
nhiên, nội dung tấm bia đặc biệt là qua nghiên cứu địa danh chùa Thiền Chúng,
tên gọi huyện Long Biên… đã không ngăn được những phân vân về nên đại của chúng.
Liệu tấm bia đó có được khắc ngay năm Đại Tùy Nhân Thọ nguyên niên (601) hay mãi
sau này mới khắc theo một văn bản bằng chất liệu nào đó có sẵn để lại?. Dù vậy,
qua nội dung bài minh tháp xá lợi đã giúp cho người đọc có thể hình dung được
phần nào về lịch sử hình thành chùa Thiền Chúng (Huệ Trạch tự ?) cũng như về
tông phái Phật giáo vùng Dâu, Long Biên, Giao
Châu.
N.Q.H
Chú Thích
(1). Nhân đây chúng tôi xin được cảm ơn đến ông Nguyễn Đình Nhân, thôn
Xuân Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã cung cấp cho chúng
tôi bản dập thác bản bài minh văn này.
(2) Bản dập thác bản văn bia số kí hiệu 20945, thư viện Viện nghiên cứu
Hán Nôm, trong Tổng tập thác bản Hán Nôm Việt Nam, Tập 21.
Bản gốc tấm bia này được lưu giữ tại Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội.
Theo PGS Trần Nghĩa, bài văn bia này có đến 6 dị bản được sao chép lại vào các
năm 1731, 1842, 1962, bản sao lục lại thác bản năm 1931(VHv. 2369), bản in
trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Tập I từ Bắc thuộc đến thời
Lý, Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp và Viện nghiên cứu Hán Nôm xuất bản,
Paris - Hà Nội, 1998, tr 7- 9; Cũng xem Trần Nghĩa/ Tác phẩm chữ
Hán của người Việt Nam trước thế kỷ X (phần I), Nxb Thế giới,
2000, tr 262- 271.
(3) Xem Trần Nghĩa/ Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ
Hán của người Việt Nam trước thế kỷ X (Phần II), Nxb Thế giới, tr 358-
361); Thiền uyển tập anh,(Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga dịch và
chú thích, Ngô Đức Thọ giới thiệu, Phân viện nghiên cứuPhật học, Nxb Văn
học- 1990, tr 177).
(4) Thiền uyển tập anh , đd, tr
174.
(5) Sách Thiền uyển tập anh có lẽ viết
nhầm thành “Chúng Thiền” (衆禪), núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du). (Thiền uyển
tập anh, đd, tr 169).
(6)Thuyền uyển tập anh, đd tr 212
(7) Long Uyên (có nghĩa là: Giao long ở
dưới vực/sông sâu), Long Biên (Giao Long ở bên
vực/sông sâu).
(8) Viết về cuộc khởi nghĩa của Lư Tuần có bài của GS Hà Văn
Tấn /Viên gạch có chữ trong ngôi mộ thời Nam Tề và cuộc khởi
nghĩa của Lư Tuần, NPHMVKCH, 2001, tr
711,712,713.
(9) Lê Quý Đôn/ Vân đài loại ngữ (Trần
Văn Giáp biên dịch và khảo cứu, Trần Văn Khang làm sách dẫn; Cao Xuân Huy hiệu
đính và giới thiệu), Tập I, NXB Văn Học, 1962, tr
151.
(10) Đường Cao Tổ họ Lý tên là Uyên, tự là Thúc Đức, người Lũng
Tây.
(11) Lê Quý Đôn/ Vân đài loại ngữ, đd
tr 152,153
(12) Đào Duy Anh/ Đất nước Việt Nam qua các đời,
Nxb văn hóa Thông tin, 2005, tr 86)
(13) Xem Phạm Thùy Vinh/Văn bia thời Trần chùa Hưng Phúc và địa danh
hành chính huyện Long Biên, Những phát hiện mới về Khảo cổ học (NPHMVKCH),
2003, tr 553,554.
(14) Theo Đào Duy Anh/ Hán Việt từ điển, Quyển
Thượng, N xb Khxh, 1996, đ d, tr 523).
(15) Đào Duy Anh/ Hán Việt từ điển,Q Hạ, đd tr,
226
(16) Cách giải thích trong tác phẩm “Sưu tầm và khảo
luận tác phẩm chứ Hán của người Việt Nam trước thế kỷ X, đd,
trong “Sáu bức thư tranh luận về Đạo Phật” phần
chú giải cũng thống nhất với cách giải thích trong Hán Việt từ
điển của GS. Đào Duy Anh.
(17) Xem chú thích thứ 20 bài Đáp Lý Giao châu
thư, đd tr 257.
(18) Thiền uyển tập anh, đd, tr 165, 166,
167.
(19) Thiền uyển tập anh, đd, tr 169,
170.
(20). Thiền uyển tập anh/Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy
Nga (dịch và chú thích) Ngô Đức Thọ giới thiệu, Phận viện Nghiên cứu Phật học,
NXB Văn học, H, 1990, tr 24.
(21) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I,
Nxb Khxh, H, 1998, Ngoại kỷ, Q IV, tờ 22a, Bd, tr
186
[1] Trung tâm Bảo tồn
Di sản Thăng Long - Hà Nội; ĐT: 0984. 871.
786
http://xuandienhannom.blogspot.com/2012/10/nguyen-quang-ha-ve-tam-bia-thoi-tuy-601.html
VIỆC
XÂY DỰNG THÁP XÁ LỢI DƯỚI THỜI TÙY VĂN ĐẾ VÀ MINH VĂN THÁP XÁ LỢI MỚI PHÁT HIỆN
TẠI BẮC NINH
Phạm
Lê Huy
Khoa Đông phương học, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà
Nội
Nhân Thọ xá lợi tháp và các tư
liệu liên quan
Trong vòng 4 năm, từ năm 601
(Nhân Thọ 1) đến năm 604 (Nhân Thọ 4), Tùy Văn Đế Dương Kiên đã ba lần phân phát
xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại các châu thuộc bản đồ đế
quốc. Do cùng được xây dựng dưới niên hiệu Nhân Thọ, hệ thống tháp xá lợi này
thường được biết đến dưới tên gọi “Nhân Thọ xá lợi tháp”. Sự kiện xây dựng
các tháp
xá lợi dưới thời Tùy Văn Đế được đánh giá là một dấu mốc quan trọng trong lịch
sử phát
triển Phật giáo và mỹ thuật Trung
Quốc. Chính vì vậy, nó đã sớm nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học
giả Trung Quốc và Nhật Bản.
Xét thấy các tư liệu và kết quả
nghiên cứu về “Nhân
Thọ xá lợi tháp” chưa được biết đến rộng
rãi tại Việt Nam, trong khuôn khổ
bài thông báo này, chúng tôi mạn phép trích dẫn và giới thiệu một số tư liệu cơ
bản, chủ yếu là tư liệu chữ viết (tài liệu thư tịch và tư liệu
kim thạch văn) xung
quanh việc xây
dựng “Nhân Thọ xá lợi
tháp” vào thời
Tùy. Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận định góp phần nhận diện
minh văn tháp xá lợi mới được phát hiện tại Bắc Ninh trong thời gian gần
đây[1].
Nhìn chung, các nghiên cứu về
“Nhân Thọ xá lợi tháp” đều được triển khai trên cơ sở các ghi chép
trong các
sách Tập thần châu Tam bảo Cảm thông
lục 集神州三宝感通録 (dưới đây gọi tắt
là Cảm thông lục), Quảng hoằng minh
tập廣弘明集, Tục cao tăng
truyện續高僧傳 (đều
do sư Đạo Tuyên 道宣 biên
soạn vào thời Đường, trong đó Quảng hoằng minh
tập được hoàn thành năm Lân Đức nguyên niên –
664, Tục Cao tăng truyện hoàn thành năm Trinh
Quán 19 - 645). Theo các nguồn tư liệu đó, “Nhân Thọ xá lợi tháp” được xây dựng
vào 3 thời điểm như sau:
Lần thứ nhất vào năm Nhân Thọ
nguyên niên (601), trên phạm vi 30 châu.
Lần thứ hai vào năm Nhân Thọ 2
(602), trên phạm vi 50 (có tài liệu cho là 53)
châu.
Lần thứ ba vào năm Nhân Thọ 4
(604), trên phạm vi hơn 30 châu.
Trong ba lần này, hệ thống tư
liệu về hoạt động năm 601 là đầy đủ nhất. Theo Cảm thông
lục, Tùy Văn Đế đã xuống chiếu về việc phân phát xá lợi và xây dựng bảo tháp
an trí xá lợi vào ngày 13 tháng 6 năm 601. Nội dung bài chiếu cũng như tên các
châu được phân phát xá lợi khi đó
được ghi chép cụ thể trong sách Quảng hoằng minh
tập.
Sử liệu 1: Quảng
hoằng minh tập, quyển 17, Phật đức thiên đệ
tam chi tam
正
覺大慈大悲、救護群生、津梁庶品、朕歸依三寶重興聖教、思與四海之内一切人民俱發菩提共修福業、使當今現在、爰及來世、永作善因、同登妙果、宜請沙門三十
人、諳解法相、兼堪宣導者、各將侍者二人、并散官各一人、薰陸香一百二十斤、馬五匹、分道送舍利、往前件諸州起塔、其未注寺者、就有山水寺所、起塔依前
山、舊無寺者、於當州內清靜寺處建立其塔、所司造様送往當州、僧多者三百六十人、其次二百四十人、其次一百二十人、若僧少者、盡見僧、為朕、皇后、太子廣、諸王子孫等、及内外官人、一切民庶、幽顯生靈、各七日行道并懺悔、起行道日打剎、莫問同州異州、任人布施、錢限止十文已下、不得過十文、所施之錢以供營塔、若少不充役正丁、及用庫物、率土諸州僧尼、普為舍利設齋、限十月十五日午時、同下入石函、總管刺史已下縣尉已上、息軍機停常務七日、專檢校行道及打剎等事、務盡誠敬、副朕意焉、主者施行、仁壽元年六月十三日,內史令豫章王臣暕宣。
Tạm
dịch:
Kẻ môn hạ kính ngưỡng nghĩ rằng:
đức đại từ đại bi của bậc Chính Giác cứu giúp cho chúng sinh, là cầu nối cho vạn
vật. Trẫm nay qui y tam bảo, trùng hưng thánh giáo, muốn cùng tất thảy nhân dân
trong bốn bể, cùng phát nguyện bồ đề, cúng tu phúc nghiệp, để cho đương kim hiện
tại, cùng với vị lai, vĩnh tạo thiện nhân, cùng lên diệu quả. Nên mời 30 vị sa
môn thông tuệ Pháp tướng [tức Phật pháp], kiêm kham truyền đạo, mỗi vị dẫn theo
tùy tùng 2 người, tản quan 1 người, đem theo huân lục hương 120 cân, ngựa 5 con,
chia ra các đạo hộ tống xá lợi đến các châu trên đây dựng tháp. Đối với các nơi
không ghi chú tên chùa, chọn nơi chùa có sơn thủy, dựng tháp dựa vào núi phía
trước. Những nơi vốn không có núi, dựng tháp tại chùa ở nơi thanh tịnh trong
châu. Sở ty tạo “dung” [thiết kế] gửi cho các châu. Nơi có nhiều sư lấy 360
người, mức tiếp theo là 240 người, mức nữa là 120 người. Nếu có ít sư, huy động
tất cả các sư hiện có. [Các sư] phải vì Trẫm, Hoàng hậu, Thái tử [Dương] Quảng,
các vương tử tôn, nội ngoại quan nhân, tất thảy dân thường, sinh linh hai cõi u
huyền, mỗi nơi hành đạo, sám hối trong vòng 7 ngày. Vào ngày hành đạo tiến hành
“đả sát”, không kể người trong châu ngoài châu, đều phải bố thí. Tiền [bố thí]
phải dưới 10 văn, không được quá 10 văn. Lấy tiền bố thí cúng cho việc tạo tháp.
Nếu thiếu không được sung chính đinh, dùng đồ trong quan
khố. Tăng ni các châu đều phải làm trai lễ cho xá
lợi. Hạn vào giờ Ngọ ngày 5 tháng 10,
các nơi cùng hạ nhập hộp đá. Từ chức tổng quản, thứ sử
trở xuống đến chức huyện úy trở lên, đều phải nghỉ việc quân cơ, tạm dừng thường
vụ trong 7 ngày, chuyên tâm đôn đốc việc hành
đạo và “đả sát”, hết sức thành kính, không được phụ ý
trẫm. Nhất nhất phải thi hành. Nhân
Thọ nguyên niên, tháng 6 ngày 13. Nội sử lệnh Dự Chương vương thần [Dương] Giản
tuyên đọc.
Quảng hoằng minh
tập cũng ghi danh sách
30 châu được phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng tháp. Tương ứng với chiếu thư
của vua Tùy, có thể thấy danh sách này chia làm 2 nhóm.
Bên cạnh 17 châu có ghi rõ tên chùa, ví dụ Ung châu Tiên Du tự, có 13 châu chỉ
ghi tên châu mà không ghi tên chùa, trong số đó có Giao
châu. Như vậy, đối với Giao châu, vua
Tùy không chỉ định địa điểm cụ thể, mà để cho Giao châu lựa chọn chùa xây
tháp. Tiêu chuẩn lựa
chọn là
chùa phải ở nơi có danh sơn danh thủy, tháp phải được xây dựa vào núi phía
trước, hoặc với những châu không có núi thì phải là chùa chiền
ở nơi thanh tịnh. Tiếp theo chiếu
thư của Tùy Văn Đế, Đạo Tuyên cũng chép các nơi có tấu báo về việc xuất hiện
“cảm ứng” khi xây tháp. Ví dụ như tại Ung châu xây tháp tại chùa Tiên Du, trời
mây mù đổ mưa, nhưng đến khi đưa xá lợi xuống thì trời quang mây tạnh, đến khi
đưa xá lợi vào hộp thì trời lại đổ mưa[2]. Trong
danh sách “cảm ứng” đó cũng có nhắc đến Giao châu, nhưng chỉ ghi đơn giản ở Giao
châu khởi dựng tháp tại Thiền Chúng tự (交州於禪眾寺起塔) mà
không nhắc đến “cảm ứng” cụ thể[3].
Khi chôn xá lợi, người ta thường
chôn kèm minh văn. Hiện nay, người ta đã tìm thấy 12 minh văn liên quan đến việc
xây dựng "Nhân Thọ xá lợi tháp", trong đó có 6 minh văn về lần xây dựng năm 601,
3 minh văn về lần xây dựng năm 602, 3 minh văn về lần xây dựng năm
604.
Bảng: Các minh văn liên quan đến
"Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện được
tại Trung Quốc (tham
khảo Oshima Sachio,
2012)
|
STT
|
Địa điểm
|
Thông tin
| |
|
1
|
Ung châu Tiên Du
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Tiên Du
tự
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Chưa có thông
tin
|
|
|
|
Kích
thước
|
Chưa có thông
tin
|
|
2
|
Kỳ châu Phượng Tuyền
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng huyện Phù
Phong
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ[4] (t9),
tr.143
|
|
|
|
Kích
thước
|
32x34cm
|
|
3
|
Đồng châu Đại Hưng quốc
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Uỷ ban quản lý văn vật huyện Đại
Chi tỉnh Thiểm Tây
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Thiểm Tây bi thạch tinh
hoa,
tr.30
|
|
|
|
Kích
thước
|
Chưa có thông
tin
|
|
4
|
Thanh châu Thắng Phúc
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Thành phố Thanh
châu
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ (t9),
tr.144
|
|
|
|
Kích
thước
|
63x77cm (trán bia:
31x27cm)
|
|
5
|
Đại Hưng huyện Long Trì
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Không
rõ
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ (t9),
tr.142
|
|
|
|
Kích
thước
|
35x30cm
|
|
6
|
Tín châu Kim luân
tự
|
Niên
đại
|
602 (Nhân Thọ
2)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bạch Đế thành Tây Bi
Lâm
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ (t.9),
tr.153
|
|
|
|
Kích
thước
|
43x46cm
|
|
7
|
Lộ châu Phạn Cảnh
tự
|
Niên
đại
|
602 (Nhân Thọ
2)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Không
rõ
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Chưa có thông
tin
|
|
|
|
Kích
thước
|
Chưa có thông
tin
|
|
8
|
Đặng châu Đại Hưng quốc
tự
|
Niên
đại
|
602 (Nhân Thọ
2)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Thành phố Khai
Phong
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ (t.9),
tr.156
|
|
9
|
Tử châu Hoa Lâm
tự
|
Niên
đại
|
604 (Nhân Thọ
4)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Không
rõ
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Nakamura Nobuo
(2004)
|
|
10
|
Nghi châu Thần Đức
tự
|
Niên đại
|
604 (Nhân Thọ
4)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Diệu
huyện
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Thiểm Tây bi khắc tinh
hoa,
tr.32
|
|
11
|
Liêm châu Hoa Thành
tự
|
Niên
đại
|
604 (Nhân Thọ
4)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Không
rõ
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Bắc đồ,
tr.166
|
|
12
|
Kinh thành Diên Hưng
tự
|
Niên
đại
|
601 (Nhân Thọ
1)
|
|
|
|
Nơi lưu
giữ
|
Bảo tàng Hàm
Dương
|
|
|
|
Ảnh thác
bản
|
Hàm Dương bi
thạch,
tr.18
|
Minh văn tháp xá lợi tại Bắc
Ninh
Theo báo cáo của TS. Lê Viết Nga (Giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh), thời gian vừa qua tại Bắc Ninh đã phát hiện được một tấm bia, theo minh văn có niên đại vào năm 601. Ngày 29 tháng 8 năm 2012, chúng tôi đã có dịp cùng GS.Phan Huy Lê, PGS.TS.Tống Trung Tín, TS.Nguyễn Văn Sơn đến Bảo tàng Bắc Ninh và trực tiếp quan sát tấm bia này dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Viết Nga.
Minh văn tổng cộng có 133 chữ,
được chia làm 13 dòng, mỗi dòng về cơ bản có 13 chữ. Nguyên văn
như sau:
1 舍利塔銘
2 歳次辛[5]酉十月
3 辛亥朔十五日乙丑
4 皇帝普為一切法界幽顯生靈謹
5 於交州龍編縣禅衆寺奉安舍利
6 敬造靈塔願
7
太祖武元皇帝元明皇后皇帝皇
8 后皇太子諸王子孫等並内外羣
9 官爰及民庶六道三塗人非人等
10 生生世世值佛聞法永離苦空同
11 昇妙果
12 勅使大德慧雅法師吏部羽騎尉
13 姜徽送舎利於此起塔
Phiên âm:
1 Xá lợi tháp minh
văn
2 Duy Đại Tuỳ Nhân Thọ
nguyên niên tuế thứ Tân Dậu thập nguyệt
3 Tân Hợi sóc thập ngũ
nhật Ất Sửu
4 Hoàng đế[6] phổ
vi nhất thiết pháp giới u hiển sinh linh
cẩn
5 ư Giao Châu Long Biên
huyện Thiền Chúng tự phụng an xá lợi
6 kính tạo linh tháp
nguyện
7 Thái tổ Vũ Nguyên
Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu[7], Hoàng
đế, Hoàng
8 hậu, Hoàng thái
tử[8], chư
vương tử tôn đẳng, tịnh nội ngoại quần
9 quan, viên cập[9] dân
thứ, lục đạo, tam đồ nhân, phi nhân đẳng
10 Sinh sinh thế thế trị
phật văn pháp, vĩnh ly khổ không, đồng
11 thăng diệu
quả
12 Sắc sứ Đại đức Tuệ Nhã
pháp sư, Lại bộ Vũ kỵ uý[10]
13 Khương Huy tống xá lợi
ư thử khởi tháp
Qua so sánh, có thể
thấy minh văn tìm được tại Bắc Ninh
(dưới đây tạm gọi là minh văn Giao châu) có nội dung về cơ bản giống với các
minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" có niên đại 601 đã phát hiện được tại Trung
Quốc, chỉ tồn tại một số khác biệt nhỏ như
sau:
Thứ nhất, trong minh văn Giao
châu, dòng đầu tiên ghi chữ "Xá lợi tháp minh". Trong khi đó, một số minh văn
Trung Quốc lại ghi là "Xá lợi tháp hạ minh" (Ung châu, Kỳ châu, Thanh châu, Đại
Hưng huyện). Vị trí khắc dòng tiêu đề này cũng khác nhau tùy theo từng bia, minh
văn Ung châu và Thanh châu ghi ở dòng đầu, minh văn Kỳ châu và Đại Hưng huyện
ghi ở dòng cuối cùng.
Thứ hai là sự phân bố các chữ
trên một dòng. Về cơ bản, minh văn Kỳ châu mỗi dòng có 11 chữ, minh văn Thanh
châu và Đại Hưng huyện mỗi dòng có 12 chữ. Trong khi đó, minh văn Giao châu mỗi
dòng có 13 chữ.
Thứ ba là minh văn Giao châu sử
dụng một số chữ dị thể khác với các minh văn khác. Ví dụ chữ Tân xuất hiện hai
lần trong minh văn ở dạng dị thể . Đây là một dạng dị
thể khá hiếm xuất hiện trên bia Nghĩa Kiều thạch tượng thời Đông Ngụy
(東魏義橋石像碑).
Thứ tư là sự khác biệt về địa
điểm xây tháp (đây là điều đương nhiên). Địa điểm xây tháp là "Giao châu Long
Biên huyện Thiền Chúng tự", phù hợp với ghi chép của Quảng hoằng
minh tập, nhưng có điểm riêng là đặt chùa Thiền Chúng tại huyện Long Biên,
Giao châu.
Thứ năm là trong khi các minh
văn khác chỉ có phần chính văn, riêng minh văn Giao châu và Thanh châu có thêm
phần chú thích về "sắc sứ". Minh văn Giao châu ghi tên sắc sứ là "Đại đức Tuệ
Nhã pháp sư"[11] và
"Vũ kỵ uý Khương Huy". Minh văn Thanh châu ngoài 2 sắc sứ là "Đại đức Trí Năng"
và "Vũ kỵ uý Lý Đức Kham". Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế, có thể xác
định "Đại đức Tuệ Nhã pháp sư" và "Đại đức Trí Năng" là 2 trong số 30 sa môn
được Tuỳ Văn Đế cử về địa phương, Khương Huy và Lý Đức Kham là 2 "tản quan" tháp
tùng. Ngoài ra, minh văn Thanh châu còn ghi thêm tên người viết chữ là "Mạnh
Bật" 孟弼. Bên
cạnh đó, phần ghi chú về sắc sứ của minh văn Giao châu cũng có điểm khác biệt
với minh văn Thanh châu. Minh văn Thanh châu ngoài sắc
sứ còn ghi thêm tên 2 người tuỳ
tùng (tòng giả) và 2 viên chức Tư mã và Lục sự tham quân của Thanh châu. Minh
văn Giao châu lại có thêm dòng chữ "tống xá lợi ư thử khởi tháp" (送舎利於此起塔). Dòng chữ này có khả năng là
sao chép từ sắc chỉ của vua Tùy gửi đến Giao
châu.

.
Xung quanh thông tin nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt, chúng ta cũng tìm thấy trường hợp tương tự tại Trung Quốc. Theo văn bản khai quật minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" tại chùa Hoằng Nghiệp ở U châu năm 846, hộp đá lớn được phong bằng "hương nê" (bùn hương), phía trên có minh văn (Kosugi Kazuo, 1934).
Xung quanh thông tin nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt, chúng ta cũng tìm thấy trường hợp tương tự tại Trung Quốc. Theo văn bản khai quật minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp" tại chùa Hoằng Nghiệp ở U châu năm 846, hộp đá lớn được phong bằng "hương nê" (bùn hương), phía trên có minh văn (Kosugi Kazuo, 1934).
Sự thống nhất trong nội dung
minh văn với các tấm bia tìm được tại Trung Quốc cũng như sự trùng khớp thông
tin (ngày 15 tháng 10 năm 601, xây tháp tại chùa Thiền Chúng ở Giao châu) với
các tư liệu như Quảng hoằng minh
tập và Cảm thông lục giúp
chúng ta khẳng định tấm bia tìm được tại Bắc Ninh thuộc nhóm minh văn "Nhân Thọ
xá lợi tháp" liên quan đến sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở
Giao châu năm 601.
Về niên đại bia, hiện nay tồn
tại một số quan điểm như sau:
(1) Bia được khắc vào năm 601,
cùng thời điểm với niên đại "Nhân Thọ nguyên niên" ghi trên
bia.
(2) Bia được khắc sau nhưng
không xa với niên đại "Nhân Thọ nguyên niên" - 601 ghi trên
bia.
(3) Bia mới được làm giả
cổ.
Để đưa ra câu trả lời cuối cùng,
cần có nghiên cứu chuyên ngành với sự tham gia của chuyên gia trong nhiều lĩnh
vực, đặc biệt là các ngành khoa học tự nhiên. Ở đây, từ góc độ nghiên cứu tư
liệu văn bản, chúng tôi chỉ đưa ra một số ý kiến như
sau:
Xác suất xảy ra khả năng thứ ba,
tức bia mới được làm giả cổ là rất thấp. Như đã trình bày ở trên, mặc dù có sự
tương đồng với các văn bia đã được tìm thấy tại Trung Quốc, nhưng minh văn Giao
châu cũng có nhiều điểm khác biệt. Điều đó cho thấy ít nhất văn bia này không
phải là sự sao chép rập khuôn một mẫu văn bia nào đã được biết đến trước đó. Hơn
nữa, để làm giả được tấm bia như thế này, người chế tác phải có trình độ hiểu
biết rất sâu về Hán văn, lịch sử, sưu tầm được tư liệu từ nhiều nguồn tản mác
khác nhau. Ví dụ như dị thể của chữ "Tân", hay tên gọi chùa "Thiền Chúng" không
xuất hiện trong sắc chỉ của vua Tùy mà có trong phần "cảm ứng" của các địa
phương.
Để trả lời quan điểm thứ hai,
cần nghiên cứu tổng hợp về mối quan hệ giữa nhà Tiền Lý với nhà Tùy khi đó. Do
hạn chế của thông báo, chúng tôi xin phép trình bày vấn đề này chi tiết hơn
trong một bài viết khác.
Nói tóm lại, với những tư liệu
hiện có, có thể tạm thời xác nhận minh văn mới tìm thấy tại Bắc Ninh là tấm bia
hiện còn lưu giữ được có niên đại cổ nhất Việt Nam, trước bia Đại Tùy Cửu Chân
quận Bảo An đạo tràng chi bi văn trước đây đã được GS.Đào Duy Anh phát hiện tại
Thanh Hóa năm 1960.
Sự thống nhất về câu chữ trong
minh văn cho thấy bên cạnh thiết kế tháp xá lợi, qui cách tổ chức nghi lễ, chính
quyền trung ương của nhà Tùy đã biên soạn trước nội dung minh văn để phân phát
cho các địa phương. Mặt
khác, kích thước bia,
kiểu chữ khắc lại khác nhau tùy từng
địa phương. Việc tìm thấy minh văn Giao châu giúp tái khẳng định ý kiến của
Kegazawa cho rằng nhà Tùy chỉ đóng vai trò biên soạn nội dung minh văn, còn việc
khắc bia giao cho các địa phương (Kegasawa Yasunori, 2011). Nói
cách khác, nhiều khả năng minh văn Giao châu đã được khắc tại Việt
Nam.
Đánh giá về tấm bia phát hiện
tại Bắc Ninh:
Minh văn tháp xá lợi tìm thấy
tại Bắc Ninh đã thay thế bia Trường Xuân, trở thành tấm bia có niên đại cổ nhất
Việt Nam hiện còn lưu giữ được.
Đây là nguồn tư liệu kim thạch
văn quí giá, bên cạnh bia Trường Xuân và tấm bia được cho là tìm thấy tại khu
vực Vạn Xoan trước đây, giúp nghiên cứu về tình hình chính trị, quan hệ ngoại
giao, lịch sử Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thời Tiền Lý. Liên quan đến lịch
sử Phật giáo, nó giúp chúng ta có được nhận thức hoàn chỉnh hơn về hoạt động xây
dựng tháp xá lợi và các tín ngưỡng xung quanh trong thời thuộc Tùy - Đường[12].
Không chỉ có ý nghĩa đối với
Việt Nam, tấm bia này cũng là nguồn tư liệu quí giá giúp nâng cao hiểu biết của
giới học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hoạt động xây dựng "Nhân Thọ xá lợi tháp"
nói riêng cũng như chính sách Phật giáo của nhà Tùy nói chung. Cụ thể, nó giúp
xác nhận lại địa điểm xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu (chùa Thiền Chúng), sứ
giả hộ tống (Tuệ Nhã pháp sư, Vũ kỵ úy Khương Huy), tái xác nhận cách thực hiện
(triều đình trung ương gửi mẫu văn bản, chính quyền địa phương tự khắc
bia).
Tấm bia này cũng là một tài liệu
bổ sung cho nghiên cứu lịch sử giao thông thời Bắc thuộc. Chiếu thư Tùy Văn Đế
phát ra vào ngày 13 tháng 6, ước hẹn các địa phương cùng hạ thổ xá lợi vào ngày
15 tháng 10. Như vậy, nhà Tùy đã phải cân nhắc quãng thời gian cần thiết để sứ
giả di chuyển từ kinh đô Đại Hưng (Trường An) đến các địa phương. Nói cách khác,
quãng thời gian 124 ngày (từ 13 tháng 6 đến ngày 15 tháng 10) là quãng thời gian
tối đa để di chuyển từ Trường An đến Giao châu. Trước đây, qua nghiên cứu về
trường hợp của khởi nghĩa Dương Thanh, chúng tôi đã tính toán di chuyển từ
Trường An đến Giao châu (An Nam Đô hộ phủ) mất khoảng 59-70 ngày nếu di chuyển
bằng đường biển và dịch trạm, khoảng 124 ngày nếu di chuyển với tốc độ thông
thường (Phạm Lê Huy, 2012).
Tài liệu tham
khảo
Kosugi Kazuo, Về
việc an trí xá lợi Phật tại các tháp Phật thời Lục triều, Hiệp hội Học thuật
Đông phương, 1934
Kegasawa
Yasunori, Việc cắt giảm học hiệu và Cúng dường xá lợi năm Nhân
Thọ nguyên niên (601) thời Tùy, Tạp chí Sử học Surudai, 111 (2),
2001
Nakamura
Nobuo, Khảo sát về minh văn Nhân Thọ xá lợi tháp - Xung quanh
minh văn Đại Tùy hoàng đế Tử châu xá lợi tháp, Tập san Nghiên cứu Mỹ thuật,
25, 2004
Phạm Lê
Huy, Nghiên cứu giao thông thời Đường qua trường hợp An Nam Đô
hộ phủ, Kỷ yếu Hội thảo Giao hưởng Cổ đại II, Đại học Meiji,
2012
Oshima Sachio, Manno
Keisuke, Tùy Nhân Thọ xá lợi tháp nghiên cứu dự thuyết (Chú
thích và nghiên cứu tác phẩm Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục với tư cách là
một nguồn sử liệu mỹ thuật - 5): Xá lợi Cảm ứng lục, Nhân Thọ xá lợi tháp thiên
(phần đầu)), Nghiên cứu Mỹ thuật Nara, 12,
2012
Phạm Lê
Huy, Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh (819-820), Tạp chí
NCLS (sắp đăng)
Phụ chú: Xung quanh việc tìm
hiểu tư liệu về Nhân Thọ xá lợi tháp, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất lớn
của TS. Kawakami Mayuko (cán bộ nghiên cứu Đại học Kyoto), xin chân thành cảm
ơn.
[1]Về lịch
sử nghiên cứu và các kết quả mới nhất, xin tham khảo Oshima Sachio
(2012).
[2]「雍州於仙遊寺起塔、天時陰雪、舍利將下日便朗照、始入函、雲復合」(『集神州三寶感通錄』卷上)。
[3] Việc
riêng Giao châu không có tấu chương về "cảm ứng" cụ thể mà chỉ ghi về việc xây
tháp phản ánh mối quan hệ đặc biệt giữa nhà Tiền Lý và vương triều Tùy khi đó.
Do giới hạn bài viết, chúng tôi chưa đề cập sâu về vấn đề này, xin dành cho một
bài viết khác sắp công bố.
[4]Bắc
đồ: Bắc Kinh đồ thư quán lịch đại thạch khắc thác bản vựng
biên 北京図書館歴代石刻拓本彙编。
[5]Chữ Tân được viết dưới dạng dị
thể
[6]Hoàng đế tức Dương Kiên, Hoàng hậu tức Độc cô
thị.
[7] Thái
Tổ Võ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu chỉ bố mẹ của Tùy Văn Đế là Dương
Trung và Lữ thị. Theo Tùy thư (Q.1, Cao Tổ kỷ
thượng), tháng 2 năm 581 (Khai
Hoàng 1), Tùy Văn Đế truy tôn cha (hoàng khảo) là Võ Nguyên Hoàng đế, đặt miếu
hiệu là Thái Tổ, mẹ là Nguyên Minh Hoàng hậu.
「(開皇元年二月)乙丑、追尊皇考為武元皇帝、廟號太祖、皇妣為元明皇后」(『隋書』卷一、高祖上、開皇元年二月乙丑条)。
[8] Hoàng thái tử vào thời điểm này là Dương Quảng. Trước đó, năm 600 (Khai
Hoàng 20), tháng 10, Tùy Văn Đế phế Hoàng thái tử Dương Dũng và các con làm thứ
dân, sang tháng 11 lấy Tấn vương Dương Quảng làm Hoàng Thái tử. 「乙丑,皇太子勇及諸子並廢為庶人」、「晉王廣為皇太子」(『隋書』 卷二、 高祖下、 開皇二十年十月乙丑条、十一月戊子)。
[9]Viên cập
(爰及):
[10]Vũ kỵ
uý là chức tản quan thời Tuỳ, đến niên hiệu Võ Đức thời Đường mới đổi làm Tướng sĩ lang
.「其散官文騎尉為承議郎、屯騎尉為通直郎、雲騎尉為登仕郎、羽騎尉為將仕郎」(『舊唐書』卷四十二)。
[11]Về nhân
vật Tuệ Nhã pháp sư, chúng tôi xin trình bày trong một bài viết
khác.
[12] Liên
quan đến vấn đề này, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn trong một bài viết
khác.
http://xuandienhannom.blogspot.com/2012/10/thong-tin-ve-tam-bia-nam-601-vua-phat.html



17:57
danillewoods7537368
0 nhận xét:
Đăng nhận xét