Đi
bộ ở đường phố London không thể đi nhanh, phần vì dốc, phần vì quá nhiều những
khu nhà cổ, vườn cổ, cây cổ... Tất cả những thứ cổ mà không cũ, không hoang tàn
đấy buộc người ta phải dừng bước,
ngó, chụp, chặc lưỡi và ước...
Vài
trăm năm quá khứ hiển hiện trên từng ống khói, đầu hồi, mái ngói, ô cửa sổ, quả
đấm tay cầm của những cánh cửa gỗ mòn vẹt lớp sơn mới không che hết lớp patina
thời gian... Quá khứ in dấu trên những cây cổ thụ lẩn khuất trong những khu vườn
sau nhà, quá khứ mọc rêu trên những võng tường đánh dấu hàng hiên sứt mẻ, lỗ chỗ
nhưng lừng lững đủ để xác nhận chủ quyền lãnh thổ, quá khứ nhắc nhớ trong tên
đường, tên phố... những tên gọi gợi nhắc trước kia đây là rừng, là hồ, là thác,
là suối hay cụ thể hơn là sở hữu của dòng họ quý tộc nào đó... Quá khứ in dấu
trên sắc màu những bốt điện thoại, hòm bỏ thư, nhà ga, bến tàu và những cửa hiệu
thời trang vintage thật hay giả vintage... Quá khứ như bước ra từ bảo tàng, công
viên... để mời đón người đi đường cả ai hối ả, ai thong dong.... Quá khứ ngân
dài trong tiếng quạ kêu ban sớm, trong ráng đỏ, ráng vàng của những đám mây lơ
lửng trên bầu trời lúc bình minh và hoàng hôn...
Tưởng
như khẽ giơ tay là chạm vào muôn năm cũ...
London
luôn là nơi quá khứ lảng bảng trong hiện tại nhưng không cản bước, là nơi quá
khứ dắt dẫn tương lai.
BORNEOVÀ SẮT:
XEM LẠI *BESI của DEMPWORLFF
Bản dịch (chưa hoàn chỉnh) của
Lâm Thị Mỹ Dung từ
bài
Borneo and Iron:
Dempwolff's*besi revisted*
BIPPA 25, 2005 (Taipei Papers,
Volume 3)
Robert
Blust
Khoa Ngôn ngữ, Đại
học Hawai’I, Honolulu 96822
Một nghiên cứu của Blust
Robert về nguồn gốc của người Chăm qua cứ liệu ngôn ngữ, chủ yếu qua sự lan tỏa,
vay mượn của từ *besi 'sắt'. Đây là một nghiên cứu rất sâu của một chuyên gia
rất giỏi và lập luận chặt chẽ với những chứng cứ ngôn ngữ, dân tộc học vững
chắc, nhưng lại vẫn còn vô vàn những mắt xích bị mất giữa những tài liệu ngôn
ngữ với những chứng cứ khảo cổ
học.
TÓM
TẮT
Lịch sử về đồ sắt ở thế
giới Nam Đảo
từ lâu đã là vấn đề khó gỡ. Mặc dù những chứng cứ KCH cho thấy luyện sắt không
sớm hơn 200-500TCN (Bellwood 1997:268), dữ liệu so sánh ngôn ngữ lại cho thấy
tri thức về đồ sắt sớm hơn nữa (Blust 1976). Như Blust (1999) đã lưu ý, sự trái
ngược nhau rõ ràng giữa hai nguồn chứng cứ này không phải là không thể hòa giải
được, vì tri thức về sắt không nhất thiết phải là tri thức về luyện sắt. Mục
đích của bài này là thu hút sự chú ý tới một số từ vay mượn, những từ chỉ dẫn về
một thay đổi đáng kể trong sử dụng sắt của những cư dân nói tiếng Nam Đảo ở miền
Tây Nam Borneo, có thể là vào những thế kỷ 1, 2 hay 3 TCN. Thuật ngữ
“Tây Nam Borneo” vẫn mơ
hồ một cách chủ tâm khi mà sự xác định chính xác của khái niệm này phụ thuộc vào
việc xác định trung tâm đúng ra là trung tâm lõi của sự lan tỏa những ngôn ngữ
Malayo-Chamic. Mặc dù, it nhất, nó có thể được nhận biết là vùng nằm giữa trung
lưu của hai con sông Sarawak và Kapuas, có thể mở rộng về phía nam tới Tanjung
Putting hay xa bên ngoài
nữa.
Mặc dù việc làm quen với sắt của
những cư dân nói tiếng Nam Đảo ở Đài Loan có khởi đầu rất sớm (3500 – 4000 TCN)
(xem thêm PAN*bariS ‘iron’), chúng ta có lý do để tin rằng Borneo có thể đã có
vai trò đáng kể trong việc chuyển tiếp từ tri thức về sắt tới tri thức về luyện
sắt. Christie (1988) đã lưu ý rằng những tác giả thực dân từ những năm 1830 đã
nhận xét nhiều lần về chất lượng tuyệt hảo của quặng sắt tìm thấy trong đất
laterit ở Borneo. Năm 1847, Keppel đã khẳng quyết rằng một số nguồn sắt ở Matan
(một khu vực nói tiếng Malay) “có chất lượng ngang bằng với sắt tốt nhất của
Thụy Điển” và Crawfurd (1856) đã duy trì ý kiến rằng “… trong tòan bộ Quần đảo,
nước có nguồn quặng sắt tốt nhất và nhiều nhất là Borneo”. Khi mà những quặng
sắt chất lượng cao đòi hỏi ít nhất những kỹ nghệ phát triển để luyện ra kim loại
có ích, thì khả năng lớn là những đổi mới và tiến bộ trong kỹ thuật luyện kim
xảy ra ở Borneo sớm
hơn so vỡi những khu vực khác của ĐNA hải
đảo.
Tất nhiên những chứng cứ KCH về
luyện kim sắt thời tiền sử của Borneo, đa phần tìm thấy ở một loạt các địa điểm
gần Santubong ở lưu vực sông Sarawak (Harrisson và O’Connor 1969, Cheng 1969),
có niên đại từ thế kỷ X đến XII. Christie (1988) đã xem xét lại những diễn giải
trước đây về những địa điểm này như là những địa điểm của những sự khai thác
quặng địa phương của những người ngoại quốc (Ấn Độ hay Trung Hoa) và phát hiện
ra rằng có nhiều vấn đề khác nhau. Hơn thế, bà tin rằng luyện kim sắt ở
Santubong hơi khác so với thực tế của cư dân bản sinh Dayak đã được các nhà quan
sát châu Âu mô tả vào TK 19, rằng “ nhưng cũng bổ sung không có bất cứ dữ liệu
khảo cổ nào khả dĩ soi sáng giai đoạn sớm nhất của sản xuất đồ sắt ở đảo Borneo”
Chứng cứ ngôn ngữ nổi bật liên quan đến khởi đầu của luyện kim sắt ở ĐNA hải đảo
hoàn toàn ủng hộ diễn giải của Christie về sự phát triển hoàn toàn bản sinh
trong những vị thế biển của Tây Nam Borneo và xa hơn giúp chúng ta kết hợp sự
đổi mới này với một cộng đồng ngôn ngữ riêng có thể định niên đại khoảng từ 2
đến 3 thế kỷ TCN (Tk
3-1TCN).
Quỹ nghiên cứu so sánh những
ngôn ngữ Nam Đảo
thành lập bởi bác sĩ-nhà ngôn ngữ học người Đức Otto Dempwolff trong tác phẩm ba
tập của mình Wergleichende Lautlehre des austronesischen Wortschatzes
(1934-1938). Tập 3 của công trình này là từ điển so sánh, chứa 2.216
“Uraustronesisch’ reconstructions, cùng với những chứng cứ trợ giúp rút ra từ
một tập hợp 11 ngôn ngữ trải
từ Madagascar đến Tonga.
Bất chấp sự trải rộng này hiện nay người ta biết rằng hệ thống âm tái cấu trúc
của Dempwolff không phải Sơ-Nam Đảo (PAN), mà là Sơ-Malayo-Polynesian (PMP),
hiện nay được nhiều học giả coi như tổ tiên trực tiếp của những ngôn ngữ phi
Formosan AN. Dù vậy, khoảng 1/3 của từ vựng do Dempwolff không phải là PMP mà là
sự đổi mới của một sơ – ngôn ngữ muộn hơn về thời gian. Hay được dựa trên những
từ vay mượn không xác định phổ biến rộng rãi ở
Tây Indonesia, Philippinesvà
xa hơn do mượn từ Malay
Một trong những cấu trúc lại về
từ vựng học của Dempwolff mà có ích nhất đối với những nhà tiền sử học ĐNA đó là
*besi ‘sắt’. Chứng cứ trợ giúp mà ông đưa ra cho căn tổ từ nguyên này là Toba
Batak (Bắc Sumatra) bosi, wesi (Java), besi (Malay, vi ‘sắt của Malagasy và vesi
“tên của cái giáo) (Fiji). Từ đầu, một số đặc điểm của so sánh này cho thấy
nhiều vấn đề. Không chỉ từ vesi của
tiếng Fuji khác
nhau về nghĩa, mà âm tiết thiết lập tương ứng giữa những ngôn ngữ này dẫn chúng
ta đến suy nghĩ rằng từ **voci hay có thể **vosi
tiếng Fiji,
không phải vesi. Vả chăng, Capell (1968) giải nghĩa từ vesi trong
tiếng Fiji là
“một loại cây rất cứng, Intsia bijuga; tên này cũng có nghĩa là ngọn giáo làm
bằng cây gỗ đó’. Theo phương ngữ Wayan của của Tây
Pawley Fiji và
Sayaba cung cấp lời chú thích tương tự: vesi ‘Instia bijuga… cây rừng ven biển…
cây gỗ màu nâu đỏ, cứng và bền, và có giá trị để làm cột nhà, đồ bàn ghế và đồ
trong nhà’. Sự thiếu hụt đưa ra về những từ cùng gốc như thế ở các ngôn ngữ
Oceanic cùng với sự không đồng đều của âm vị học và sự trái ngược nhau về ngữ
nghĩa, từ vesi trong ngôn ngữ Fiji có thể được loại trừ một cách chắc chắn ra
khỏi sự so sánh của
Dempwolff.
Một khi từ vesi trong
tiếng Fijiđược
coi là không cùng nguồn gốc, người ta thấy những phản chiếu từ *besi của
Dempwolff hạn chế ở miền Tây Indonesia.
Khi xuất hiện ở Phil người ta thấy từ này chỉ có ở những ngôn ngữ ở hạ lưu và
cho thấy những chứng cứ rõ rang về vay mượn, như từ basi ‘sắt’ ở người Tausug
(thông thường *e trở thành u, và cùng với bước dừng thanh môn cuối cùng sự thay
đổi *e >a chỉ rõ Bruney Malay như là nguồn ngôn ngữ). Khi từ này xuất hiện ở
Đông Indonesia,
như trường hợp từ besi ‘sắt’ của người Tetun, từ này cho thấy rõ rang mượn từ
Malay/Indonesia, mặc dù thời gian mượn không rõ và khác nhau đáng kể trong một
số trường hợp. Trong trường hợp của người Tetun, từ besi của Malay phải được
mượn sau khi thay đổi âm đều đặn *b>f trong ngôn ngữ này, nhưng có lẽ không
muộn lắm, từ khi từ này định hình trong số những thể hiện phức tạp mà bản than
chúng không phải vay mượn, như với từ besi asu ‘thép’, badain besi ‘thợ rèn’,
ahi besi ‘đá lửa’, ba besi hay halo besi ‘đi đánh trận’, hay besi na’in ‘chiến
binh’ (Morris 1984). Sự có mặt thường xuyên của chúng như là những từ vay mượn,
phản chiếu từ từ *besi hoàn toàn bị bỏ qua trong những thảo luận gần đây về
chứng cứ ngôn ngữ về tri thức Nam Đảo
cổ về sắt (Blust 1976,
1999).
Tuy vậy, một số so sánh ngôn ngữ
sẽ thảo luận dưới đây cho thấy lịch sử của thuật ngữ này lưu giữ thông tin quan
trọng về lịch sử luyện kim đen ở ĐNA hải đảo. Appendix 1 cung cấp một tổng quan
về hệ thuật ngữ chính liên quan đến sắt và luyện kim sắt ở ĐNA hải đảo. Bảng 1
chỉ liệt kê những ảnh xạ đã được chứng thực của từ *besi. Và cũng đưa ra những
chỗ mà những thay đổi âm không đều của dạng được cho là như thế, và dạng đó được
đánh dấu bằng (L) để chỉ dẫn có thể là từ vay
mượn:
Dữ liệu trong bảng 1 cung cấp
thông tin hữu ích về suy luận văn hóa-lịch sử. Ở nơi mà ảnh xạ của *besi không
đồng đều về âm vị học thì có khả năng chúng là những từ mượn từ Malay. Việc
Malay được coi là nguồn gốc ngôn ngữ đáng kể nhất được thấy rõ rang từ mẫu hình
rộng hơn của sự vay mượn từ vựng học, như từ vay mượn từ Malay phổ biến rộng rãi
trong những ngôn ngữ duyên hải
ở Indonesia và Philippines.
Đa phần trong số đó có niên đại trước thời gian tiếp xúc với châu Âu trong thời
gian thám hiểm của Magellan 1519-1521, từ khi Antonio Pigafetta, nhà ghi chép sử
biên niên người Ý của cuộc du hành này ghi chép từ vựng Malay từ những người mà
ông hỏi ở miền Trung Philippines. Những thương nhân Malay đóng vai trò chìa khóa
trong buôn bán gia vị mang hạt nhục đậu khấu và lá cây đinh hương từ những vùng
trồng ở miền TRung Moluccas đến
Eo biển Malacca, từ đó chúng được chuyển tiếp đến những nơi khác. Như thế Malay
có thể là ngôn ngữ của buôn bán và tiếp xúc liên tộc người từ ít nhất là giai
đoạn Srivijaya sớm cuối TK 7. Mặc dù những vay mượn Javanese cũng được tìm thấy
ở một số ngôn ngữ ở miền Tây Indonesia (bao gồm Malay), và ở miền Nam
Philippines, không có bất cứ ngôn ngữ nào của khu vực có một tiếp xúc ảnh hưởng
có thể so sánh với ngôn ngữ từ Malay. Điều này được chứng tỏ từ thực tế rằng
những vay mượn Malay trong tiếng Java hơn nhiều so với những từ vay mượn Java
trong tiếng Malay, và những chênh lệch tương tự trong mức độ của ảnh hưởng từ
vựng học tìm thấy trong đa số những ngôn ngữ khác vay mượn từ cả tiếng Malay và
tiếng
Java.
Những dạng không cho thấy bất
thường về âm vị học thì có thể thuộc bản sinh. Tuy nhiên, đúng theo sự phát
triển âm vị đều đặn (bình thường) không loại trừ khả năng vay mượn. Dễ để thấy
rằng từ tayubasi của Tagalog ‘giũa sắt’ (tiếng TBN ‘limaduras’) là từ vay mượn
khi mà PMP *e (schwa) thường biến thành li ít nhất có một nguyên ấm tròn trong
từ vựng biệt lập/xa (chú thích 2). Giống như thế, từ besi ‘sắt’ trong tiếng
Tetun cho thấy sự đi mượn, từ khi sự ảnh xạ kế thừa của *b là f-. –h-
(*batu>fatu ‘stone’ đá, *beRas > fos ‘thóc’, *bulan>fulan ‘mặt trăng’,
*babuy>fahi ‘lợn’, *babaw > faho ‘ cỏ dại’, *bukbuk > fuhuk ‘mọt gỗ’).
Trong nhiều ngôn ngữ, tuy vậy, những chẩn đoán về phát triển này là có thể, và
nếu từ besi của Malay được vay mượn, thì sẽ không có đầu mối âm vị học để xác
định đó là sự vay mượn. Từ bassi ‘sắt’ của người Makasarese, ví dụ, có thể tách
ra từ *bese bằng những sự thay đổi hoàn toàn đều đặn, nhưng cũng chắc chắn rằng
từ này ddwwocj kết thừa trực tiếp. Ở người láng giềng Bugine PMP *b thành w hay
zero từ đầu tiên, nhưng còn lại b tiếp sau tiền
tố. Từ bessi ‘sắt’ tiếng Bugin cũng có vẻ đi mượn, và được Mills (1975:274) đưa
vào những từ mà theo ông “chắc chắn là từ vay mượn”. Tình trạng tương tự được
tìm thấy ở Toba Batak, nơi mà schwa của những từ vay mượn Malay thường được bản
địa hóa (nativized)
như o(bodil <bedil Malay
‘súng ngắn’, tombaga‘đồng
đỏ’ tembaga
,
cuối cùng là từ dạng Prakrit với chữ đầu từ
a).
Từ
bosi ‘sắt’ của tiếng Toba Batak thường phản
chiếu *besi, nhưng đó là do kế thừa trực tiếp hay vay mượn sớm thì vẫn là câu
hỏi để ngỏ.. Cả những ngôn ngữ miền Nam Sulawwesi, nơi mà tiếng Bugin và Makasar
lớn nhất và là đại diện ảnh hưởng nhất về mặt lịch sử, và những ngôn ngữ Batak
của miền Bắc Sumatra, có nhiều từ vay mượn từ tiếng Malay đánh dấu bởi những bất
thường âm vị học rõ ràng. Những luận cứ tương tự có thể áp dụng đối với tiếng
Java, nơi vay mượn nặng nề từ tiếng Malay cả một thiên niên kỷ, và đối với
Malagasy, nơi cho thấy chứng cứ rộng rãi về sự vay mượn sớm từ tiếng Malay, có
thể từ những mối quan hệ với người Malay Srivijaya ở ĐNA Hải đảo (Adelaar 1989,
Dahl 1991).
Bảng 1. Những ảnh xạ được chứng
thực của từ *besi trong các ngôn ngữ
Tây Nam Đảo
Đưa ra một mẫu hình roongh hơn
cảu sự vay mượn và chứng cứ yếu ớt về sự ấn định besi như một từ nguyên cổ, khả
năng rằng những ảnh xạ của *besi trong những ngôn ngữ này là mượn từ tiếng Malay
là khá cao. Tuy nhiên, vấn đề khác đi đối với những ngôn ngữ Chamic ở ĐNA Lục
địa. Thứ nhất, có chứng cứ rõ ràng rằng tiếng Malay và tiếng Cham đều là những
nhánh thong thường của một tiểu nhóm Malayo Chamic lớn hơn (Blust 1992, Thurgood
1999) (3). Những ngôn ngữ Malay bao gồm tiếng Malay và những họ hang gần ở Nam
Sumatra và Tây Nam Borneo. Những tiếng Chamic gồm tiếng Cham, Jarai, Roglai,
Rade và những tiếng khác ở VN, Lào và Campuchia, Tsat đảo Hải Nam ở Nam Trung
Hoa và Acehn ở miền Bắc Sumatra. Người ta đã biết rằng sau khi hưng khởi và ảnh
hưởng thương mại Champa có mối quan hệ với thế giới Malay. Theo thư tịch Trung
Hoa, năm 774 và 787 kinh đô Cham bị đánh phá bởi những kẻ xâm lược từ Malays
(Maspero 1928:97ff). Maspero thận trọng khi chỉ ra rằng, những kẻ xâm lược này
chủ yếu là người Java. Hall (1985: 184-185) mô tả những mối quan hệ Cham – Java
là khác nhau, bao gồm cả bia ký Cham năm 908-911 CE cho biết về hai sứ mệnh
ngoại giao chính thống đến Java, và một ba ký Java giai đoạn này cuãng đề cập
đến những hoạt động của thương nhân Khmer và Cham ở Java. Mối quan hệ giữa những
người nói tiếng Malay và Cham chắc chắn đã xuất hiện ở cả hai dạng cướp biển và
mối quan hệ ngoại giao từ xa. Sự chia cắt địa lý của những nhóm này, tuy nhiên
tạo ra sự không chắc chắn rằng mối quan hệ này cuãng mạnh như mối tương tác giữa
Malay và những ngôn ngữ khác ở Tây Indonesia(bao
gồm cả Acehn). Thứ hai, Thurgood (1999:287) đã cấu trúc lại từ Sơ Chamic
*bƏsEy
‘sắt’ với không có chứng cứ nào cho rằng nó được mượn. Khi mà những ảnh xạ bình
thường về âm vị học của dạng này được tìm thấy trong khắp những ngôn ngữ Chamic
(Acehn, Rade, Jarai, Chru, Bắc Roglai, Tsat, Haroi, Cham Phan Rang và chữ Cham),
nhiều ngôn ngữ trong số này phân bố ở cao nguyên nội địa hay những vùng rừng núi
hàng thế kỷ, không có lý do để nghi ngờ tính chân xác của sự tái cấu trúc
này.
Thư tịch Trung Hoa sớm
nhất về Champa cho biết CP tọa lạc ngay phía Nam của Huế hiện nay ở MTVN, có
niên đại từ 192 CE hay sớm hơn một chút (Maspero 1928), và từ khi những thư tịch
đó mô tả như một quốc gia Ấn Độ hóa thì đã đạt được một số quyền lực bản sinh và
ảnh hưởng, điều đó có thể hầu như không đánh dấu sự cập bến của những người nói
tiếng Chamic ở miền biển miền Trung VN. Vậy thì, xem ra có một đoán định đúng
rằng những người nói tiếng Sơ Chamic (Proto-Chamic) đã sử dụng một ảnh xạ của
“besi ‘sắt’ cách đây 2000 năm hay sớm hơn. Khi mà luyện kim sắt đã hiện diện cả
ở những khu vực nói tiếng Malayic và Chamic ít nhất cũng lâu như vậy
(Bellwood1997)
thì không có lý do gì để tin rằng *besi ám chỉ quặng sắt thiên thạch không chế
tác. Hơn thế, những từ *bari và
*besi ‘sắt’ đưa ra trong tiếng Sơ Malayo-Chamic thì diễn giải đúng nhất là
*bari để
chỉ quặng sắt thiên thạch không chế tác còn *besi để chỉ sắt được chế tác. Người
ta cũng nhất trí ằng sự lan tảo của cư dân nói tiếng Malayo-Chamic tới miền Đông
Sumatra và ĐNA Lục địa bắt đầu ở miền
Tây NamBorneo (Blust
1992). Nếu như vậy, một sự mở rộng dân cư có lẽ trên nền tảng kỹ nghệ luyện kim
đen ở mức độ làng bắt nguồn từ Tây Nam Borneo ở những thế kỷ TCN được chứng thực
ở phần lớn ĐNA hải đảo trong giai đoạn lịch sử (Marschall 1968), và mang kỹ nghệ
đó cùng họ đến ĐNA Lục
địa.
Quan điểm hiện hành/
được tin tưởng trong KCH ĐNA là kỹ nghệ chế tác sắt bắt nguồn từ ĐNA Lục địa và
lan tỏa đến Hải đảo. Bellwood (1997:268), ví dụ, đã duy trì ý kiến rằng ‘thời kỳ
Kim khí sớm’ ở ĐNA hải đảo “bắt đầu với sự mở đầu của những hiện vật đồng
đỏ-đồng thiếc và sắt và những kỹ thuật chế tác chúng có lẽ là cùng một lúc
(không có “Thời đại đồ đồng” tách biệt) và có nhiều khả năng là từ những nguồn
trực tiếp ở ĐNA Lục địa trong những thế kỷ TCN”. Như thế, ông nhìn sự xuất hiện
của luyện kim ở ĐNA Hải đảo như là sản phẩm của sự truyền bá từ cội nguồn xa hơn
về phía bắc. Nguồn này được định dạng với những người nói tiếng Mon – Khmer ven
biển ở Việt Nam, từ khi 1) Những người nói tiếng Tay lúc bấy giờ sống ở phía
bắc, 2) Những người nói tiếng Tibeto – Burman (Tạng Miến) sống ở phía tây và 3)
Những tiếp xúc sớm giữa Nam Đảo với cư dân nói tiếng Mon – Khmer có lẽ xuất hiện
ở vùng ven biển. Quan điểm tương tự cũng được thể hiện bởi Madhi (1988:356),
người đã cho rằng *besi là sự đổi mới về từ vựng trong tiếng Chamic
khi Namtiến
ở quần đảo Indonesia.
Nếu sự lan tỏa của cư dân nói
tiếng Malayo-Chamic dẫn đến sự định cư nhanh chóng ở ven biển từ bán đảo Malay
đến Miền Trung Việt Nam như đưa ra trong Blust (1992), một chuỗi phương ngữ rộng
có thể đã tồn tại trong những thế kỷ đầu tiên sau sự kiện này. Khá hợp lý để cho
rằng trong giai đoạn này những tuyến thông tin và truyền bá văn hóa được duy trì
chủ yếu hay tất cả qua chuỗi này, và rằng một sự đổi mới kỹ nghệ chế tác đồ sắt
có thể đã lan tỏa theo cùng hướng (in either direction) trước khi Malayic và
Chamic phân thành hai nhóm khác nhau.
Mặc dù nhiều nhóm người nói
tiếng Mon-Khmer thực hành chế tác đồ sắt một cách truyền thống với những ống bễ
đơn giản bằng tre chắc là giống như những cư dân nói tiếng Nam Đảo đương thời
với họ ở phía nam, những từ để chỉ ‘sắt’ trong những ngôn ngữ này cho thấy
không liên quan đến
*besi.
Tuy nhiên có một ngoại lệ đáng
chú ý về đánh giá này. Shorto (1971:266) trích dẫn từ Mon
Cổ birsey([bƏrsƆy]), từ
Mon Giữa basay ([bƏsƆy]) ‘sắt’,
với sự chứng thực từ một số những bia ký có niên đại từ TK 6 đến 16. Trên cơ sở
không vững chắc lắm ông đưa ra một số từ cùng gốc có thể trong tiếng Mon-Khmer
Tây và có thể cả tiếng Mon –Khmer Bắc. Ở đây có thể không vấn đề rằng thuật ngữ
này liên quan đến *besi. Hai bình luận rất sơ bộ được đưa vào trích dẫn của
Shorto về dữ liệu báo trước giá trị. Thứ nhất, ông tuyên bố rằng đây có thể là
từ mượn từ ‘Indonesian’. Thứ hai, dạng Khmer có thể liên
quan bamsƔƔ ‘kẽm’
được cho có chứa một “trung tố khác”, ngụ ý rằng phụ âm thứ hai của từ Mon
Cổ birsey không phải là phần đáng kể của căn cứ
(4).
Trong khi từ Mon
Cổ birsey như Shorto ghi nhận dựa trên cơ sở
của các bia ký không cổ hơn giai đoạn tiếp xúc đầu tiên giữa cư dân nói tiếng NĐ
và Mon-Khmer, chứng cứ so sánh cũng hỗ trợ sự tái cấu trúc của thuật ngữ tương
tự đối với ngôn ngữ Sơ Monic cho thời gian sớm hơn. Dựa trên những từ cùng gốc
trong ngôn ngữ Nyah Kur cùng thời ở miền Nam Thái Lan và ngôn ngữ Mon ở
Hạ Myanmar,
Diffloth (1984:140) đã tái cấu trúc từ Môn Cổ *prsƏy ‘sắt’.
Ông cho rằng (1984:1) “Tiếng Mon Cổ được nói ở Vương quốc Dvarāvatȋ miền Trung
Thái Lan từ TK VI đến TK IX” và rằng “người Nyah Kur có thể là hậu duệ trực tiếp
của xã hội Dvarāvatȋ”. Trong hai bản đồ kèm theo ông chỉ sự phân bố của những
bia ký Mon Cổ cùng với niên đại tương đối của chúng, và địa điểm hiện nay của
những người nói tiếng Nyah Kur (1984:6,12). Những bia ký cổ nhất, từ TK VI đến
IX, tập trung quanh Vịnh Thái Lan, những bia ký muộn hơn được tìm thấy xa hơn về
phía bắc. Trong ghi chép về dạng tái cấu trúc Diffloth bình luận rằng
*prsƏy “rõ
rang thể hiện một sự vay mượn bởi xã hội Dvarāvatȋ từ một ngôn
ngữ NamĐảo
nào đó. *-r- độc đáo đối với
Monic”.
Một kết luận xuất hiện không tấn
công được trong tập hợp quan sát này là những người nói tiếng Malayo-Chamic và
Monic tiếp xúc với nhau ít nhất từ TK VI, khi mà thuật ngữ birsey ‘sắt’ bắt đầu
xuất hiện trong những bia ký Mon Cổ ở miền Trung Thái Lan. Không cần thiết để
nói rằng sự xuất hiện của một thuật ngữ trong bia ký không đánh dấu sự bắt đầu
của sự hiện diện của nó trong ngôn ngữ, và quan hệ giữa ngững nhóm này có thể
bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước đó. Điều này cũng chắc chắn với kịch bản phác họa
bởi Blust (1992), khi mà đồng ý rằng những người nói tiếng Malayo-Chamic có vẻ
chắc chắn nhất là lan tỏa từ Tây Nam Borneo đến Đông Sumatra, bán đảo Malay và
lên đến bờ biển ĐNA Lục địa xa đến bờ biển miền Trung Việt Nam. Bản đồ của
Diffloth cho thấy Mon Cổ ngay trên đường của sự lan tỏa của cư dân này, tập
trung quanh đỉnh của Vịnh Thái Lan trong những chứng thực bia ký sớm nhất của
mình.
Về nguyên tắc sự phân bố của
những từ giống *besi trong những ngôn ngữ Mon-Khmer
và Nam Đảo
có thể được giải thích bằng hai cách. Thứ nhất, từ này có thể là một sự đổi mới
trong tiếng Sơ-Monic được những người nói tiếng Malayo-Chamic mượn những người
này đã học về kỹ nghệ chế tác đồ sắt khi hai nhóm tiếp xúc trong thời kỳ lan tỏa
của người Malayo-Chamic ở ĐNA Lục địa. Cả Shorto (1971:266), cả Diffloth
(1984:140) không ai ủng hộ quan điểm này nhưng hiện naynó lại được Diffloth
(p.c- trao đổi cá nhân) ủng hộ. Thứ hai, như đã đưa ra trước đây, *besi có thể
là một sự đổi mới trong tiếng Sơ Malayo-Chamic được truyền bá cùng với kỹ nghệ
chế tác đồ sắt trong thời gian tụ cư của
người NamĐảo
ở ĐNA Lục địa. Nếu như giả thiết thứ nhất được tiếp nhận thì cần phải đồng ý
rằng kỹ thuật chế tác đồ sắt mới thu nhận được này tà từ *besi đã lan tỏa cả ở
hai hướng dọc theo chuỗi phương ngữ Malayo-Chamic. Như sẽ thấy dưới đây, điều
này tạo ra những vấn đề đặc biệt trong sự giải thích những ảnh xạ của *besi ở
Tây Nam Borneo. Nếu giả thiết thứ hai được chấp nhận thì chỉ cần đồng ý rằng
những người nói tiếng Mon sớm đã mượn kỹ nghệ chế tác đồ sắt và từ *besi từ
những người di cư nói tiếng Malayo-Chamic định cư ở vùng ven biển ở Vịnh Thái
Lan.
Chứng cứ mạnh mẽ nhất về sự
truyền bá của kỹ nghệ luyện kim sắt từ lục địa đến ĐNA Hải đảo đến từ niên biểu
C14 sớm hơn trong mối quan hệ với luyện kim sắt ở lục địa so vơi hải đảo. Nhưng
thậm chí nếu điều này không thuyết phục như nó bao hàm rằng kỹ nghệ luyện kim
sắt ở ĐNA là một sáng tạo VH đơn lẻ hơn là sản phẩm của những phát triển độc
lập song song xảy ra sát thời gian với nhau. Một bức tranh toàn cầu rộng hơn về
phát triển của đúc và rèn sắt cho thấy sự phân bố đã được kiểm tra về mặt DTH
của luyện kim sắt là sản phẩm của nhiều những sáng tạo độc lập. Bất kể sự hiện
diện sớm hơn của luyện kim sắt ở Ai Cập nơi có chứng cứ về sự truyền bá từ Trung
Đông, Những truyền thống luyện kim đen củaTây Phi cho thấy ảnh xạ một sự phát
triển tại chỗ, bắt đầu với văn hóa Nok ở miền Trung Nigeria khoảng năm 500 TCN
(Falola 2000: 64-67, Connah 2004: 51-56). Chứng cứ đưa ra về sự phát triển độc
lập của đúc và rèn sắt ở những vùng khác nhau của thế giới cho thấy khó có thể
loại trừ khả năng này trong xác định lịch sử luyện kim sắt ở
ĐNA.
Có hai lý do đánh kể để tin rằng
*besi liên quan đến sắt được chế tác hơn là quặng sắt thiên thạch. Thứ nhất, như
đã chỉ ra ở trên, có chứng cứ rằng thuật ngữ này được sáng tạo ra vào khoảng
thời gian khi chứng kiến sự sử dụng thực sự sắt ở hải đảo (và lục địa) ĐNA. Thứ
hai, *besi thay thế cho thuật ngữ sớm hơn dùng chỉ ‘sắt’ thuật ngữ này vẫn được
bảo tồn ở Iban, và kể từ đây nó phải hiện diện trong tiếng Sơ Malayo- Chamic.
Như đã chỉ ra trong Blust (1976), thuật ngữ này là
*bari ‘sắt’,
chứng thực ở ngôn ngữ Batak ở Palawan bari-bari‘sắt; kim
loại’, và trong ngôn ngữ
Iban besi bari‘thép’.
Đây có thể là cơ sở nhỏ cho một sự tái cấu trúc của *bari, nhưng hiện nay nó có
thể được củng cố bằng bāri ‘sắt’ trong ngôn ngữ Tabun ở miền Bắc Sarawak (Ray
1913: 173), cũng như bằng baris‘đinh; sắt, kim loại’ trong
tiếng Kalavan (miền Đông Đài Loan)
và balis ‘sắt’ ở ngôn ngữ Thao (miền Trung Đài
Loan). Dạng sau này không bình thường và có lẽ là vay mượn như đã chỉ ra những
triệu chứng bất thường *b>b, *l/r >l, và
*S>s đặc tính của những từ vay mượn từ tiếng Bunun trong
tiếng Thao (Blust 1996). Xem xét cùng nhau toàn bộ chứng cứ ủng hộ một PAN
*bariS có thể, duy trì như *bari của
tiếng Malayo-Chamic Sơ. Từ khi thuật ngữ này có thể thuộc về một ngôn ngữ sơ
khởi với thời gian lên đến 5.500 năm thì nó phải liên quan đến quặng sắt thô hay
sắt thiên thạch, nổi lên một đoán chừng rằng sự sáng tạo từ vựng học *besi, cái
cùng tồn tại với *bari trong tiếng Tiền Malayo – Chamic, mang một ý nghĩa khác.
Điều đó dẫn chũng ta đến rắc rối cuối cùng ở Bảng 1: cả tiếng Mukah Melanau và
hai tiếng Land Dayak đều có những từ vựng từ sinh đôi, từ bình thường về âm vị
học liên quan đến loại đặc biệt của những công cụ làmtừ sắt (giáo, rìu nhỏ), và
đối tác của chúng liên quan đến sắt nói chung. Kiểu phân bố này có nghĩa là
gì?
Để trả lời câu hỏi này sẽ hữu
ích nếu tìm hiểu bản chất của từ sinh đôi trong ngôn ngữ nói chung. Từ sinh đôi
là những dạng rẽ ra về âm vị học và ngữ nghĩa học của cùng một từ gốc. Chúng
thường là kết quả của một mẫu hình vay mượn mà trong đó một biến đổi được kế
thừa trực tiếp và một biến đổi được mượn từ ngôn ngữ chị em đã trải qua một tập
hợp thay đổi khác đâu đó. Mặc dù vậy, từ sinh đôi cũng có thể là kết quả của một
sự vay mượn từ một nguồn ngôn ngữ ở những thời kỳ khác nhau của lịch sử.
Từ shirt trong tiensg Anh (bản sinh) và
từ skirt (từ mượn trong tiếng Đan Mạch) là một
ví dụ của kiểu từ sinh đôi thứ nhất và phổ biến nhất.
Từ wine và vine trong
tiếng Anh là ví dụ của kiểu thứ hai, hiếm gặp hơn.
Cả wine và vine đều
trực tiếp từ tiếng Latin vīnum mà ra. Từ khi
wine dễ chuyên chở trong khi trồng nho nhậy cảm với thời tiết và đòi hỏi tri
thức thực hiện, có thể cho rằng từ wine được
mượn trước tiên và sau đó là
từ vine.
Điều dự tính này được xác nhận
cả bằng chứng cứ ngôn ngữ, cả bằng chứng cứ văn bản. Theo từ điển Oxford
English, chứng thực văn bản đầu tiên về wine trong tiếng Anh được xác định tuổi
từ sáng tác sử thi của Beowulf (805-831). Tiếng Anglo Saxon không có âm vị
/v/, và do đó vīnum được vay mượn với
/w/ ở
đầu.
Trích dẫn sớm nhất
về vine trong OED có niên đại từ 1300, và từ đó
tiếng Anh đã có được v- ở đầu như kết quả của
sự vay mượn tích cực từ Norman French. Sự vay mượn lần thứ hai của
từ vīnum tiếng Latin vì thế khác cả về hình
dạng và ý nghĩa so với lần thứ
nhất.
Câu hỏi mà chúng ta phải trả lời
tiếp đây là những từ sinh đôi ở trong tiếng Mukah
Melanau besey‘giáo’: besi ‘sắt’,
trong tiếng Singhi bosis ‘rìu
nhỏ’: bosi ‘sắt’, hay trong tiếng Kuching
Bidayuh besis ‘bôn, cuốc
chim’: besi ‘sắt’ tương đồng với
từ shirt; skirt trong tiếng
Anh hay như wine: vine. Nói cách khác, có phải một dạng là
bản sinh và dạng kia là vay mượn hay cả hai đều vay mượn, nhưng ở những thời
điểm lịch sử khác nhau? Để trả lời câu hỏi chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của
những mối quan hệ tiểu nhóm của những ngôn ngữ này với Malayo – Chamic và giữa
chúng với nhau. Mukah Melanau là một phần của chuỗi phương ngữ chạy dọc 170
miles theo bờ biển Sarawak từ Balingian ở phía bắc đến cửa song Rejang ở
phía Nam.
Tiếng Kanowit, nói ở quanh thị trấn cùng tên cách 80miles phía trên song Rejang,
tạo thành một phần của chuỗi này, nhưng về mặt địa lý bị chia cắt với những
phương ngữ/ngôn ngữ Malanau khác. Những ngôn ngữ Land Dayak (hay Bidayuh) tạo
thành một nhóm khá rắn chắc về địa lý và đồng nhất về ngôn ngữ ở nam Sarawak và
những vùng liền kề của miền tây Kalimantan.
Bất chấp sự nghèo nàn của những
tài liệu mô tả và lịch sử lâu dài về vay mượn từ Brunei Malay, rõ rang rằng
những ngôn ngữ Malanau khác biệt với Malay, và từ đó với nhóm Malayo-Chamic rộng
hơn (5). Hầu như mọi chi tiết từ vựng của dạng biến đổi của từ vựng cơ bản 200
từ Swadesh đều chia sẻ với những tiếng Malay được duy trì một cách có thể chứng
minh được từ tiếng Tiền Malayo-Polynesian hay là những vay mượn khá rõ rang từ
tiếng Malay. Những quan sát rất giống như thế có thể áp dụng cho tiếng Singhi và
Kuching Bidayuh. Tóm lại cả tiếng Melanau, cả tiếng Land Dayak, không tiensg nào
cho thấy chứng cứ về một mối quan hệ tiểu nhóm trực tiếp với tiếng
Malayo-Chamic. Hơn nữa, trong khi mà Iban chia sẻ khoảng 65% từ vựng cơ bản của
mình với Malay (Blust 1988b:3), phần trăm từ cùng gốc giữa Malay với Mukah
Melanau và Singhi thấp hơn rất nhiều: Malay: Mukah 61/190 = 32.1%, MaLay: Singhi
53/198 = 26.8%, Mukah: Singhi 64/190 =
33.7%..
Như thế, không chắc chắn lắm
rằng những ngôn ngữ Malayo-Chamic có chung những tổ tiên với cả Malanau và Land
Dayak cổ hơn 3.500 năm cách ngày nay. Khi mà những tư liệu khảo cổ cho chúng ta
thấy rằng niên đại đấy là quá sớm cho sự hiện diện của sắt được chế tác và rất
khó để chứng minh kết luận rằng mỗi ảnh xạ của *besi được kế
thừa trực tiếp trong các ngôn ngữ Melanau hay Land Dayak. Nói cách khác,
từ besey và besi trong
tiếng Mukah
hay bosis và bosi của
tiếng Singhi giống các từ sinh đôi trong tiếng Anh
như wine và vine hơn
là những từ sinh đôi
như shirt và skirt, và
chúng ta phải kết luận rằng ảnh xạ của từ *besi của tiếng
Tiền Malayo-Chamic được mượn hai lần trong lịch sử của những ngôn ngữ này. Mọi
cố gắng để xác định thời gian của sự vay mượn này sẽ đều là suy đoán, nhưng có
thể nói rằng Mukah phải mượn từ besey trước khi
ngắt âm *i và *u cuối tới -ey và –ew một
cách tương ứng, và besi sau sự thay đổi lịch sử
này. Tương tự, chúng ta có thể khá chắc chắn rằng tiếng Singhi
mượn bosis trước khi
thêm s cuối sau *-i, mà lại
không bosi sau sự sáng tạo âm vị học này (Blust
1993). Trong khi điều này không cung cấp cho chúng ta một niên biểu tuyệt đối,
nó cung cấp một niên biểu tương đối dựa trên trật tự của những thay đổi âm trong
quan hệ với thu nhận từ mượn, và điều đó nói cho chúng ta rằng những sự vay mượn
sớm của thuật ngữ này gắn với một số công cụ hay vũ khí đặc biệt làm bằng sắt,
trong lúc những vay mượn sau gắn với sắt nói chung.
Với những kết luận vững chắc như
thế trong suy nghĩ, thật hữu dụng khi nhắc rằng bất chấp những tìm kiếm, ảnh xạ
kép của *besi chỉ được tìm thấy trong ngôn ngữ Malanau và land Dayak, cả hai
tiếng này đều phân bố ở gần quê hương Malayo- Chamic giả định ở Tây Nam Borneo
một thời gian dài. Tuy nhiên, ảnh xạ của *besiphải được nhập vào những
ngôn ngữ này một cách riêng rẽ, từ khi chúng đã bị khác biệt hóa vào lúc
*besi được sáng tạo. Những từ sinh đôi trong tiếng Melanau và Land Dayak
như thế là sản phẩm của những lịch sử độc lập của vay mượn kép song song kỳ lạ.
Đây là một mẫu hình không thông thường và đòi hỏi sự giải thích riêng
(6).
Một số quan sát đáng kể để giải
thích sự phân bố vay mượn khác thường này. Thứ nhât, như đã chỉ ra,
*besi ‘sắt’ hiển nhiên phải được tái cấu trúc cho tiếng Tiền
Malayo-Chamic, ngôn ngữ của cư dân nhiều phần chắc chắn bắt đầu lan tỏa từ tây
nam Borneo vài
thế kỷ TCN (Blust 1992, Thurgood 1999). Thứ hai, cho tới nay không có tiếng
Malayo-Chamic có những ảnh xạ kép của *besi, thậm chí cả những ngôn ngữ
thuộc nhóm này phân bố ở tây nam Borneo. Thứ ba,
những vay mượn sớm hơn của *besi liên quan đến những hiện
vật chế tác đặc biệt --- giáo trong trường hợp của tiếng Mukah, rìu nhỏ hay bôn
trong trường hợp của tiếng Singhi hay Kuching Land Dayak, trong khi những vay
mượn muộn hơn liên quan đến sắt nói chung (7). Điều quan trọng cần chỉ ra rằng
mẫu hình này không vững chắc đối với sự vay mượn từ Malay ở hai giai đoạn lịch
sử khác nhau, khi từ besi tiếng Malay chỉ chỉ sắt, không bao giờ chỉ giáo
(tiếng Malay là tombak) hay rìu (tiếng Malay
là kapak). Nếu
từ besey tiếng Mukah hay
từ bosis tiếng Singhi là những từ mượn Malay
thì sẽ không có sự giải thích về ngữ nghĩa học của những dạng này. Trên thực tế,
cần thiết phải chấp nhận kết luận rằng những ngôn ngữ Malanau và Land Dayak
không chỉ có hai lần từ mượn độc lập từ
Malay besi ‘sắt’ mà trong cả hai ngôn ngữ từ
mượn sớm hơn đều trải qua một bước chuyển ngữ nghĩa học song song từ nguồn của
chúng trong khi từ vay mượn muộn hơn thì không. Điều này rõ ràng là đáng ngờ và
cho thấy thay bằng cho rằng sự vay mượn đầu tiên của *besi vào những tiếng
Malanau và land Dayak xảy ra trước khi có sự tồn tại của tiếng Malay như là một
ngôn ngữ riêng biệt hay là của kỹ thuật chế tạo sắt bên ngoài cộng đồng ngôn ngữ
Tiền
Malayo-Chamic.
Mẫu hình của vay mượn đúp này
thấy ở Tây Nam Borneo cũng khó mà hợp với giả thiết rằng kỹ nghệ chế tạo sắt đã
được truyền bá vào thế giới hải đảo từ những người nói tiếng Monic ở phía bắc.
Trên cơ sở thực tiễn chung, có lý để cho rằng một sự buôn bán công cụ sắt đi
trước sự truyền bá của kỹ nghệ đúc và rèn, còn nữa sự buôn bán công cụ sắt được
thể hiện qua ngôn ngữ chỉ ở tây nam Borneo. Nói một
cách ngắn gọn, thuật ngữ *besi xuất hiện để có một lịch sử dài hơn ở tây
nam Borneohơn là ở
những vùng khác ở ĐNA hải đảo và lục địa, kể từ đây ngụ ý một tình trạng cổ xưa
đối với những tư liệu đề cập. Một cách tổng quát hơn, sự phân bố của những ngôn
ngữ Malayo-Chamic cung cấp chứng cứ rõ ràng về một sự mở dộng dân cư đột ngột từ
tây nam Borneo về phái bắc đến ĐNA lục địa, bắt đầu từ những TK 2, 3 TCN. Dẫu
cho những sự lan tỏa dân cư này được biết thâm chí với những cư dân săn bắt –
hái lượm (ví dụ những người Pama-Nyungan ở Úc), và những nguyên nhân thường khó
để thăm dò thông qua kết luận không được trợ giúp, sự đạt được kỹ nghệ chế tác
sắt là nhân tố thúc đẩy trong sự kiện này, như đã được nhất trí trong trường hợp
lan tỏa của người Bantu
Từ Tây Phi đến khắp vùng đông và
nam của lục địa (Phillipson 1976). Ngược lại, những cư dân nói tiếng Monic sớm
là những người tương đối tĩnh lặng, và ít nhất một phần lãnh thổ của họ lay
squarely trên con đường của sự di cư mạnh mẽ.
Những quan sát này vững chắc đối
với những giả thiết đơn: bởi vì những cục sắt thiên thạch (*bariS) có thể có giá
trị ma thuật-tôn giáo đối với người nói
tiếng NamĐảo
hàng TNK, chế tác sắt được sáng tạo bởi tổ tiên của những người nói tiếng
Malayo- Chamic trong những thế kỷ TCN. Công cụ và vũ khí của khám phá này (chế
tạo sắt – ND) tạo cơ hội cho sự lan tỏa của cư dân dẫn đến sự hình thành những
khu định cư của người NamĐảo
ở ĐNA lục địa. Như với sáng tạo kỹ nghệ này ở những khu vực khác của thế giới,
ý tưởng mới dễ dàng lan tỏa xa hơn so với cộng đồng gốc của nó, ban đầu thông
qua buôn bán mà trong đó công cụ sắt đóng vai trò nổi bật. Những nhóm láng
giềng, nhưng những người nói tiếng Malanau và Land Dayak sớm, có thể đã thu nhận
một ảnh xạ của *besi như là tên gọi của những mặt hang sắt buôn bán, vẫn chưa có
sự chiếm hữu kỹ nghệ chế tạo đồ sắt giống như tiếng/người Anh thu nhận từ chỉ
‘wine- rượu vang’ trước khi có bất cứ một hiểu biết nào về nghề trồng nho. Khi
mà sáng tạo kỹ nghệ có chỗ đứng trong cộng đồng tổ tiên Malayo-Chamic thì không
có nhu cầu nào đối với những ngôn ngữ này mượn ảnh xạ của *besi, và vì thế chúng
ta không thể mong rằng chúng cho thấy những ảnh xạ kép của *besi hơn là chúng ta
chờ đợi tiếng TBN, Pháp và Anh có những từ sinh đôi
như wine, vine trong tiếng
Anh. Trong thời gian khi mà tri thức của luyện kim lan tỏa, đầu tiên là chạm đến
những cộng đồng ở gần trung tâm của nơi khởi nguồn, và khi đã tạo ra một ảnh xạ
của *besi được mượn một lần nữa, lần này không với tư cách là tên của công cụ
hay vũ khí riêng biệt mà là tên gọi chung cho
‘sắt’.
Nhiều khía cạnh của sự sáng tạo
văn hóa quan trọng này không dễ dàng để khôi phục lại từ những chứng cứ ngôn ngữ
sống sót. Bên cạnh *besi, Dempwolff (1938: 110) đã tái cấu trúc
*panDay ‘khéo léo’, và ảnh xạ của từ này phổ biến rộng rãi ở
tây Indonesia và Philippines với nghĩa ‘blacksmith – thợ rèn’: Từ
cổ Java panDe/panDay “thợ lành nghề; thợ rèn,
thợ vàng, …’, Từ Java hiện đại panDe‘lò rèn, xưởng rèn, thợ
rèn; thong minh, khéo léo; kinh nghiệm, chuyên gia’, tiếng
Bali pande besi ‘thợ rèn’, tiếng
Malay pandai ‘nghệ nhân- nghệ sĩ; chuyên gia;
nhà chuyên môn…một nghệ nhân công nghiệp xứng đáng, ngược lại với một nghệ nhân
thủ công nghiệp khéo léo’ (Wilkinson 1957: 839), tiếng Toba
Batak pande bosi ‘thợ
rèn’, pande kau ‘thợ mộc’, tiếng Karro
Batak pande‘thợ rèn sắt’ (Loeb 1972:26), tiếng
Makasar panda bassi ‘thợ
rèn’, panre bulaeng‘thợ kim hoàn’, panre
kayu ‘thợ mộc’, tiếng Tai pande
bassi ‘thợ rèn’, pande
bulaan ‘thợ rèn’, tiếng Panoma/Baree pande
kaju ‘thợ mộc’, pande
wuyawa ‘thợ rèn’, pande
salaka ‘thợ bạc’, pande
labu ‘thợ rèn’, tiếng
Cebuano pandáy ‘rèn; thợ rèn, thợ mộc’, tiếng
Bikol pandáy ‘thợ thủ công, rèn, thợ rèn, thợ
xây, thợ điện…’, tiếng Tagalog pandáy, pandáy bákal, tiếng
Ilokano pandáy‘thợ rèn’. Dempwolff đánh dấu *panDay như là
từ mượn từ Ấn Độ, và Gonda (1973: 170-171) đánh giá đó có thể là từ nguyên học
tiếng Phạn nhưng không đạt đến bất cứ một kết luận xác định nào. Những ảnh xạ
của từ này (sau đây là *panday) được biết trong những ngôn ngữ Chamic, và
Thurgood (1999) đã không tái tạo từ Tiền Chamic cho ‘smith – thợ rèn’. Dù lịch
sử của nó thế nào thì không có cơ sở đã biết nào cho việc tạo ra *panday có độ
tuổi cổ như *besi bất kể đó là từ bản sinh hay từ mượn Ấn Độ. Phần lớn những
dạng của từ này được mượn rõ ràng từ
từ pandai Malay, điều này xảy ra trong thời
gian 500-1000 năm, từ sau khi sự kiện của luyện kim ở ĐNA hải đảo. Từ khi tiếng
Malay là tiếng có vai trò quan trọng trong thương mại xuyên quần
đảo Indonesia và
một phần Philippines thì
chắc là những thợ rèn nói tiếng Malay đã tạo thành một bộ phận của nhiều những
chuyến buôn bán. Như là kết quả, từ Malay pandai đã có thể được mượn thậm chí
trước (hay thay bằng) besi trong nhiều ngôn ngữ của Sumatra, Sulawwesi
hay Philippines,
bất kể (hay có lẽ, do vì) nguồn gốc muộn hơn của
nó.
Như vậy, chúng ta còn lại với
giả thiết của dạng sau: 1. Đúc và rèn quặng sắt là một sáng tạo văn hóa trong
tổ tiên cộng đồng nói tiếng Malayo-Chamic ở tây nam Borneo trong những thế kỷ
TCN và rắt rèn đã được gọi là *besi (2), sáng tạo này có thể đóng vai trò trong
đẩy nhanh sự lan tỏa Malayo-Chamic tới đông Sumatra, bán đảo malay và bờ biển
Đông Dương xa về phái bắc đến miền Trung việt Nam (3) bất kể đó là sáng tạo độc
lập của những người nói tiếng Mon-Khmer hay không, luyện kim phải là một phần
của sáng tạo văn hóa được mang từ hướng bắc vào ĐNA lục địa trong đợt lan tỏa
này (4), luyện kim sắt và từ *besi được những người nói tiếng Monic sớm mượn từ
những người nói tiếng Malayo-Chamic, lãnh thổ của người Monic sớm thời đó trải
tới Vịnh Thái Lan; sự vay mượn này xảy ra đủ sớm để từ này trải qua những thay
đổi về âm xảy ra sau đó và cả những biến đổi hình thái có thể thong qua những
infixations, (5) những nhóm ngôn ngữ riêng rẽ liền kề về địa lý với cộng đồng
tổ tiên Malayo-Chamic, bao gồm cả những người Melanau và Bidayuh sớm, kiếm được
những mặt hàng làm từ sắt qua buôn bán với những cư dân nói tiếng Malayo-Chamic,
sử dụng từ *besi cho những mặt hàng này, (6) như là kết quả của biến đổi âm
trong những ngôn ngữ Malanau và Land Dayak từ mượn *besi sớm trải qua những biến
đổi trong phát âm, (7) ở giai đoạn muộn hơn, tri thức về luyện kim lan tỏa một
cách nội vùng (bản địa) ở trung và tây Borneo, và từ *besi lại được mượn lần
nữa. nhưng bây giờ thì chỉ để chỉ sắt, và trong dạng duy trì sát với dạng nguyên
ban đầu, (8) ở một số điểm sau sự sáng tạo của *besi từ *panday được sáng tạo ở
miền nam Sumatra hay bán đảo Malay, để chỉ những nghệ nhân khéo léo làm việc với
gỗ, vàng, bạc và sắt, (9) có thể trong thời đại Sriwijaya hiểu biết về luyện kim
lan tỏa rộng hơn ở bắc Sumatra, Sulawwesi và Philippines, và từ *panday thậm
chí nhận được sự phân bố rộng hơn thông qua vay mượn hơn là
*besi.
GHI
CHÚ
1. Không
thật rõ rằng lắm khi nào Malay trở thành nguồn gốc quan trọng của từ mượn. Hall
(1985) cho rằng nhà nước Ấn Độ hóa Srivijaya ở miền Nam Sumatra (nơi từng nói
tiếng Malay) thống trị thương mại biển đi qua ĐAN từ năm 670 đến năm 1025”. Tuy
vậy, người Malay đã kiểm soát buôn bán qua Eo biển Malacca từ TK 5 hay sớm hơn.
Trước khi ảnh hưởng Malay có thể cảm thấy rộng khắp, đã có sự cần thiết dùng
tiếng Malay như ngôn ngữ thương mại mở rộng ngoài quê hương của nó ở
nam Sumatravà bán
đảo Malay. Điều này có thể bắt đầu với buôn bán gia vị và tiếp tục thong qua sự
du nhập của Islam, nhưng niên đại của của sự tham dự sớm nhất của thương nhân
nói tiếng Malay vào mạng lưới thương mại quần đảo vẫn chỉ là suy
đoán.
2. Dempwolff (1938) thực sự đã tái
cấu trúc từ sinh đôi *basi và *besi, assigning
từ tayubasi ‘đổ/lấp đầy sắt’ tiếng Tagalog,
từ wasi ‘sắt’ tiếng Ngaju Dayak và
từ besi ‘flint’ trong tiếng Malagasy cho dạng
cựu hơn (*basi). Mặc dù vậy, như Dahl (1976: 106) đã chỉ ra, chứng cứ so sánh
chỉ ủng hộ từ
*besi.
3. Adelaar
(2005:5) đã đặt ra một nhóm ‘Malayo-Sumbawan’ lớn hơn với một ‘nhánh
Malayo-Chamic-Bali-Sasak-Sumbawa’. Trong nhánh này, ông nhìn nhận 1.
Bali-Sasak-Sumbawa; 2. Malayic và 3. Chamic nhưn là ba nhánh coordinate. Cảm
nghĩ cá nhân của tôi rằng Malayo-Chamic tạo thành một đơn thể, thậm chí ngay cả
khi nó ở trong một nhóm lớn hơn do Adelaar đề
nghị.
4. Diffloth
(trao đổi cá nhân) đặt ra câu hỏi rằng dạng Khmer mà Shorto đưa ra cho thấy có
thể nó chứa một infix ─N- hơn là ─m-
.
5. Bên cạnh
một từ vựng ngắn (Ray 1913) và một số xử lý của một số khía cạnh ngữ pháp và âm
vị của tiếng Dalat Melanau do I.F.C.S Clayre thực hiện, không có nhiều tài liệu
về bất cứ dạng nào của tiếng Melanau. Xuất bản dài nhất là của Blust (1988a).
một bản dài 66 trang về âm vị học và hình thái học của tiếng Mukah. Năm 1971 tác
giả đã thu thập từ vựng 600-700 từ và dữ. liệu ngữ pháp cơ bản của các ngôn ngữ
Baling, Mukah, Dalat Kampung Teh, Dalat Kampung Kekan, Matu, Sarikei, và
Kanowit. Những tiếng này rõ ràng tạo thành một chuỗi phương ngữ và loại
trừ exclude Bintulu
ở điểm mút phía bắc, ngôn ngữ mà đôi khi bị đưa nhầm vào ngôn ngữ Melanau do
cùng sẻ chia những tương đồng văn hóa dựa trên việc canh tác sago (cọ
lấy bột).
6. Việc
nhận diện của ảnh xạ kép phụ thuộc một cách cơ bản vào những thay đổi âm tiết
chẩn đoán (diagnostic), những thay đổi đó không khả thi hoàn toàn trong các ngôn
ngữ. Từ basi ‘sắt; dao bush’ của tiếng Maloh có thể đã đại diện cho lớp kép vay
mượn giống như trong tiếng Melanau và Land Dayak, nhưng lại không có những ám
hiệu âm vị học đi
kèm.
7. Haaland,
Haaland và Rijal (2002:35) cho rằng “Với một ngoại lệ có thể đối với đồ trang
sức, hiện vật sắt đầu tiên là gươm, sau đó là mũi giáo, và kiếm, trong khi công
cụ sắt như cuốc và rìu xuất hiện muộn hơn”. Không rõ dựa vào đâu mà họ xác định
một trật tự như vậy, nhưng đáng để áp dụng nghiêm chỉnh điều này khi những vay
mượn về luyện kim sắt xuất hiện đầu tiên với những người nói tiếng Melanau sớm
(besey‘giáo’), và chỉ ở giai đoạn sau đó với những người nói tiếng
Bidayuh (bosis, besis “rìu, bôn, cuốc
chim).