Sách
đã in: "Bí ẩn về lịch sử khảo cổ" (Tác giả: Chu Trọng Ngọc, người dịch: Nguyễn
Trung Thuần, Nxb Phụ nữ, năm 2011)
Thời xưa, những văn bản được ban bố dưới danh nghĩa của nhà vua được gọi
là thánh chỉ, phải đóng thêm cả ấn chương để thể hiện quyền uy của vua. Ấn
chương của vua được chạm khắc bằng ngọc, gọi là ngọc tỉ. Ngọc tỉ có rất nhiều
cái, được dùng để đóng lên các loại văn thư và bố cáo khác nhau. Trong số đó có
một loại ngọc tỉ đặc biệt thiêng liêng, khi vua già sắp chết, phải đích thân
giao lại cho thái tử là hoàng đế kế vị trước mặt các quan đại thần, để thể hiện
việc truyền lại cả thiên hạ cho ông ta, vì thế mà được gọi là Truyền quốc ngọc
tỉ. Đó là do Tần Thủy Hoàng qui định.
Vì
sao Truyền quốc ngọc tỉ lại thiêng liêng đến vậy? Bởi vì có được nó không phải
chuyện dễ, nó được chạm khắc bằng một viên bảo ngọc hiếm có trong nhân gian.
Viên bảo ngọc này mới đầu do một người nước Sở tên là Biện Hòa kiếm được. Biện
Hòa đem dâng nó cho Sở Lịch Vương. Bởi bên ngoài bảo ngọc có bọc một lớp ngọc
chưa giũa, nên Sở Lịch Vương cho rằng nó chỉ là một viên đá bình thường, bèn ra
lệnh chặt chân trái của Biện Hòa vì tội khi quân. Khi Sở Vũ Vương lên ngôi, Biện
Hòa lại đem dâng ngọc, Sở Vũ Vương cũng không nhận ra là vật quí, lại sai chặt
nốt chân phải của Biện Hòa. Khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện Hòa đã bị mất cả hai
chân ôm theo bảo ngọc đến khóc lóc thảm thiết dưới chân núi Kinh Sơn, rằng sao
mọi người lại chẳng ai nhận ra được vật quí. Sở Văn Vương lệnh cho người xẻ lớp
ngọc chưa giũa bên ngoài ra, quả nhiên có được bảo ngọc quí hiếm, bèn trọng
thưởng cho Biện Hòa, rồi lệnh cho người chạm khắc bảo ngọc thành ngọc tỉ, tên
hiệu là “Hòa thị bích”. Sau đó Hòa thị bích bị rơi vào tay Triệu Huệ Văn Vương,
Tần Chiêu Vương muốn đoạt được viên ngọc bích này, ra ý muốn đổi bằng 15 tòa
thành trì. Nước Triệu biết đây là chiêu lừa, liền sai Lận Tương Như đem viên
ngọc bích này đi làm công việc giao thiệp hết sức gian nan này. Lận Tương Như
nhờ vào trí tuệ và lòng dũng cảm của mình mà đã đem được nguyên vẹn viên ngọc
bích về nước Triệu. Đó chính là câu chuyện “Hoàn bích qui Triệu” nổi tiếng trong
lịch sử. Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc xong đã đoạt được Hòa thị bích.
Ông ta cho rằng thứ bảo bối tổ tông mình muốn có mà không được đã bị ông ta đoạt
lấy, đây là ý trời, rất đáng làm kỉ niệm, bèn cho chế viên ngọc bích này thành
ngọc tỉ, chạm khắc lên đó 8 chữ “Thụ mệnh vu thiên, kí Thọ Vĩnh Xương”, gọi nó
là Truyền quốc ngọc tỉ, với mong muốn nó sẽ được lưu truyền đời đời, truyền cho
đến ngàn vạn đời, liền với vương vị của mình.
Truyền quốc ngọc tỉ vừa quí báu lại thiêng liêng như vậy, sau này
nguwofi ta đã coi nó là vật tượng trưng cho hoàng quyền và thiên hạ. Ai có được
Truyền quốc ngọc tỉ, người đó sẽ là vị vua được qui về thiên mệnh, sẽ đoạt được
cả thiên hạ.
Con
cháu Tần Thủy Hoàng rất
tệ hại, Tần Nhị Thế vừa ngu xuẩn vừa hủ bại, nên đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa
nông dân do Trần Thắng và Ngô Quảng lãnh đạo, Tần Nhị Thế trong cơn hỗn loạn đã
bị hoạn quan Triệu Cao giết chết. Cháu ông ta là Tử Anh phò Tô Chi Tử cũng không
thể cứu vãn được thiên hạ., cuối cùng đành phải trắng ngựa trắng xe, trên cổ bị
tròng vào một sợi dây thừng chứng tỏ có tội, đầu hàng Lưu Bang, ngoan ngoãn xin
dâng Truyền quốc ngọc
tỉ.
Lưu
Bang trong cuộc tranh chấp Sở Hán với Hạng Vũ trong, do có chiến lược đúng, lại
giỏi về dùng người, cộng thêm với việc đoạt được Truyền quốc ngọc tỉ, nên dân
tình đều đã coi ông ta là chân mệnh thiên tử rồi, đều chịu bỏ mạng vì ông, vì
thế đã đánh bại được Hạng Vũ mà đoạt được thiên hạ, kiến lập nên triều
Hán.
Những năm cuối đời Tây Hán, vua bất tài, đại quyền rơi vào tay Vương
Mãng đằng bên họ ngoại. Cuối cùng, Vương Mãng đã tiếm đoạt được ngôi vị, đổi Hán
triều thành Tân triều. Nắm giữ Truyền quốc ngọc tỉ ở cuối đời Hán là Hoàng thái
hậu Hán Hiếu Nguyên – cô của Vương Mãng. Vương Mãng cho rằng cô đã yêu thương
mình rất mực, thì chuyện có muốn đòi lại Truyền quốc ngọc tỉ cũng chẳng có vấn
đề gì. Ai ngờ vị Thái hậu này tỏ ra quá nguyên tắc, bà cho họ Vương tiếm đoạt
thiên hạ của họ Lưu là hành vi bất nhân bất nghĩa, nên đã chửi cậu cháu một trận
té tát, rồi còn giận dữ ném Truyền quốc ngọc tỉ đi, nhằm tỏ ý thà ngói lành còn
hơn ngọc vỡ. Kết quả là ngọc tỉ không vỡ hẳn, mà chỉ bị vỡ có một góc. Vương
Mãng lấy lại được ngọc tỉ đã bị sứt sẹo liền tự cho mình là chân mệnh thiên tử.
Ông ta cho người trám lại góc bị khuyết bằng vàng, rồi vẫn giữ gìn với danh
nghĩa là Truyền quốc ngọc tỉ. Không lâu sau đó, quân khởi nghĩa nông dân tiến
đánh vào hoàng cung, Vương Mãng bị giết, Truyền quốc ngọc tỉ vừa quí báu vừa
thiêng liêng nọ, sau khi qua tay hai vị lãnh tụ khởi nghĩa nông dân là Lưu Huyền
và Lưu Bồn Tử, đã rơi vào tay Quang Vũ Đế Lưu Tú là người sáng lập ra nhà Đông
Hán.
Khi
Đông Hán truyền đến đời Hiến Đế Lưu Hiệp, do ông ta bất tài và bọn hoạn quan
ngoại thích làm loạn triều chính mà thiên hạ đại loạn. Một lần, hoạn quan Trương
Nhượng ép buộc Hiến Đế phải ra đi. Người coi giữ Truyền quốc ngọc
tỉ sợ ngọc tỉ bị rơi vào tay kẻ khác, đã ném
nó xuống một cái giếng ở Thành Nam, Lạc Dương. Khi cha của
Tôn
Quyền là Tôn Kiên đem quân tiến đánh vào Lạc Dương, nghe nói giếng ấy có phụt
lên khí ngũ sắc, liền sai người xuống giếng mò Truyền quốc ngọc tỉ lên. Khi ấy,
Viên Thuật, đương kim hoàng đế đầy dã tâm, nghe được tin liền cho bắt giam vợ
Tôn Kiên, cưỡng bức Tôn Kiên phải giao ngọc tỉ. Sau khi đoạt lại được ngọc tỉ,
Viên Thuật liền xưng đế ở Thọ Xuân. Nhưng không lâu sau
thì bị đánh bại, ho ra
máu mà chết. Sau khi Từ Cù người Quảng Lăng đoạt
được Truyền quốc ngọc
tỉ, liền trao lại cho Hán Hiến Đế.
Sau
khi con trai của Tào Tháo là Tào Phi thay nhà Hán lập nhà Ngụy, Truyền quốc ngọc
tỉ thuộc sở hữu của Tào Ngụy ở Tam quốc. Tư Mã Viêm thay nhà Ngụy lập nhà Tấn, ngọc tỉ được truyền giao cho Tây
Tấn. Trải qua 16 năm “Loạn Bát vương”, nguyên khí nhà Tây Tấn bị thương tổn
nặng, các dân tộc thiểu số ở phương Bắc đứng đầu là Hung Nô, Tiên Ti, Hạt, Thị,
Khương đua nhau kéo về, làm phát sinh cái gọi là “Ngũ Hồ loạn
Hoa”. Truyền quốc ngọc
tỉ bị nhà Hán (Tiền Triệu) do người Hung Nô lập nên đoạt mất, sau đó truyền tay
nhau trong các chính quyền dân tộc thiểu số. Tiếp đó, ở Trung Quốc xuất hiện cục
diện đối mặt Nam Bắc Triều, ngọc tỉ từ Bắc triều đến tay nhà Tùy, rồi lại từ nhà
Tùy đến tay nhà Đường.
Kể
từ khi Tần Thủy Hoàng cải chế Hòa thị bích thành Truyền quốc ngọc tỉ , trong
khoảng hơn 1000 năm khi truyền đến tay nhà Đường, chiếc ngọc tỉ vừa quí báu vừa
thiếng liêng này liên tục được truyền tay, nhiều khi là cha truyền cho con, con
truyền cho cháu trong nội bộ một triều đại,
nhiều khi lại là bị các hoạn quan hoặc tướng quân đoạt mất, rồi cải hoán cả
triều đại. Tất cả những vị vua có trong tay Truyền quốc ngọc tỉ đều cảm thấy
mình là Chân long thiên tử thuộc mệnh trời, chẳng còn gì phải áy náy nữa cả. Làm
vua mà không có được Truyền quốc ngọc tỉ trong tay thì lòng luôn thấp thỏm bất
an, cứ như là mình danh không chính thì ngôn không thuận vậy, thế là tìm trăm
phương ngàn kế để có được Truyền quốc ngọc tỉ.
Những năm cuối đời Đường, phiên trấn[1] cát cứ, thiên hạ lại một lần nữa đại
loạn, tiếp đến là Ngũ đại Thập quốc kéo dài gần 50 năm. Khoảng thời gian các vua
của Ngũ đại Thập quốc tại vị đều không dài lắm, chẳng
Khái niệm Kendi xuất phát từ Kundi, Kundi lại có
gốc chữ Phạn Kundika có nghĩa là bình nước. Trong tiếu tượng học Hindu, Kundik
được xem là thuộc tính của thần Brahma và Siva, trong Phật giáo nó là thuộc tính
của Avalokitesvara. Nói chung đây là đồ dùng để uống truyền thống ở Đông Nam á không có quai nhưng có thể có vòi, tên
gọi kendi luôn gắn với đồ để uống có vòi. ở Indonesia ngày nay, kendi được dùng
để chỉ đồ dùng uống nước gia dụng và nghi lễ. Có nhiều khả năng kendi có vòi
Đông Nam á là một loại hình tiến hóa của dạng bình nước Ấn Độ có nguồn gốc
từ kendi Lưỡng Hà.
Tóm lại,
kendi là thuật ngữ dùng để gọi loại bình không có quai và tay cầm, có hoặc không
có chân đế, cấu tạo gồm hai bộ phận cơ bản là bầu rỗng để đựng chất lỏng và một
vòi. Vòi được gắn liền và thông với bầu để rót chất lỏng từ trong bầu ra. Kendi
vừa là đồ gia dụng vừa là đồ nghi lễ. Trên một số diêu khắc Champa và Đông Nam á
khác, hình tượng kendi hoặc tồn tại độc lập, hoặc được miêu tả trong cảnh hành
lễ.
Kendi Champa (thuộc nhóm gốm 2) thường gặp ở những
địa điểm giai đoạn muộn từ thế kỷ 3 trở đi. Địa điểm Trà Kiệu cũng là nơi cung
cấp bộ sưu tập lớn nhất về kendi được biết cho đến nay ở khu vực miền Trung Việt
Nam (trước đây trong các thông báo và nghiên cứu chúng tôi gọi loại hình này là
ấm không quai, song xét về chức năng khái niệm ấm không thích hợp lắm, có lẽ dùng tên gọi bình- kendi thì hợp lý
hơn thể hiện được công dụng thực và chức năng biểu trưng của bản thân vật
dụng).
Chất liệu và màu sắc của kendi tương tự như vò.
Kendi thường được chế tác bằng kỹ thuật xoay, vòi và chân đế làm rời, sau đó gắn
vào. ở một số mảnh dấu vết kỹ thuật còn lại cho thấy sau khi tạo dáng sản phẩm,
người thợ còn miết láng ở một số chỗ cần thiết để tạo bề mặt nhẵn hoặc quét lên
bề mặt gốm một lớp áo sét loãng để tăng thêm độ bền và yếu tố mỹ thuật cho sản
phẩm.
Kendi thường có miệng hẹp những thành miệng
loe rộng, rìa miệng dày và thường lõm hình lòng máng, một số có miệng tạo gờ nổi
bản rộng thẳng xuống. Cổ kendi cao, hình ống và hơi thắt lại ở giữa. Thân hình
cầu tròn hay dẹt. Vòi kendi có hình dáng khá đa dạng, bên cạnh loại vòi thẳng
còn có loại thon dài rồi vòi tròn ngắn ở đầu có gờ tròn nổi. Trong sưu tập kendi
các địa điểm giai đoạn sau Công nguyên ở miền Trung Việt Nam chưa thấy loại
kendi có vòi kép hay kendi có vòi hình bầu vú. Những kendi có chân đế thường
thuộc dạng chân đế rỗng, cao và choãi. Kendi ở giai đoạn sớm đa dạng hơn kendi ở
giai đoạn muộn. Nhìn chung kendi miền Trung Việt Nam đơn giản hơn về loại hình
so với kendi ở các nước Đông Nam á khác.
Hoa văn trang trí rất đơn giản, thường chỉ là
1 hay 2 đường vạch chìm song song với nhau chạy vòng quanh ở giữa phần vai và
thân kendi. Đôi khi giữa hai đường này có xen vạch hình sóng nước đơn hoặc
kép.
Những kendi gốm nhiều
loại cũng phát hiện được nhiều trong các di tích văn hoá Óc Eo có mặt trong suốt
thời kỳ phát triển của văn hoá này (thế kỷ 2 đến đầu thế kỷ 7) và giai đoạn sau
OE. Theo TS. Lê Thị Liên, chức năng của những kendi này khá đa dạng, tín ngưỡng
tôn giáo, sinh hoạt, tuỳ táng và dựa trên việc tiếp nhận các ảnh hưởng từ Ấn Độ
(sớm nhất là từ vùng tây bắc Ấn) cư dân địa phương đã sáng tạo ra nhiều loại
khác nhau.
(Hình ảnh
lấy từ sách Kendi, 2007)

Vòi kendi trong sưu tập gốm Hồ
Tấn Phan (Huế)
khác nào như anh vừa dứt hát thì tôi lên sân khấu trong
diễn hí khúc, người ta dường như chẳng còn lòng dạ nào mà nghĩ tới chuyện Truyền
quốc ngọc tỉ nữa, vì thế mà Truyền quốc ngọc tỉ đến thời Ngũ đại Thập quốc đã
lặng lẽ biến mất tăm.
Sau
khi triều Tống được kiến lập, người ta đã đi tìm Truyền quốc ngọc tỉ khắp nơi,
nhưng mãi mà chẳng thấy. Hai triều Minh Thanh cũng phái người đi tìm khắp chốn,
rồi cũng phải thất vọng. Trong khoảng thời gian ấy tuy nhiều lần cũng có những
người vì muốn được ban thưởng, nên đã dâng lên thứ gọi là Truyền quốc ngọc tỉ,
nhưng qua kiểm định đều là giả mạo, có những người đã vì thế mà mất đầu. Ngày
nay có nhiều Ngự dụng ngọc tỉ của các vua triều Thanh được cất giữ ở Bảo tàng Cố
cung Bắc Kinh, song trong số đó lại không có Truyền quốc ngọc tỉ thật được lưu
truyền từ thời Tần Thủy Hoàng.
Truyền quốc ngọc tỉ đi đằng nào mất rồi? Có người nói, khi nhà Đường bị diệt vong, viên
quan coi giữ ngọc tỉ đã ném nó xuống ao trong hoàng cung, bởi dưới ao có rất
nhiều bùn lắng, nên về sau mãi vẫn chưa vớt lên được. Có người nói, các vua thời
Ngũ đại Thập quốc đều đoạt chính quyền nhờ vào vũ lực, trong đầu óc họ căn bản
chẳng có kiểu khái niệm gì về chính thống, hợp pháp, vì thế mà cũng chẳng coi
trọng thứ gì là Truyền quốc ngọc tỉ, có thể sau khi phân cắt ngọc tỉ xong, họ đã
cải chế thành những đồ trang sức bằng gọc mất rồi. Lại có một thuyết pháp khác
nói vào năm thứ nhất Hậu Lương thuộc triều đại đầu tiên của Ngũ đại, có người
vẫn còn nhìn thấy Truyền quốc ngọc tỉ, nhưng người có được ngọc tỉ đã không có
đủ tài đoạt lấy chính quyền dể làm vua, mà cũng không muốn dâng ngọc tỉ lên cho
kẻ làm vua nhờ vào thủ đoạn tiếm ngôi, thế nên đã bí mật đem ngọc tỉ chôn xuống
đất mất rồi.
Cả
ba thuyết pháp trên, nếu như thuyết pháp thứ hai là thật, thì Truyền quốc ngọc
tỉ cũng sẽ vĩnh viễn không còn tìm thấy; nếu những lời trong thuyết pháp thứ
nhất và thứ hai là đáng tin cậy, thì thể nào cũng có ngày những người làm công
tác khảo cổ sẽ đem lại một tin tức gây kinh ngạc, nói rằng Truyền quốc ngọc tỉ
đã được họ tìm thấy rồi.
[1] Phiên trấn: Tổ chức hành chính,
quân sự ở vùng biên giới và các khu vực xung yếu đời Đường –
ND



05:19
danillewoods7537368
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét