Tài
nguyên Văn hoá - Nguồn Tài nguyên KHÔNG Vô tận KHÔNG Tái tạo
(Một
vài suy nghĩ về Quản lý / Phát huy giá trị Tài nguyên Chămpa ở Khánh
Hoà)
Lâm
Thị Mỹ
Dung
Khoa
Lịch Sử, Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG
HN
336
Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà
Nội
Email.bebimkch@gmail.com
Phần
I. Tài
nguyên văn hoá, quản lý và phát huy giá trị tài nguyên văn hoá: Những tiếp cận
mới
I.1.
Tài nguyên văn hoá, Nghiên cứu tài nguyên văn hoá và Quản lý Tài nguyên Văn
hoá.
Mỗi
khi nhắc đến khái niệm Tài nguyên, chúng ta thường nghĩ ngay đến Tài nguyên
thiên nhiên, tuy nhiên khái niệm tài nguyên hiện nay được hiểu theo nghĩa rộng,
như tài nguyên con người, tài nguyên giáo dục, tài nguyên du lịch và ... Nói
cách khác, mọi thứ đều có thể thành tài nguyên cho mục đích nào đó trong những
điều kiện nhất định[1].
Hiện nay người ta sử dụng khái niệm Tài nguyên hay Nguồn lực Văn hoá[2]thay
cho các thuật ngữ Di sản hay Tài sản Văn hoá và những cách thức/phương pháp mới
khai thác sử dụng nguồn tài nguyên
này.
Theo
Hiệp hội Nghiên cứu Tài nguyên Văn hoá Nhật Bản “Tài nguyên văn hoá là dữ
liệu quan trọng giúp chúng ta hiểu xã hội và văn hoá của xã hội đó ở một thời
điểm nào đó, tài nguyên văn hoá bao gồm cả vật thể và phi vật thể không chỉ lưu
giữ trong các bảo tàng, như công trình lịch sử, phong cảnh đô thị, trình diễn
nghệ thuật cổ truyền, lễ hội và...Đáng tiếc, nhiều những tài nguyên này đã không
được khai thác đúng và chúng ta có thể tạo sự khai thác tốt nhất những tài
nguyên này cho hiện tại và cho thế hệ tương lai. Nghiên cứu tài nguyên mở ra một
lĩnh vực mới sử dụng tài nguyên văn hoá trong phát triển văn hoá con người và
nghiên cứu khoa học”[3]
Nghiên
cứu Tài nguyên Văn hoá là một lĩnh vực học thuật mới nhằm thoát khỏi thuật ngữ
(“di sản văn hoá”, “tài sản văn hoá”) được sử dụng từ lâu để xác định văn hoá
dân tộc, văn hoá bản địa trên thế giới, cũng như những giá trị và định kiến mà
thuật ngữ này thường được dùng, được hiểu. Thay vào đó, lĩnh vực học thuật mới
này tìm kiếm cách thức tái hướng văn hoá thông qua việc đưa ra một thuật ngữ
khai tạo giá trị, “tài nguyên văn hoá”, chuyên ngành có mục đich tiến hành những
nghiên cứu toàn diện và đa diện văn hoá nhân loại và phát triển những phương
pháp mới để bảo tồn và phát huy những tài nguyên văn hoá
chung.
I.2.
Chương trình Sau Đại học Quản lý Tài nguyên Văn hoá Đại học Kanazawa Nhật
Bản
Từ
những quan điểm trên chương trình được xây dựng dựa trên vai trò nền tảng của
văn hoá trong toàn cầu hoá và kết nối tạo dựng một kho tài nguyên văn hoá nhân
loại có thể sẻ chia với quan điểm tài nguyên văn hoá là cái đang trở thành chứ
không chỉ là những thứ đã có, vì văn hoá là biến đổi, văn hoá là sáng
tạo.
Toàn
cầu hoá gia tăng không tạo ra sự biến mất của những khác biệt văn hoá, ngược lại
toàn cầu hoá đã đem lại sự cọ xát giữa các nền văn hoá và làm nổi bật tính đa
dạng của chúng, việc sử dụng đơn phương các tài nguyên văn hoá tuy nhiên có khả
năng gây ra những vấn đề, nhất là tạo tính dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi và tước bỏ
quyền lợi kinh tế của một vài nhóm. Trong xã hội toàn cầu hoá hiện nay có một
nhu cầu cấp bách phải giáo dục quan điểm về những khác biệt văn hoá trên thực tế
là một dạng đơn giản khác của tài nguyên có thể chia sẻ bởi mọi người và do đó
xứng đáng được đánh giá về giá trị và khả năng sử dụng chúng như nguồn tài
nguyên. Trong những hoàn cảnh như vậy, nhu cầu nghiên cứu tài nguyên văn hoá trở
nên rõ ràng, như một ngành học thuật mới có khả năng đánh giá từ quan điểm trung
lập làm thế nào mà tri thức và kỹ năng tích trữ tại địa phương ở mỗi vùng hay
quốc gia trên thế giới có thể được sử dụng một cách hữu hiệu trong bối cảnh toàn
cầu, và đặc biệt hơn, làm thế nào mà những tài nguyên này được sử dụng mà không
làm tổn hại đến các quốc gia, các tộc người hay ngay cả những tập
đoàn. Nghiên cứu tài nguyên văn hoá sẽ phải giải quyết nhiều vấn
đề nêu trên và sẽ phải đối mặt với những vấn đề tương lai làm cách nào để kiến
tạo “xã hội chia sẻ văn hoá”, một bước tiếp theo cần thiết sau “xã hội đa văn
hoá”[4].
Chương
trình sau đại học Quản lý Tài nguyên Văn hoá tại Đại học Kanazawa kết nối nhiều
Cơ quan, Quỹ, Viện Nghiên cứu và Đại học trong đó có Trường Đại học KHXH &
NV, ĐHQG Hà Nội, Đại học Bắc Kinh, Đại học Chiang Mai..., Viện Kỹ thuật
Bangdung,
Indonesia...
Chương trình được xây dựng đảm bảo cho những học viên phát triển những khả năng
cốt lõi
sau:
1. Khả
năng quản lý nổi bật để duy trì và điều phối tài nguyên văn hoá, trang bị đầy đủ
những tri thức liên ngành và khả năng/kỹ năng nghiên
cứu;
2. Trang
bị những khả năng cần thiết để phân xử trong các tình huống phát sinh giữa các
bên khác nhau liên quan đến tài nguyên văn
hóa;
3. Tạo
lập năng lực quản lý liên quan đến việc duy trì và quản lý các nguồn tài nguyên
văn hóa, sao lưu với kiến thức liên ngành và kỹ năng nghiên cứu
mạnh;
4. Tạo
mạng lưới năng lực cần thiết cho việc xây dựng quan hệ đối tác và hợp tác quốc
tế trong một xã hội toàn cầu, nơi con người và sự vật ngày càng trở nên lưu
động.
Dựa trên các nguyên tắc nêu trên, chương trình thu nhận học viên Nhật Bản và học
viên từ các trường đại học đối tác ở Đông Á, những người sẽ tiếp cận Chương
trình cùng học tập và nghiên cứu trong nhóm đa quốc gia. Điều này sẽ giúp ích
nhiều hơn so với việc chỉ cho phép các chương trình quản lý tài nguyên văn hóa
cho mỗi nước tham gia; mà còn khuyến khích học viên bắt đầu phát triển mạng lưới
của các nhà quản lý tương lai, do đó Chương trình đóng góp nhiều hơn vào việc
thực hiện của một xã hội đa văn hóa có thể chia sẻ và sử dụng
nguồn tài nguyên văn hóa đa dạng. Nhiều
hội thảo, toạ đàm đã được tổ chức cũng như những đợt điền dã ở các nước châu Á,
Mỹ La Tinh và sau đó công bố thành những ấn phẩm một số đã được công bố online,
nhiều bài được in trong tạp chí riêng về Quản lý Tài nguyên Văn hoá[5].
Trường ĐHKHXH và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội đã có 03 học viên cao học và NCS tham gia
chương trình sau đại học này, và dù xuất phát từ những chuyên ngành khác nhau
nhưng họ đều được trang bị đầy đủ tri thức và kỹ năng để quản lý và phát huy
những di sản ... Từ Chương trình đào tạo trên và từ những kinh nghiệm của Nhật
Bản trong quản lý và khai thác tài nguyên chúng ta có thể rút ra một số bài học
để áp dụng vào thực tiễn Việt Nam nói chung và Khánh Hoà nói
riêng.
Phần
II. Tài nguyên văn hoá Khánh Hoà: Trữ lượng và hướng phát
huy
II.1.
Tài nguyên văn hoá khảo cổ học Khánh
Hoà
Khánh
Hoà là một tỉnh miền Trung có các yếu tố vừa của Trung Trung bộ, vừa của Nam
Trung bộ, vừa mang nhiều chất Biển/Đại dương nhưng lại không ít tính Lục địa,
xét từ góc độ Địa/văn hoá Khánh Hoà là cầu nối giữa Đại dương với Đất
liền. Trữ
lượng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Khánh Hòa vừa phong phú về nội
dung, vừa đa dạng về loại hình[6] và
những năm vừa qua khi đưa một phần mảng di sản văn hóa vào khai thác du lịch,
Khánh Hòa đã thu hút được một lượng đông đảo du khách đến tham quan, tìm hiểu và
trải
nghiệm.
Do
dung lượng của bài viết cũng như chuyên môn của người viết, trong phần này chỉ
xin để cập tới một số mảng di sản vật thể - Tài nguyên văn hoá Khảo cổ và hướng
bảo tồn phát huy giá
trị
Trữ
lượng Tài nguyên Tiền sử:
Xóm Cồn – Đây là nền văn hoá khảo cổ không chỉ đậm tính Biển đơn thuận như khi
chúng ta xác định đặc trưng của những văn hoá cổ miền Trung Việt Nam cách đây từ
4000-3500 năm, Xóm Cồn đậm chất Đại dương và lối sống Khơi xa này đã được những
nhóm cư dân thời kỳ sau kế thừa và phát triển.
Văn hoá Xóm Cồn được gọi theo địa
điểm Xóm Cồn. Địa điểm Xóm Cồn nằm ngay sát ven biển phía tây của một mũi đất
nhỏ trong vịnh Cam Ranh. Xóm Cồn thuộc dạng di tích kiểu Cồn - Bàu ven biển[7].
Xóm Cồn có vài trò đặc biệt quan trọng và là nền tảng cho những văn hoá muộn hơn
thời Sa Huỳnh và Champa ở địa bàn Nam Trung
bộ.
Trữ
lượng Tài nguyên Sơ sử:Hoà
Diêm (chiều Đông Tây Đại dương) và Diên Khánh (chiều bắc
nam)
Khánh
Hoà là địa bàn trọng điểm của không gian văn hoá Nam Sa Huỳnh – Truyền thống
II[8], Truyền
thống Bàu Trám/Bình Châu/ Hoà Vinh II/ GMV - Hoà Diêm/Suối Chình[9]… Chum
quan tài hình cầu biến thể và những dạng chum khác, mộ đất nhiều, nhiều hiện vật
đồng hơn ở những địa điểm sớm. Táng thức mộ chum tồn tại đến thế kỷ 2,3 SCN,
trong truyền thống này có sự tham gia rất mạnh mẽ của các yếu tố từ văn hoá Xóm
Cồn (chiều lịch đại) và với Đông Nam Á hải đảo, Đông Nam Bộ (chiều
đồng
đại).
Giai
đoạn muộn, từ Công nguyên trở về sau truyền thống mộ chum II này đã tiếp nhận
những yếu tố mới (có thể bằng buôn bán, trao đổi và sự di chuyển của các nhóm
dân cư)
dẫn đến những thay đổi trong táng thức, táng tục và đồ tùy táng
... Những mộ chum Hòa
Diêm giai đoạn muộn từ những thế kỷ đầu công nguyên trở đi (như đã trình bày ở
phần trên) về táng thức rất giống phức hợp mộ táng Tabon
(Philippine) trong khi loại hình chum quan tài và đồ tủy táng gốm có những tương
đồng đáng kể với phức hợp gốm Kalanay (Philippine). Truyền thống gốm Sa Huỳnh –
Kalanay từ lâu đã được nhiều người nghiên cứu đề cập như minh chứng về một mạng
lưới trao đổi/tương tác nhiều mặt, nhiều chiều trên biển Đông Nam Á, nhưng không
nơi nào mà truyền thống này đậm nét như ở Hoà Diêm, rõ ràng đây là những giá trị
mà chúng ta có thể khai thác và phát
huy.
|
Tuy
nhiên tại Khánh Hoà có những khu mộ táng thuộc loại hình Sa Huỳnh Bắc, truyền
thống I như Diên Khánh, Mỹ Ca, tất cả những dữ liệu này cho thấy Khánh Hoà có
vai trò quan trọng trong nghiên cứu và xác định quá trình hình thành, tính chất
và phạm vi phân bố của bức khảm văn hoá Sa
Huỳnh.
Trữ
lượng tài nguyên văn hoá Chămpa:
Có thể nói Khánh Hoà là địa bàn phân bố và lưu giữ của nhiều tài nguyên văn hoá
Champa vật thể và phi vật thể. trong bài này xin đề cập về giá trị văn hoá nổi
bật của Đền tháp Pô Nagar và Bia Võ
Cạnh.
Bia
Võ
Cạnh
Bia
kí bằng chữ Phạn sớm nhất ở Đông Nam Á được xác định là tấm bia tìm thấy ở làng
Võ Cạnh, phía Tây thành phố Nha Trang, Khánh Hòa. Tấm bia này được Etienne
Aymonier kiểm tra và dập thác bản năm 1885, được Abel Bergaigne mô tả và xác
định niên đại vào năm 1888. Năm 1915 văn bia này được Louis Finot kiểm tra lại
trong một bài tạp chí “Bia ký của Bảo tàng Hà Nội”. Về nơi tìm thấy tấm bia này
Finot cho rằng tấm bia được lấy từ làng Phú Văn hay Phú Vinh sát làng Võ Cạnh
gần một tháp gạch đã bị phá hủy để lấy gạch làm đường. Tấm bia này hiện đang
được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Hà Nội[10].
Trước
đây, một số nhà nghiên cứu xác định bia Võ Cạnh có niên đại sớm, thế kỷ 2 SCN,
Sri Mara người có tên trong văn bia được đồng nhất với Khu Liên, vị vua đầu tiên
của nhà nước Lâm Ấp. Niên đại thế kỷ 2 SCN của tấm bia này đã là chủ đề thảo
luận lại và khảo sát lại suốt từ cuối thế kỷ 19 đến nay. Hiện nay, theo ý kiến
của đa số các nhà nghiên cứu, bia Võ Cạnh không thể có niên đại sớm như thế. Bia
được nghiên cứu so sánh với văn khắc của triều đại Ikşvãku ở Nãgãrjunakoņda vào
cuối thế kỷ 3 SCN. Theo W.Southworth, bia Võ Cạnh không cho thấy một sự di thực
trực tiếp và thực dân của tôn giáo và văn học Ấn Độ vào Đông Nam Á mà thể hiện
một sự thích ứng đặc biệt với những hình thức văn hóa Ấn Độ của tầng lớp quý tộc
bản địa. Theo bản chuyển tự của dòng thứ 10 của Jean Filliozat in năm 1969, bia
kí Võ Cạnh được làm để: “par celui qui est la joie de la famille de la fille
du petit-fits du roi Śrîmãra”. Sự thể hiện này cho thấy giữa vua Śrî Mãra và
tác giả của dòng bia ký cách nhau ít nhất 4 đời và khó có thể cho rằng bia Võ
Cạnh gắn với Phù Nam. Jean Filliozat cũng cho rằng những chữ ‘joie de la
famille’ không có nghĩa là con trai (a son) và trên thực tế, tác giả
của dòng bia kí có thể không phải là hậu duệ của Śrî Mãra mà là con rể - người
kết hôn theo quy chuẩn dòng Mẹ. Điểm then chốt của dòng dõi này rõ ràng là con
gái của cháu của Śrî Mãra của gia đình mà tác giả dòng bia ký là thành viên và
trật tự phân tầng theo dòng mẹ cũng được thể hiện qua tinh thần của bia ký[11].
Kế
thừa theo dòng mẹ và ở rể được thực hành rộng rãi trong tất cả các cộng đồng cư
dân Nam Đảo hiện nay ở miền Nam Trung bộ Việt Nam và có thể bia ký Võ Cạnh mặc
dù được thể hiện trong bối cảnh của việc sử dụng ngữ pháp ngôn ngữ Phạn phức
tạp, vần luật kāvyacổ điển và những khái niệm triết học Ấn Độ nhưng về
căn bản có xuất phát từ những liên quan xã hội bản địa.
Tầm
quan trọng của chữ Phạn ở giai đoạn này khi mà đa phần bia ký và thư tịch cổ ở
Ấn Độ đều ghi bằng chữ Prakrit ẩn trong sự thừa nhận mang tính quốc tế như là
ngôn ngữ của tôn giáo bên ngoài Ấn Độ, đặc biệt là ở Trung Á, Trung Quốc và Đông
Nam Á. Điều này cũng liên quan đến vị thế cảng độc lập của Nha Trang trên con
đường hải thương quan trọng từ Ấn Độ đến Đông Nam Á và Đông Á.
Tóm
lại bia Võ Cạnh hiện nay được xác đinh niên đại vào cuối thế kỷ 3 CN, liên quan
đến xã hội của cư dân Nam Đảo, Śrî Mãra không phải là Khu Liên của Lâm Ấp và
cũng không phải là Fan Shiman của Phù
Nam.
Đền
tháp Pô Nagar
Khi
xem xét Pô Nagar trong mối liên quan với những nhóm đền tháp Trung Trung bộ và
Nam Trung bộ... đặc biệt là trong mối liên quan với Mỹ Sơn hai tác giả Trần Kỳ
Phương và Rie Nakamura cho rằng, có hai thánh đô lớn của vương quốc Chămpa trong
lịch sử, miền Bắc Chămpa là Mỹ Sơn (TK 4-14) và chủ về tín ngưỡng Siva – lưỡng
thể. Yếu tố Núi, bộ tộc
Cau
Pô
Nagar Nha Trang (từ trước TK 8) thờ Nữ
thần Bhagavati/ nữ thần Yang Inu Po Nagar/ Thiên Y A Na. Yếu tố Biển, bộ tộc
Dừa. Trên diện tích khoảng 500m2 đã có tất cả 10 công trình kiến trúc được xây
dựng[12]và
hiện nay chỉ còn 05 kiến trúc[13].
Các nhà nghiên cứu đánh giá cao vị thế của phức hệ đền tháp này trong lịch sử
văn hoá Champa, trong đó pho tượng Nữ thần Bhagavati được coi là một trong những
kiệt tác của điêu khắc Chămpa. Tín ngưỡng và thực hành tín ngưỡng liên quan đến
thờ kính Nữ thần là minh chứng sống động về sự hỗn dung văn hoá tín ngưỡng Chăm
Việt, và truyền thống sống (living tradition) trong biển truyền thống chết của
văn hoá Champa trong không chỉ cộng đồng cư dân Chăm hiện nay mà cả đối với
người Kinh và một số tộc người
khác.
Như
vậy bên cạnh những giá trị chung mà mỗi đền tháp Champa đều mang chứa, đền tháp
Pô Nagar có nhiều những giá trị riêng nổi bật mà chúng ta có thể khai thác, bảo
tồn và phát
huy.
II.2.
Một số vấn
đề
Văn
hoá là cái tự nhiên được biến đổi bởi bàn tay con người (Culture is manmade
nature), cái tự nhiên đặc biệt này phong phú đa dạng nhiều chiều nhiều mặt giống
như tự nhiên và rất nhạy cảm trước/trong những hoàn cảnh chính trị xã hội đặc
biệt. Việc khai thác cả hai nguồn tài nguyên này khác nhau có thể ở cách thức,
công nghệ, mức độ... nhưng đều giống nhau đặc biệt ở chỗ, không có môi trường
phù hợp sẽ dẫn đến hoang hoá, cạn
kiệt...
Di
sản Văn hoá Việt Nam (Vật thể và Phi Vật thể) được đánh giá bằng nhiều mỹ từ như
Giàu có, Phong phú, Đa dạng, Độc đáo, Quý hiếm ... Tuy nhiên do những điều kiện
không thuận lợi về khí hậu, thời tiết, sự tàn phá của chiến tranh và đặc biệt là
sự phá hoại vô ý thức và có ý thức của con người cũng như những chiến lược khai
thác cạn kiệt của các cấp chính quyền mà nhiều Di sản “một đi không trở lại”,
khá hơn thì “còn vỏ không hồn” hay bị “méo mó, biến dạng”... có thể nói tình
trạng bảo tồn di sản hiện nay rất đáng báo
động.
Việc
quản lý và phát huy giá trị di sản trong nhiều trường hợp có sự đối nghịch quan
điểm giữa người làm công tác quản lý với người làm công tác nghiên cứu, giữa
người làm kinh tế với người làm văn hoá, sự bất đồng trong chiến lược bảo tồn
giữa các nhà khoa học... tất cả đang dẫn đến hiện trạng nghiên cứu một đằng bảo
tồn một nẻo, nghiên cứu rồi để đó không bảo tồn, khai thác di tích bất chấp quy
định về bảo vệ tái tạo lại giá trị của di
tích...
Khi
nói về giá trị của di sản --- phát huy, khai thác chủ yếu phục vụ du lịch (mặc
dù luôn kèm theo nhiều mục đích khác) nhưng nặng về kinh tế, kinh tế luôn luôn
được đặt trước văn hoá, văn hoá luôn luôn bị đặt sau kinh
tế.
Cho tới nay, Khánh Hoà đã khai thác khá hiệu quả về kinh tế giá trị của di
sản[14],
nhưng cũng như tất cả các địa phương trên cả nước, Khánh Hoà gặp nhiều thách
thức, khó khăn, trở ngại... đặc biệt giữa bảo tồn và phát
triển
- Không
đồng bộ
- Theo
lối mòn, hái ngọn và tận hưởng
- Khai
thác và bảo tồn như hai đường thẳng song song
- Không
tái đầu tư tương xứng cả về trí lực và vật lực cho di tích
- Kinh
hoá và sân khấu hoá quá mức những hoạt động du lịch
Một
số đề
nghị
Dựa
trên những kinh nghiệm và bài học bảo tồn và phát huy giá trị di sản/nguồn tài
nguyên văn hoá trong nước và nước ngoài (như trường hợp Nhật Bản nêu trên), có
thể thấy để phát triển bền vững trước hết cần khảo sát tổng thể đánh giá trữ
lượng tài nguyên, tìm hiểu những nhân tố tác động tới hiện trạng và tương lai
của những nguồn tài nguyên này cả từ góc độ khách quan và chủ quan, qua đó xây
dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy, đồng thuận nhiều mặt giữa bộ ba – Đào tạo/
Nghiên cứu – Quản lý – Khai thác/Phát huy. Đào tạo/Nghiên cứu đi trước một bước,
dựa trên dữ liệu lập kế hoạch dài hơi và kế hoạch trước mắt để phát triển bền
vững: Không chỉ bền vững trong khai thác và phát huy giá trị mà cả bền vững
trong nghiên cứu, luôn cần có sự đồng hành bình đẳng giữa bộ ba
này.
Chọn
lựa để xây dựng những gói sản phẩm du lịch văn hoá trong tỉnh, liên tỉnh dựa
trên khai thác những giá trị Vật thể và Phi vật thể có cùng niên đại, cùng tính
chất ví dụ như thiết lập tuyến du lịch Mỹ Sơn – Pô Nagar; Pô Nagar trong Tiểu
quốc Kauthara....; Vật thể với Phi vật thể - sản phẩm gốm Bàu Trúc (gốm Chăm dân
gian phục vụ du lịch văn hoá lấy cảm hứng từ nghệ thuật điêu khắc Chămpa, sáng
tạo giá trị mới dựa trên cơ sở khoa học và thiết kế hiện đại), và như vậy đối
với một số nghề thủ công khác và cả những thủ công hiện đại dựa trên chất liệu
hiện đại, kim hoàn, đá quý, thuỷ tinh... trong quá trình xây dựng những gói sản
phẩm này điều kiện tiên quyết dẫn đến thành công là dựa trên cơ sở dữ liệu đầy
đủ về tài nguyên, nhân lực ... đặc biệt là lộ trình hợp lý, chọn lọc những sản
phẩm mang dấu ấn riêng của Khánh Hoà và sản phẩm ở các mức độ khác nhau nhưng
đảm bảo những tiêu chí của du lịch văn hoá hiện nay là thân thiện với môi
trường, độc đáo, đậm tính địa phương, dễ mang vác... Mỗi sản phẩm hay gói sản
phẩm đều có sứ mệnh truyển tải thông điệp về một xã hội đa văn hoá nhưng vẫn đậm
bản sắc địa
phương.
Mặt
khác, một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo sự cân bằng giữa nghiên cứu
bảo tồn và khai thác là tái đầu tư tương xứng từ nguồn lợi bán giá trị tài
nguyên quay trở lại tái tạo giá trị tài nguyên. Tài nguyên văn hoá giống như tài
nguyên thiên nhiên không phải là “nồi cơm Thạch Sanh” để chỉ khai thác mà không
tái tạo và sáng tạo giá trị
mới.
Xây
dựng một công viên Khảo cổ học Văn hoá Lịch sử Hoà Diêm: Trong tình hình hiện
nay, để mở và duy trì một bảo tàng ngoài trời tại di tích đòi hỏi nhiều điều
kiện, kỹ thuật, kinh phí, nhân lực... và chưa khả thi, do vậy quy hoạch vùng bảo
vệ di tích, chọn lựa một số điểm dựng mô hình táng thức và cư trú cùng với một
số khu trưng bày nhỏ...để vừa bảo tồn vừa nghiên cứu vừa khai thác phục vụ du
lịch và những mục đích khác.
Xây
dựng và phát triển Bảo tàng Khánh Hoà thành Bảo tàng trọng điểm của khu vực Nam
Trung bộ: Chú trọng những nội dung và phương thức/truyền thông trưng bày làm
nổi bật tính chất Sa Huỳnh và Champa của Khánh Hoà nói riêng và Nam Trung bộ nói
chung, và để thực hiện được rõ ràng cần có sự liên kết nhiều cấp giữa các tỉnh
Nam Trung bộ. Hiện nay ở Trung Trung bộ có trục Hội An – Trà Kiệu- Mỹ Sơn- Bảo
tàng điêu khắc Champa Đà Nẵng, và có thể xây dựng một mô hình hay trục du lịch
tài nguyên văn hoá tương tự ở Khánh Hoà kết nối giữa các di tích Tiền Sơ
sử-Chămpa với Bảo tàng Khánh
Hoà.
Xây
dựng một Bảo tàng Tài nguyên Văn hoá Biển cấp quốc gia ở Nha Trang, dọc các tình
duyên hải miền Trung và miền Nam, bất cứ nơi nào cũng có đủ điều kiện để xây
dựng một bảo tàng tổng hợp như vậy, nhưng trong tình hình hiện nay, Nha Trang
với vị thế địa văn hoá tiên phong xa khơi ngay từ thời cổ trung đại, với những
cơ sở sẵn có của mình, đặc biệt là Viện Hải dương học và một số cơ quan nghiên
cứu, trưng bày biển khác đáp ứng ngay được những điều kiện cần và đủ để xây dựng
bảo tàng dạng này, một đất nước có bờ biển dài với chỉ số duyên hải lớn mà chưa
có một bảo tàng về biển/đại dương âu cũng là điều khó
hiểu.
Tài
nguyên Văn hoá - Nguồn Tài nguyên SẼ Vô tận, SẼ Tái tạo trong những hoàn cảnh
chính trị kinh tế xã hội phù hợp và nhiệm vụ của những người nghiên cứu, những
người quản lý cũng như cộng đồng là chung tay vì một xã hội “đa văn hoá” tiến
tới xã hội “sẻ chia văn
hoá”.
Tài
liệu
dẫn
Cultural
Resource Manager Training Program, Kanazawa
University, http://crm.hs.kanazawa-u.ac.jp/en/about/
Haruya
Kagami 2010, Introduction: The Aim and Scope of Cultural Resource Studies Asian
Linkage Building Seminar 2010, trong Cultural Resource Studies Asian Linkage
Building Seminar 2010, Working Papers, Kanazawa University, 2010:
1-4
Lâm
Thị Mỹ Dung 2015, Tiếp xúc và giao thoa của Văn hoá Sa Huỳnh qua những phát hiện
và nghiên cứu mới, Bài trình bày tại HTKHQT “KCH Việt Nam, Lào, Campuchia trong
tiểu vùng Mê Kông”, tháng 8.2015, Tam Đảo, Vĩnh
Phúc.
Parmentier
Henri 1909, Inventaire
descriptif des monuments Cams de l’Annam: vol. I. Description des
monuments.
___1918, vol.
II. Étude de l’art Cam, Leroux (Publications de l’Ecole Francaise d’Extrème-
Orient 11), Paris.
Shinji
Yamashita 2010, Cultural Heritage in the Age of Globalization: A Perspective
from the Anthropology of Cultural Resource, trong Cultural Resource Studies
Asian Linkage Building Seminar 2010, Working Papers, Kanazawa University,
2010:6-19
Trần
Kỳ Phương và Rie Nakamura 2012, Thánh
đô Mỹ Sơn: Tín ngưỡng hoàng gia của tiểu quốc miền Bắc Chiêm Thành
(Campà), http://www.chamunesco.com/index.php?option=com_content&view=article&id=169:thanh-do-my-son-va-po-nagar-nha-trang&catid=48:nghien-cuu-phe-binh&Itemid=122
Trương
Đăng Tuyển 2012, Tiềm
năng của di sản văn hoá trong bối cảnh phát triển du lịch ở Khánh
Hoà, Văn
hoá biển đảo Khánh Hoà, NXB Văn hoá, Hà Nội
Southworth
Aelred Wiliam 2001, The origin of Campā in Central Vietnam – A preliminary
review, Thesis submitted for the degree of Ph.D in Archaeology at the School of
Oriental & African Studies (SOAS), University of London:
190-202.
[1] Shinji
Yamashita
2010:6
[2] Dịch
từ “Cultural Resource”, xem Haruya Kagami 2010:
2.
[3] Shinji
Yamashita
2010:7
[4]http://crm.hs.kanazawa-u.ac.jp/en/crs/
[5] Cho tới nay
đã có 07 Newletters của Graduate Program in Cultural Resource Management và 05
Kỷ yếu Hội thảo do Center for Cultural Resource Studies, Kanazawa University
xuất bản, trong đó bên cạnh những nghiên cứu về lý thuyết và phương pháp là
những chia sẻ kinh nghiệm của phía Nhật Bản và những nước thành viên của chương
trình, những trải nghiệm và trao đổi của học viên chương trình tham gia những
chuyến điền dã trong nước Nhật và ở các nước khác, trong đó có Việt Nam, Chương
trình đặc biệt chú trọng lối đào tạo và nghiên cứu lý thuyết kết hợp với thực
hành và chia sẻ kinh nghiệm, tri thức giữa các quốc
gia.
[6]Trương
Đăng Tuyền
2012
[7] Từ
kết quả của những đợt thám sát, khai quật cùng với việc nghiên cứu một loạt các
di chỉ đồng dạng khác ở quanh khu vực như Bình Ba, Bình Hưng, Bãi Trủ, Đầm Già,
Bích Đầm (Khánh Hoà), Gò Ốc (Phú Yên), các nhà nghiên cứu thuộc Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam đã đi tới kết luận rằng, Xóm Cồn và các địa điểm nói trên hợp thành một
quần thể di tích chứa đựng những nét chung về đặc điểm nội dung văn hoá và niên
đại. Nhóm di tích này thuộc một nền văn hoá khảo cổ - văn hoá Xóm Cồn
(Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam -
Sở Văn hoá Thông tin Khánh Hòa, văn hoá
Xóm Cồn,1993).
Đặc trưng của Xóm Cồn là tính biển và đại dương nổi trội. Đồ đá chủ yếu là rìu
tứ giác, thon dài, đốc hẹp, gần với rìu, bôn tứ giác của văn hóa Đồng Nai. Công
cụ và trang sức làm từ vỏ nhuyễn thể rất phổ biến thể hiện đậm nét yếu tố biển
và cách thích ứng với điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái. Đồ gốm với cách
xử lý bề mặt và trang trí khá riêng, đó là văn chải chiếm ưu thế trong giai đoạn
sớm, giai đoạn muộn xuất hiện thêm văn thừng. Gốm vẽ màu và bôi màu tuy ít nhưng
độc đáo với hai màu nổi trội là vàng da cam và đỏ nâu. Xóm Cồn cũng cho thấy
những cộng đồng cư dân ở đây giai đoạn 4000 đến 3000 năm cách ngày nay đã khai
thác biển và đại dương một cách hiệu quả và có mối quan hệ giao lưu với những
nhóm cư dân trên dọc tuyến « black curren » nối giữa Đông Nam Á với Đông Á và
Đông Bắc
Á.
[8] Có
hai địa bàn chính của văn hoá Sa Huỳnh được các nhà nghiên cứu khái quát là Bắc
Sa Huỳnh và Nam Sa Huỳnh, ngoài ra còn có những không gian giáp ranh (vùng
biên) giữa văn hoá Sa Huỳnh với các văn hoá đồng đại khác. Bên cạnh chiều
kích không gian theo chiều Bắc Nam, văn hoá Sa Huỳnh còn được xác định theo
chiều kích không gian Tây-Đông với việc nhấn mạnh những yếu tố địa hình khu biệt
thành những dạng văn hoá Sa Huỳnh vùng núi, vùng đồng bằng duyên hải và biển
đảo.
[9]Ở
vùng Nam Sa Huỳnh (từ
Phú Yên đến Đồng Nai), chuỗi diễn tiến từ Xóm Cồn --- Xóm Cồn giai đoạn muộn
Bích Đầm, Bình Đa, Bình Hưng,
Hoà Vinh I đến Hoà Diêm/Hoà Vinh II… Tại địa bàn này có cả truyền thống I như
Diên Khánh, Mỹ Ca, nhưng chủ yếu lại là truyền thống II, nơi mà chum
hình
cầu áp đảo và mộ đất khá nhiều, đồ sắt ít hơn so với những địa điểm của truyền
thống I. Những địa điểm tiêu biểu là Hoà Diêm/Hoà Vinh II, Rừng Long Thuỷ, Cồn
Đình, Phú Hòa (Phú Yên)… Trang trí gốm kế thừa một phần của văn hoá Xóm Cồn, đặc
biệt là của giai đoạn muộn của văn hoá này (hoa văn in chấm với các đồ án độc
lập, thừng, tô/vẽ màu…), công cụ bằng vỏ nhuyễn thể tồn tại dai
dẳng. Táng thức dùng chum gốm làm quan tài kéo dài tới những thế kỷ sau Công
nguyên, nhiều loại hình gốm mới, trang trí lối in chấm áp đảo, trang trí trổ lỗ
và cắt hình hạt đậu, hình thoi khá phổ biến... Đặc biệt ở giai đoạn muộn của Hoà
Diêm đã xuất hiện chất liệu gốm tinh mịn màu trắng vàng, trắng xám, chất liệu
điển hình của gốm thời lịch sử
sớm…
[10] Từ
khi được phát hiện đến nay, bia Võ Cạnh được nhiều nhà nghiên cứu châu Âu và Ấn
Độ quan tâm cả về cổ tự học, văn bản học, chính trị học, lịch sử học và tôn giáo
học…Về nội dung và niên đại: bản dịch được coi là đầy đủ và chính xác nhất (cho
tới nay) là bản của Jean Filliozat năm 1969, cùng với bản dịch này còn có bài
nghiên cứu của Claude Jacques về cùng chủ đề. Theo Claude Jacques, chữ khắc từng
phủ trên ít nhất ba mặt của tấm bia này.
[11] Southworth
William 2001:
190-202
[12] Parmentier
1909: 111-32
[13] Về
phức hợp đền tháp Pô Nagar đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của học giả
trong và ngoài nước liên quan đến những vấn đề về cấu trúc, tính chất, kiến
trúc, điêu khắc và trùng tu tôn
tạo.
[14]Trương
Đăng Tuyển 2012



06:50
danillewoods7537368
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét