Lời
TẠM KẾT
Năm
nay, tròn 10 năm Thầy về cõi khác phiêu du khảo cổ văn hoá, lịch sử, trên dương
gian những tác phẩm, ý tưởng, câu chữ (và cả chuyển ngữ những thuật ngữ tiếng
Anh, tiếng Pháp...) của Thầy vẫn tiếp tục được tái bản, được tìm đọc, được trích
dẫn (và sử dụng mà không trích dẫn) trong nhiều lĩnh vực ngôn ngữ, lịch sử, văn
hoá, khảo cổ, tôn giáo...
Những
tác phẩm, bài viết của Thầy mà trong đó, quan trọng nhất là ý tưởng khoa học
khai mở, thách thức, đôi lúc đối nghịch (với những điều đã mặc định trong văn
liệu, giáo khoa, giáo trình ...) Những bài viết, kể cả bài viết theo đơn đặt
hàng, bài nói chuyện theo chủ đề, bài viết báo Tết... không bao giờ theo lối
mòn, bao giờ cũng có những vấn đề phải thảo luận, mở ra bàn thảo, những kết luận
mở. Ở khía cạnh nào đó Thầy làm chúng ta liên tưởng tới người nhạc sĩ tài hoa,
đôi lúc phải/cần viết bài hát theo đặt hàng nhưng độc đáo, đặc sắc và luôn hay
về giai điệu, ca từ, sống được với thời gian, tài năng không bị khuôn chế bởi
hoàn cảnh, điều kiện chủ quan/khách
quan.
Một
Toạ đàm Khoa học “Còn là TINH ANH” nhằm mục đích tổng kết, đánh giá, tìm hiểu
sức sống, sức lan toả của di sản Thầy Trần Quốc Vượng trong đào tạo và nghiên
cứu các vấn đề xã hội nhân văn Xưa và
Nay.
Có
bắt tay vào mới biết Di sản Học thuật Thầy Trần Quốc Vượng đa ngành, đa chiều,
học trò khắp mọi miền đất nước và không chỉ ở Việt Nam. Có những học trò lâu
năm, có những học trò trực tiếp nhưng không ít người chỉ một lần nghe Thầy, có
người chỉ đọc Thầy... dù bất cứ theo cách nào thì học trò của Thầy đúng theo
nghĩa “một chữ là thầy, nửa chữ là thầy”, ý tưởng và phong cách của Thầy theo
học trò toả đi muôn
phương.
Di
sản học thuật và Di sản cuộc đời Trần Quốc Vượng nói như một số người khó mà nói
hết, khó mà đánh giá hết tầm vóc và vị trí, vì đa ngành, đa lĩnh vực – Ý tưởng
khai phá/độc đáo/mở/ dự báo/thách
thức...
Di
sản Trần Quốc
Vượng
1. Khởi
đầu những môn học/những ngành học
mới
Cơ
sở Khảo cổ
học
Cơ
sở Văn hoá Việt
Nam
Lịch
sử Văn hoá Việt
Nam
Nghiên
cứu Liên Văn hoá Lịch
sử
Du
lịch
học...
Khu
vực học: Hà Nội học, Hội An học, Huế
học...
Trong
tất cả những ngành, những môn học trên điểm mấu chốt là mối tương quan chặt chẽ
giữa lý thuyết và thực tiễn, như cách nói bây giờ là khoa học ứng dụng, liên
ngành thực sự, nhuần nhuyễn, góc nhìn đa diện, khoa học khách quan tới mức có
thể, lịch sử, văn hoá... nhìn từ khía cạnh cá nhân, đời thường, dân gian, phi
chính thống... bên cạnh quan phương, khía cạnh phi quan phương được Thầy coi là
yếu tố quan trọng để nghiên cứu và đào tạo khoa học xã hội nhân văn ở Việt
Nam.
2. Học
thuật
Những
bài viết gửi đến Toạ đàm được chia thành nhiều chủ đề, nhưng những bài viết, bài
nghiên cứu của Thầy trên thực tế khó tách bạch rạch ròi giữa các lĩnh vực, lịch
sử chuyển tải địa lý, địa lý quyện vào lịch sử, văn hoá kết nối địa lý, lịch
sử... Những nghiên cứu của Thầy phản ánh một cách sắc nét quan điểm về một thời
kỳ học thuật Đa chiều và kết Mạng, ở nhiều góc độ Thầy đã thực sự đối thoại với
giới nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn khu vực và thế
giới.
Khảo
cổ: đặc trưng hệ sinh thái của mỗi văn hoá khảo cổ Hang động thung lũng Hoà Bình
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang”, “Cồn Bàu văn hoá Sa Huỳnh/tiền Sa Huỳnh Miền
Trung Việt Nam gió Lào cát trắng, Giồng Bưng miền đất của những dòng sông Đồng
Nai Vàm Cỏ Cửu Long “Đi trước về sau”, rồi những khái quát về văn hoá Châu thổ,
Giao thuỷ (nước lợ), đứng trước Biển, Dừng trước Biển, Hướng Biển, văn hoá Cảng
thị, Đô thị ngã ba sông, đô thị cửa sông ven biển, Mô hình cấu trúc tiểu
quốc/mandala Chămpa dọc sông..., những chuyên ngành khảo cổ học áp dụng lý
thuyết và phương pháp của Khảo cổ học
Mới...
Văn
hoá: Mô hình tam giác tính của một môi trường văn hoá từ quan hệ qua lại Con
người Tự nhiên Xã hội; Sơ đồ tứ giác nước của Thăng Long “Nhị Hà Quanh Bắc sang
Đông, Kim Ngưu Tô Lịch là sông bên này”; Sơ đồ DIỄN TRÌNH lịch sử văn hoá Việt
Nam; Quy hoạch những vùng địa văn hoá từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông cho đến
tinh thần Hỗn dung Văn hoá, Hỗn dung tín ngưỡng Tôn giáo; Vai trò vị thế của trí
thức Nho giáo với tất cả những trăn trở, ẩn ức, tính hai mặt của văn hoá và tính
cách Việt Nam. Triết lý lưỡng phân, lưỡng hợp: ba hằng số Nông dân-Nông
thôn-Nông nghiệp... Những lưu ý đánh giá khách quan và công bằng dựa trên dữ
liệu điều tra khảo sát về sự tham góp của những tộc người khác (bên cạnh người
Kinh (Việt) vào diễn trình lịch sử văn hoá Việt Nam, những cảnh báo về “Kinh già
hoá Thổ/Thổ già hoá Kinh” – đánh mất bản sắc văn hoá tộc người trong bối cảnh
công nghiệp hoá, hiện đại
hoá...
Lịch
sử: Ba dòng chảy/ba xu hướng văn hoá lịch sử chính trong thời Bắc thuộc và CHỐNG
Bắc thuộc; Đánh giá lại vị trí và vai trò của nhiều nhân vật lịch sử, giai đoạn
lịch sử dựa trên những sử liệu và quan điểm khoa học khách quan Những bài học từ
hiện tại đưa về quá khứ, từ quá khứ soi tới tương lai... những đánh giá lại thời
đại, nhân vật khi phải đặt từng sự việc/sự kiện và con người trong từng bối
cảnh, điều kiện xã hội, tự nhiên cụ thể, những quan điểm của duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử nhuần nhuyễn, những lý thuyết, phương pháp nghiên cứu hiện
đại...
.........
Một
TRƯỜNG PHÁI TRẦN QUỐC VƯỢNG cả trên hai phương diện Điền dã và Lý thuyết thực sự
đang hiện hữu dù còn chưa đủ mạnh như Thầy Trò mong ước và sẽ cần rất nhiều cố
gắng, nỗ
lực.
3. Thái
độ với Khoa
học
“Cái
gì của Xeda trả lại cho Xeda”, câu chuyện nghiên cứu thực địa/sử liệu những ông
vua lớn trong lịch sử Việt Nam như Lê Thánh Tông, Gia Long... về Thời Mạc, về
nhà Nguyễn, nhà Tây Sơn, thực địa văn hoá làng, thân phận của những bậc trí thức
Việt Nam xưa - những nhà Nho, lấy cái Xưa suy cái Nay và lấy cái Nay soi cái Xưa
...SỰ TRUNG THỰC – ĐẠO KHOA HỌC TRẦN QUỐC
VƯỢNG!
4. Một
Phong cách Trần Quốc
Vượng
Khó
có thể định hình thật chính xác như Thầy lúc sinh thời thường gật gù mọi thứ mơ
hồ, mọi ranh giới mơ hồ hơn ta
tưởng...
Phong
cách pha trộn giữa phong trần với trầm ưu/sâu sắc, ẩn sâu bên trong là sự uyên
bác ít ai bì kịp, đi và đọc với Thầy cần như khí trời hàng ngày hít thở. Một
thuật ngữ đưa ra trong nghiên cứu là kết quả của quá trình nghiền ngẫm “Diễn
trình lịch sử văn hoá “ mà không phải “Tiến trình”, “Thuỷ hệ” mỗi vùng miền vẫn
là thuỷ hệ nhưng khác nhau căn bản là ở cái “Thức” (Mode)... Trên đường điền dã
chỉ một dòng chữ trong tấm bia thôi cũng đủ để Thầy đang uống dở cốc bia để đó
mà tra cứu, hỏi han, chưa hiểu chưa tìm được thì lũ học trò xung quanh cứ liệu
chừng mà khi sáng ra rồi thì “các con ơi khóc lên đi...” và bia cứ thế mà rót
tràn.
Một
tấm gương học tập suốt đời: Học mọi lúc, mọi nơi, “đi đâu cũng hỏi đến ba, bốn
lần”, học Ta, học Tây, học Thầy, học bạn và học học trò, học
dân...
Một
phong cách truyền tải tri thức cho thế hệ tương lai ở đại học, một triết lý đại
học hiện đại, cập nhật – Tôn trọng người học, gợi mở và hướng người học tới tư
duy độc lập, phản biện “Con hơn cha là nhà có phúc, Trò hơn Thầy đức nước càng
dầy”. Và không chỉ truyền tải tri thức, truyền tải triết lý, Thầy là người
truyền LỬA, TÌNH YÊU và ĐAM MÊ cho các thế
hệ.
Một
tinh thần khoa học dấn thân, đậm tinh thần dân chủ và tính mở “Trong khoa học
không ai được quyền nói tiếng nói cuối cùng”! Dám NÓI SỰ THẬT, bảo vệ Sự Thật,
đặt lại Những Vấn đề đã trở thành MẶC ĐỊNH, nêu VẤN ĐỀ từ những điều tưởng chừng
rất vụn vặt, không điều gì trong quá khứ mà không quan trọng đối với người
nghiên
cứu!
Di
sản của một người Thầy để lại chính là những học trò và cái cách mà họ sử dụng
những tri thức của Thầy họ để truyền lại cho thế hệ tương
lai.
Di
sản của mỗi nhà khoa học để lại là công trình nghiên cứu, trong những công trình
nghiên cứu cái đặc biệt quan trọng là ý tưởng khoa học, trong những ý tưởng khoa
học điểm mấu chốt chính là mức độ gợi mở và dự báo – nền tảng cho những nghiên
cứu kế
tiếp.
Di
sản của nhà giáo, nhà khảo cổ, nhà văn hoá... Trần Quốc Vượng nối dài từ quá khứ
đến hiện tại và tới tương
lai.
Cuộc
toạ đàm ngày hôm nay tạm đóng nhưng như tinh thần của Thầy không khép lại, di
sản học thuật, di sản cuộc đời Trần Quốc Vượng đã, đang và sẽ được mang theo
trong mỗi học trò, học trò của học trò... một chút, một chút... di sản đó mỗi
lúc được bồi đắp và toả
đi.
Khi
Thầy mất, những đồng nghiệp và học trò của Thầy ở khoa Sử....bànluận với nhau,
Trần Quốc Vượng sống vĩ đại MỘT, khi mất vĩ đại
MƯỜI.
Một
học giả nước ngoài ,một người đã làm Luận án Tiến sĩ về Chămpa, TS. William
Southworth đã nói về Trần Quốc Vượng khi Thầy mất rằng người ta (học giả nước
ngoài) còn lâu mới đánh giá được hết giá trị của Trần Quốc
Vượng.
Học
trò chúng ta vẫn đang
NỢ
1. Quá
nhiều vấn đề không thể/không dám nói, nghiên cứu, Thầy đưa ra cần tiếp tục mà
rồi chưa được giải quyết rốt ráo, cả phương diện lý thuyết, cả thực tiễn, những
cuộc khảo sát tổng hợp liên ngành càng ngày càng ít, những mối quan hệ tình cảm
và học thuật giữa những người làm nghề KHXHNV với những ngành nghề KHTN KT vẫn
có nhưng thật sự không gắn kết sâu đậm, thiếu nhiều những mối quan hệ, những bài
viết như kiểu Trần Quốc Vượng Mai Đình Yên, Trần Quốc Vượng Đào Thế Tuấn, Trần
Quốc Vượng Trần Từ... Nhiều vấn đề lịch sử... vẫn còn đó cần những chứng cứ để
ủng hộ kể cả không ủng hộ những ý tưởng của Thầy, và rất cần những tiếng nói
tham gia thảo luận đánh giá về những vấn đề khoa học của Thầy Trần Quốc Vượng
được Tạ Chí Đại Trường, Lê Minh Khai... đưa ra trong một số bài viết của
họ.
2. Vẫn
còn những người trẻ nghiên cứu, đọc sách chưa đủ và thấu đáo, Ngoại ngữ chưa đủ
độ, đủ trình... Những trăn trở về đào tạo XHNV ... vẫn còn đó... Đặc biệt về một
triết lý Đại học Hiện
đại.
3. Những
bài của Thầy nhiều CÂU HỎI hơn TRẢ LỜI, của chúng ta hình như NGƯỢC
lại.
Nhưng,
chúng ta vẫn có quyền hy vọng về sự tiếp nối và phát huy di sản học thuật, di
sản cuộc đời Trần Quôc Vượng, nhiều bài tham gia Toạ đàm của cán bộ trẻ đã cho
thấy, dù không phải là học trò trực hệ của Thầy, nhưng họ thật sự đã đọc Thầy
một cách thấu đáo, trăn trở với những vấn đề Thầy đưa ra và bắt đầu dùng những
hiểu biết của mình (mà họ học được từ bên trong và bên ngoài) để tiếp cận, tiếp
thu và phản
biện.
Để
cuộc TOẠ ĐÀM hôm nay diễn ra suôn sẻ và thành công BTC chúng tôi xin được bày tỏ
một số điều như sau theo đúng tinh thần của Thầy Trần Quốc Vượng “Làm ơn không
nên nhớ, chịu ơn không nên
quên”:
Ý
tưởng về tưởng niệm 10 năm ngày mất của GS. TQV được TS. Nguyễn Hồng Kiên (Viện
Khảo cổ học) đề đạt với Bộ môn Khảo cổ học, sau đó là sự nhất trí cao của BCN
Khoa Lịch sử, của Trường, sự hỗ trợ nhiều mặt của nhiều thế hệ học trò gần xa,
của các cán bộ BM KCH, cán bộ Khoa Lịch sử, Bảo tàng Nhân học, của một số cơ
quan, viện nghiên cứu ... Học trò nhiều thế hệ xa gần, nổi danh, bình thường,
tính cách, số phận, nhiều đường đời.... (như Thầy thường
nói đời
sống là thế “bá nhân, bá tánh” với tinh thần “khoan nhượng”, “khoan hoà” văn
hoá) đều
hướng về Thầy Trần Quốc
Vượng.
Người đặt tên cho Toạ đàm chính là một học trò thế hệ con cháu, một TS trẻ, phó chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học, Đặng Hồng Sơn, dựa theo tên một bài viết của PGS.TSKH. Nguyễn Hải Kế khi Thầy Trần Quốc Vượng mất.
Người đặt tên cho Toạ đàm chính là một học trò thế hệ con cháu, một TS trẻ, phó chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học, Đặng Hồng Sơn, dựa theo tên một bài viết của PGS.TSKH. Nguyễn Hải Kế khi Thầy Trần Quốc Vượng mất.
BTC
đặc biệt cám ơn những cán bộ trẻ của Khoa Lịch sử, Bộ môn KCH, Bộ môn VHH và Bảo
tàng Nhân học: TS. Đặng Hồng Sơn, Th.s. Đoàn Văn Luân, Th.s. Nguyễn Văn Anh,
Th.s. Nguyễn Hoài Phương... và một số sinh viên Khoa Lịch
sử.
BTC
xin được thứ lỗi về những sai sót.
Lâm Thị Mỹ Dung



02:17
danillewoods7537368
0 nhận xét:
Đăng nhận xét