Các thương nhân Nusantao* bên ngoài Đông Nam
Á
Willhelm G. Solheim
II
Người dịch: Hà Hữu Nga
Khoảng 10 năm trước đây tôi đã đề xuất khái
niệm Nusantao cho những người nói tiếng Austronesian [Solheim 1975a: 158] với
ngụ ý rằng họ và ngôn ngữ của họ đều bắt nguồn từ ĐNA (Đông Nam Á). Trong bài
này, tôi đặc biệt dành để nói về thương mại biển của những người Nusantao với
các vùng ngoài ĐNA, mà tôi coi là khu vực ven biển Trung Quốc từ vùng nam sông
Dương Tử, là một phần của ĐNA như trước đây tôi đã đề cập [Solheim 1973; 1975b;
1979a,b; 1980; 1984a,b…].
Tôi nghĩ rằng lẽ ra tôi đã đưa ra được một
trường hợp điển hình về thương mại biển của người Nusantao với những vùng ngoài
ĐNA của những người ĐNA, và không liên quan tới khu vực bên ngoài thì cũng có
thương mại giữa ĐNA và các vùng không phải ĐNA. Để chứng tỏ thương mại với các
vùng ngoài ĐNA do các thương nhân Nusantao tiến hành thì cần phải chỉ ra các
thương nhân này đã nói một thứ tiếng Austronesian. Tôi tin rằng tôi có thể trình
bày tương đối trực tiếp các bằng chứng cho một số tiên đề trên và không trực
tiếp nhưng lại là bằng chứng ủng hộ cho những tiên đề
khác.
Thương mại biển sớm ở
ĐNA
Chứng cớ rõ ràng nhất về thương mại biển ở ĐNA
vào thiên niên kỷ I TCN (trước công nguyên), là sự phân bố của các đồ trang sức
hai đầu thú và ling ling - o bằng ngọc.
Các khuyên tai (có thể) này cũng rất khác nhau và các đồ trang sức hai đầu cũng
quá hiếm hoi. Sự hiện diện của chúng ở đảo Orchid (Botol Tobago) ngoài khơi cực
nam Đài Loan, ở Palawan, Philippines, tại một vài di chỉ Trung và Nam Việt Nam
và gần U Thong, Trung Thái Lan, tối thiểu cũng biểu hiện sự tiếp xúc đường biển
giữa các vùng này. Ngọc ling ling-ocũng được phát hiện ở
chính những vùng đó cũng như tại thung lũng Cagayan Bắc Luzon và Batagas gần
Manila ở Philippines, ở hang Niah tại Sarawak và ở vùng ven biển trung tâm phía
đông Thái Lan. Những phân bố đầu tiên cho thấy một niên đại khoảng 700 – 200 năm
TCN. Một số nhà khảo cổ đã viết về các đồ trang sức này [Davidson 1975, Fontaine
1980, Fox 1970, Kaneko 1983, Loofs-Wissowa 1980, 1981; Solheim 1982, 1982-3, Tan
and Trinh 1977, You-di 1978, Glover 1990]. Chúng ta cần thực hiện một số phân
tích về ngọc chế tác các đồ trang sức này để xem chúng đến từ một hay nhiều
nguồn, nguồn đó ở đâu.
Sự phân bố rộng rãi của truyền thống gốm Sa
Huỳnh – Kalanay lần đầu tiên khiến tôi suy nghĩ về một nền văn hóa biển ở ĐNA
[Solheim 1964a, 204]. Ý tưởng về sự phổ biến của truyền thống gốm này thông qua
sự di cư của một nền văn hóa duy nhất đã dần dần làm thay đổi về ý tưởng rằng nó
đã được người Nusantao phổ biến, không phải với tư cách là một mặt hàng, mà là
các thương nhân đã mang thông tin về loại gốm đó từ vùng này tới vùng khác. Các
loại gốm khác cũng như vậy. Những đồ đựng bằng đất nung đặc trưng từ một di chỉ
trên một hòn đảo phía đông bán đảo Thái Lan [Solheim 1964b, 201-202] rất giống
với đồng loại của nó ở Philippines (di chỉ hang Kalanay) mà chúng đã được làm
bởi cùng một nhóm thợ gốm. Tôi cho rằng niên đại của các di chỉ này là khoảng
2000 năm cách ngày nay. Nơi nào có đồ ngọc ling ling-ovà đồ
trang sức hai đầu thấy ở Philippines, Sarawak và Việt Nam đã được biết thì đều
thấy gốm thuộc truyền thống Sa Huỳnh – Kalalay.
Cách đây đã lâu, H. Otley Beyer [1948] đã lưu
ý về tính chất gần gũi của những chiếc bôn nấc đặc trưng và mũi lao có chuôi
được mài bóng ở trung Luzon Philippines, vùng biển Nam Trung Quốc xung quanh
vùng Hồng Kông và Đài Loan. Chúng ta có thể thêm Bắc Việt Nam vào các vùng này
và có thể gán các mũi lao tam giác đáy lõm vào đó, ngoại trừ Philippines. Hiện
tượng phân bố này có lẽ xảy ra vào khoảng cuối thiên niên kỷ II TCN và đầu thiên
niên kỷ I TCN dù rằng chúng ta chưa suy nghĩ được kỹ về nguồn gốc của nó, trừ
trường hợp bôn có nấc. Một chiếc bôn có nấc tìm được tại Shamwan (Thâm Loan)
Hồng Kông cùng các hiện vật trung kỳ đá mới có niên đại là 3500 – 2500 năm TCN
(Meacham 1976-78, 37). Điều đó không biểu hiện riêng về thương mại, mà nó gợi
lên các mối tiếp xúc gần gũi giữa các vùng chứ không phải là các tương đồng này
là do di cư.
Tiếp xúc và thương mại với phương
Bắc
Tôi không tin rằng trong thời gian này lại có
thể có thương mại (trao đổi) mạnh mẽ giữa ĐNA và Triều Tiên/Nhật Bản vào thiên
niên kỷ I TCN, nhưng tôi tin là có thể chỉ ra một giai đoạn dài tiếp xúc giữa
hai vùng đó mà không thấy những dấu hiệu về di cư. Một giai đoạn tiếp xúc lâu
dài không có di cư có thể được lý giải bằng hoạt động thương mại ở mức độ tương
đối thấp và đa dạng. Tiếp xúc giữa Nhật Bản – Triều Tiên và ĐNA được gợi ý bởi
sự có mặt của những hiện vật đặc trưng ở một hoặc nhiều nơi trong cả hai vùng
vào gần như cùng một thời gian với những loại hình rõ ràng là do tổ tiên truyền
lại trong một vùng chứ không phải là vùng kia.
Tiền sử Triều Tiên vẫn chưa được biết nhiều.
Có những hoạt động đáng kể nghiên cứu khảo cổ học tiền sử của các nhà khảo cổ ở
cả bắc và nam Triều Tiên, nhưng lại có tương đối ít các xuất bản phẩm về các
hoạt động này bằng tiếng Anh. Cái gọi là giai đoạn “Đá mới” ở Triều Tiên với gốm
và các công cụ đá mài như Văn hóa gốm hình kỷ hà, hoặc văn chải, nhưng lại không
có các dấu hiệu về nông nghiệp. Nói chung gốm có miệng rộng, đáy tròn nhỏ hoặc
nhọn. Bắt đầu vào khoảng trước 4000 năm TCN, chúng tiếp tục tới khoảng 1000 năm
TCN. Nhìn chung người ta có cảm tưởng rằng sự hiểu biết về loại gốm này cũng như
người chế tạo ra nó có nguồn gốc từ miền Bắc và miền Tây [Kim Jeong-Hak 1978,
10-52]. Mới đây gốm sớm hơn loại gốm văn chải đã được phát hiện tại miền Nam, ở
di chỉ Tongsamdong, sau đó được tiếp tục bởi gốm văn chải. Gốm trang trí văn
chắp thêm này được định niên đại khoảng 5000 năm TCN và tương đồng với loại gốm
sớm nhất tại Nhật Bản, trên đảo Kyushu liền kề [Kim, Wong-yong 1983,
10-19].
Giai đoạn tiếp theo được gọi là Văn hóa Gốm
mộc thuộc thời đại Đồ đồng, nhưng có lẽ gồm hai hoặc ba văn hóa. Có hai loại gốm
mộc khác nhau. Một loại có những loại hình miệng rộng giống như loại gốm sớm
hơn, nhưng có đáy nhỏ và bằng chứ không phải là đáy nhọn và rất ít được trang
trí. Gốm đỏ miết láng thì rất khác nhau với miệng hẹp, mép miệng thường cao và
đáy tròn, phẳng hoặc có chân đế thấp. Cả hai loại gốm thường được phát hiện
trong các di chỉ mộ đá bên dưới các dolmen hoặc
với các mộ vò đôi. Các hiện vật kèm theo là những chiếc bôn có nấc với những
biến thể khác nhau, các con dao đá hình bán nguyệt, các đĩa đá được khoan ở
giữa, những mũi lao tam giác đáy lõm, các mũi nhọn có chuôi tra cán và các lưỡi
dao găm đá được mài. Phức hợp này kèm theo việc đưa lúa vào Triều Tiên vào
khoảng 1000 năm TCN [Kim Jeong-Hak 1978, 53-117]. Ngẫu nhiên các hiện vật bằng
đá hình bàn chân và gốm in đập cũng được phát hiện cùng phức hợp này. “Văn hóa”
này có niên đại cuối thiên niên kỷ II đến thế kỷ IV hoặc III
TCN.
Chúng ta có thể đi xa hơn thế. Tại di chỉ
O-Luan-Pi, cực nam Đài Loan, từ giai đoạn văn hóa III có niên đại carbon phóng
xạ là 2730 ± 120 năm TCN đã phát hiện được các mộ quan tài đá, các hiện vật đá
hình bàn chân, gốm bàn đập tô màu đỏ, đồ gốm màu hơi đỏ, đĩa đá khoan thủng hình
chữ nhật hoặc hình bán nguyệt [Li 1983, 80; Sung 1967, 45] với một số loại hình
gốm tương tự với loại hình gốm đỏ miết láng của Triều Tiên. Một số yếu tố văn
hóa thường xuyên được thấy ở O-Luan-Pi và giai đoạn gốm đỏ của Feng Pi Tou ở Tây
Nam Đài Loan. Cùng với đồ gốm đỏ mịn ở Feng Pi Tou là các hiện vật bằng đá hình
chân, các dao đá hình bán nguyệt [Chang 1969, fig 35-37], các mũi lao đá có
chuôi tra cán, các đãi đá có khoan lỗ ở giữa và có lẽ cả những con dao găm đá.
Tại Bắc Đài Loan, đè lên lớp thuộc giai đoạn gốm đỏ mịn miền Nam, văn hóa
Yuan-shan bao gồm những chiếc bôn có nấc giống bôn có nấc Triều Tiên, những
chiếc mũi lao mài, đế lõm hình tam giác và những đĩa đá khoan lỗ ở giữa. Các mộ
vò đôi được phát hiện ở Nam Đài Loan, nhưng lại hoàn toàn muộn, có niên đại 1170
± 145 năm CNN (cách ngày nay). Các mộ vò đúp muộn hơn và sớm hơn được phát hiện
ở các đảo Batanes và Babuyan giữa Đài Loan và Luzon ở Philippines. Mộ vò thường
thấy ở các di chỉ có gốm Sa Huỳnh – Kalanay và quay lại trước 1000 năm TCN ở
Palawan, Philippines [Fox 1970, 67; Solheim 1982, 44, 47]. Nhiều khuyên tai hai
đầu thú và ling ling-o bằng ngọc và ngọc bích
được phát hiện trong các hang đá có mộ vò ở Palawan [Fox 1970, 125-29]. Những
biến thể sớm của ling ling-o bằng ngọc được làm
từ một loại ngọc địa phương đã được phát hiện từ những ngôi mộ được kè bằng
những phiến đá mỏng ở Peinam, Đông Nam Đài Loan, có niên đại 1000 năm TCN [Sung,
thông tin riêng; Soheim 1982-3]. Một con dao rất giống với con dao bán nguyệt
được phát hiện ở Thâm Loan, Hồng Kông, trong một kho chứa có những mũi lao đá
được mài bóng, đế lõm hình tam giác [Bard 1974, 13].
Giai đoạn Jomon ở Nhật Bản kéo dài từ 11.000
năm TCN đến 3000 năm TCN. Phương thức sống săn bắn và hái lượm, chủ yếu tập
trung vào sản phẩm biển dọc theo các bờ biển được thiết lập vào khoảng 7000 năm
TCN và tiếp tục với đôi chút thay đổi công nghệ cho tới gần điểm kết thúc của nó
[Aiken and Higuchi 1982: 183; Chard 174: 141]. Có một cách chia Jomon thành các
giai đoạn như sau: Phôi thai, Khởi đầu, Sớm, Giữa, Muộn, và Kết thúc. Những biến
đổi xã hội và phong cách bắt đầu tăng tốc vào giai đoạn Jomon muộn (2500 – 1000
năm TCN) và bắt đầu đặc biệt mạnh vào Jomon kết thúc (1000 – 300 năm TCN; Aiken
and Higuchi 1982: 156-86). Một số ít loại hình gốm phát triển trong giai đoạn
Jomon muộn không có các tiền đề từ gốm Jomon riêng biệt từ 9000 năm trước. Một
loại hình vòng tay đặc biệt đã được phát hiện tại Kyushu mà sau này đã được trao
đổi rộng rãi hơn, có lẽ là từ một nguồn thương mại biển ngoại quốc [Hayashi n.d:
9]. Loại vòng tay này được làm bằng một loài hai mảnh vỏ hoặc một
loại lambis thấy ở người Ryukyus miền nam Nhật
[Takamiya 1983: 57], và được phát hiện ở O Luan Pi Nam Đài Loan [Sung et.al.
1967: pl.20]. Tôi không hề thấy loại vòng tay này ở bất cứ nơi nào khác. Lúa
xuất hiện đầu tiên tại Kyushu vào cuối Jomon muộn, vào khoảng 1000 năm TCN
[Akazawa 1983: 5-6]. Trong giai đoạn Jomon Kết thúc, nhiều loại hình gốm mới đã
xuất hiện với các mô thức trang trí hoa văn khắc vạch mới, mà nhiều loại được
làm bằng một vật cuộn xoắn cong liên động. Một cặp hai
cái magatama 八尺瓊曲玉 [bát
xích quỳnh khúc ngọc] buộc vào nhau
trông rất giống những chiếc khuyên tai cùng ngọc ling
ling-o ĐNA đã được phát hiện trong tập hợp Jomon Kết thúc trong
một di chỉ Honshu Nam Trung. Jina Barne đã thong báo rằng việc thắt hai
chiếc magatamatheo cách này đã xuất hiện sớm hơn nhiều so
với giai đoạn Jomon Kết thúc.
Giai đoạn Yayoi ở Nhật Bản tiếp nối Jomon
thường được định niên đại từ 200 – 300 năm TCN đến 300 năm SCN (Sau công nguyên)
có niên đại C14 đi cùng với tập hợp gốm lên tới khoảng 700 năm TCN. Bước vào
giai đoạn Yayoi đã có một phong cách gốm mới và nông nghiệp lúa nước dựa vào
việc canh tác các ruộng ngập nước, những con dao đá hình bán nguyệt, khung cửi
dệt, con lăn cọc sợi bằng đĩa đá có khoan lỗ ở giữa và tại các dolmen Kyushi,
các mộ đá, mộ vò đôi và các lưỡi dao găm bằng đá mài.
Nhiều học giả Nhật Bản nhận thấy rằng gốm
Yayoi là một tiến hóa trực tiếp từ gốm Jomon Giai đoạn Kết thúc. Tôi đồng ý với
quan điểm này, miễn là chúng ta chấp nhận một ảnh hưởng chủ yếu từ gốm mộc Triều
Tiên, Yayoi bắt đầu ở Bắc và Tây Kyushu và phát triển từ đó tới Kyushu và về
phía đông bắc tới Shikoku và Honshu. Gốm Yayoi sớm nhất Itatsuke I , ở Fukuoka,
bắc Kyushu và có lẽ ảnh hưởng bởi gốm mộc Karak-ni nam Triều Tiên (Kim,
Jeong-hak 1978: 93) và điều đó cũng đúng với cả những hiện vật không phải gốm
[Kaneko 1964: 26-9]. Dolmen Nhật Bản đầu tiên được phát hiện ở tây bắc Kyushu và
rất giống các dolmen Nam Triều Tiên. Chúng cũng được phát hiện cùng mộ vò đôi,
các mộ đá và các hiện vật giống ở Nam Triều Tiên, gồm lưỡi dao găm đá và một đồ
gốm văn in bàn đập giống gốm Đài Loan, Nam Trung Quốc và Bắc Việt
Nam.
Có nhiều yếu tố văn hóa vật chất đến Nam Triều
Tiên và Bắc Nhật Bản, bao gồm văn hóa lúa nước trong nửa cuối của thiên niên kỷ
II và nửa đầu thiên niên kỷ I TCN có nguồn gốc từ ĐNA. Sự tiếp xúc chặt chẽ giữa
Triều Tiên và Nhật Bản được tiếp tục trong nhiều thế kỷ. Nhìn lại từ các tư liệu
lịch sử sớm nhất ở Nhật Bản và Triều Tiên (việc lý giải các tư liệu này còn gây
tranh luận) chúng ta sẽ thấy một khả năng là giai cấp quí tộc Nhật Bản đã đến từ
Nam Triều Tiên vào giai đoạn Yayoi muộn hoặc Kofun sớm (giai đoạn kế tiếp ở Nhật
Bản). Wa [“nhà nước” Hòa quốc đầu tiên ở Nhật Bản theo sử liệu của Trung Quốc là
240 SCN], bao gồm góc tây bắc Kyushu và các đảo Iki, và Tsushima. Có mối quan hệ
gần gũi với những người sống ở Nam Triều Tiên. “Có lẽ đã rõ là vào giai đoạn Hòa
quốc đó, chính văn hóa Yayoi nói chung đã phát triển từ vùng biển phía nam Triều
Tiên qua Kyushu hướng về phía đông tới vùng Kinai…Về cơ bản đó là một vùng được
liên hệ với nhau bằng đường thủy, không có đường bộ, và một trong những cảnh
quan thông thường nhất là người ta đi lại bằng thuyền (như thấy trong một số bức
tranh tường trong mộ ở Kyushu). Đó là một quốc gia biển…[Ledyard 1975:
231].
Nhật Bản, theo con đường Kyushu tiếp xúc liên
tục với nam Triều Tiên từ Giai đoạn Jomon Kết thúc ít nhất là cho đến thế kỷ V
SCN [Edward 1983: 288-91]. Cả tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên đều thuộc ngữ hệ
Antai. Thậm chí trong biểu hiện chung đó cũng có ít sự đồng ý giữa các nhà ngôn
ngữ Triều Tiên và Nhật Bản [Miller 1976], trong khi cho rằng tiếng Nhật là ngôn
ngữ Antai thì dường như lại đồng ý với Murayama rằng có những cội rễ
Malayo-Polynesian trong ngôn ngữ Nguyên-Triều Tiên – Nhật Bản. Một phàn của vấn
đề là ở chỗ có một sự hòa trộn tiếng Nam Đảo quá lớn, vì vậy, một số người cho
rằng tiếng Nhật là một ngôn ngữ pha trộn [Murayama 1976: 427]. Murayama cho
rằng: “Khi ai đó đọc lại công trình của Martin về vấn đề này thì sẽ bị sốc bởi
sự hiện diện của các yếu tố Malayo-Polynesian trong vốn từ vựng của cả hai ngôn
ngữ này mà ông đã so sánh”. Murayama dẫn Nicolas Pope “…vị lão thành trong số
các học giả về ngôn ngữ Antai. Tiếng Nhật là một thứ ngôn ngữ lai, bao gồm tiếng
Malayo-Polynesian, Antai và ngôn ngữ khác, các thành tố không xác định…vấn đề
các ngôn ngữ lai không thể được thảo luận ở đây, dù hoàn toàn có thể tiếng Nhật
đã có một cơ tầng Malayo-Polynesian”. Trong một bài báo khác, Murayama nói: “…về
giải pháp quan hệ di truyền của tiếng Nhật cả hai cách tiếp cận Antai và
Malayo-Polynesian đều cần thiết. Và một vấn đề tương tự có thể nói, liên quan
đến việc nghiên cứu so sánh tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên”. Djarygasinova
[1964, 8] trong một bài viết về nguồn gốc của tiếng Triều Tiên đã nói: “Sự tồn
tại của các mối quan hệ xác định được chỉ rõ bởi các song hành ngôn ngữ Triều
Tiên và Indonesian (trong đó có một loạt gồm các ngữ vựng liên quan đến văn hóa
lúa gạo”.
Căn cứ vào các trình bày trên, tôi cho rằng sẽ
là có lý khi giả định sự tiếp xúc với Nhật Bản bởi các thương nhân Nusantao từ
phía nam trong khoảng thời gian từ thiên niên kỷ II TCN đến giữa thiên niên kỷ I
SCN. Giả thuyết này rõ ràng cần được kiểm tra. Trong khi tôi tập trung vào các
yếu tố văn hóa được đem từ vùng đông bắc ĐNA tới Triều Tiên và Nhật Bản thì cũng
có những yếu tố hoàn toàn rõ ràng được chuyển đi theo hướng khác. Các mũi lao
tam giác đế lõm có một truyền thống lâu dài ở cả Nhật Bản và Triều Tiên, trong
khi lại hoàn toàn có loại đó ở ĐNA trước khi nó xuất hiện ở Đài Loan và vùng ven
biển Nam Trung Quốc, trừ trường hợp văn hóa Toalian ở Nam Sulaweisi. Các mũi lao
tam giác chế từ mảnh tước đá có đáy lõm đã được phát hiện tại di chỉ Jomon sớm
nhất ở Natsushima trước 7000 năm TCN. Muộn hơn, ở Triều Tiên, loại này phát hiện
được cả bằng mài lẫn ghè đẽo. Các mũi lao có cán thấy cả ở miền bắc lẫn miền nam
sớm hơn 1000 năm TCN, vì vậy loại mũi lao được mài có lẽ là sớm nhất ở Triều
Tiên, và sau đó được đưa tới Nhật Bản và xuống phía nam. Sự xuất hiện đột ngột
của nó ở cả Triều Tiên và Nhật Bản cùng với nền nông nghiệp lúa nước đã gợi ý về
điều khác nữa.
Tiếp xúc và buôn bán với phía
Tây
Buôn bán trên biển của các thương nhân
Nusantao với phía tây ĐNA thì không khó thể hiện khi sử dụng cách tiếp cận khác
với cách giả thuyết hóa việc buôn bán với phía bắc. Ai cũng biết rằng Madagascar
đầu tiên được cư chiếm bởi những người nói tiếng Indonesian [Valette 1965]. Mối
liên hệ với Indonesian có thể được thể hiện cả ở phương diện văn hóa lẫn ngôn
ngữ. Vẫn có một vài vấn đề chẳng hạn như có phải đợt di cư đến Madagascar đầu
tiên xảy ra khoảng 2000 năm hoặc 1000 năm trước và có phải chỉ có một giai đoạn
duy nhất hay hai giai đoạn vận động đến đó [Poirier 1982, 99-104; Ottino 1974:
16; Solheim 1975c, 179-80]. Piere Verin cho rằng những người đầu tiên đến
Madagascar là các thương nhân, cũng như tôi nghĩ, nhưng có một điểm bất đồng.
Tiếng Malay và tiếng Swahili sau tiếng Arab cho tới thế kỷ này vẫn là những ngôn
ngữ được sử dụng rộng rãi nhất ở người Hadramaut [Ottino 1974: 36]. Theo bờ biển
phía tây Ấn Độ, những người Indonesian thường xuyên có mặt, từ các thế kỷ IV – V
với một truyền thống Indonesian phi Ấn và sau sự phát triển của Srivijaya với
một truyền thống Ấn – Indonesian, và sau thế kỷ XIII – XIV với một truyền thống
Hồi – Indonesian [Ottino 1974: 37]. Trước đây tôi đã bình luận về tính chất
tương đối hiếm các dữ kiện KCH ở Madagascar để nói về nguồn gốc Indonesia
[Solheim 1975c].
Câu hỏi: Thương nhân Nusantao tới Ấn Độ sớm
đến mức nào vẫn còn để mở. Tôi đã giả thuyết rằng họ tới bờ biển Ấn Độ gần
Madrad vào khoảng 1000 năm TCN. Alastair Lamb [1965: 88-91,124] đã lưu ý đến
việc chế tác một số lượng lớn hạt chuỗi gần Cambay và Madrad. Đó là các hạt
chuỗi mã não sớm hơn 1000 năm TCN, và vẫn tiếp tục được sản xuất cho đến ngày
nay. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng họ bắt đầu chế tác các loại hạt chuỗi mới ở Ấn
Độ trước hết là các hạt chuỗi thủy tinh một màu, sau đó thì nhiều màu, bắt đầu
với hạt chuỗi mã não theo một trật tự xuất hiện giống như ở ĐNA. Tôi hiểu rằng
có một số địa điểm ở Ấn Độ có những hạt chuỗi được làm giống nhau trong một thời
gian dài. Nguồn gốc của các hạt chuỗi này ở ĐNA, cho đến khi chúng bắt đầu được
chế tác tại địa phương thì không nhất thiết phải gần Madrad. Chúng ta cần có các
phân tích hóa học và thạch học về nhiều loại hạt chuỗi sớm để định vị những
nguồn khác nhau.
Tôi đã từng nghiên cứu sơ bộ các nền văn hóa
biển ở Ấn Độ và thấy rằng không có những truyền thống biển phát triển ở đó. Họ
chỉ đánh cá ven bờ cho đến thời Chola. Các truyền thống lịch sử Malay sớm đã cho
thấy có những cuộc liên hôn nhân giữa quý tộc Malay và Chola chỉ từ 1000 năm
SCN. Điều đó cho thấy có những mối quan hệ sớm hơn giữa hai vùng, và có lẽ cơ
sở, nguồn gốc của cường quốc biển Chola là người Malay. Đến khi những người Arab
can dự mạnh hơn vào thương mại Trung Quốc, tôi nờ rằng buôn bán trên biến Ấn Độ
Dương chủ yếu nằm trong tay thủy thủ, hàng hải và thương nhân người
Nusantao.
____________________________________
Nguồn: Willhelm G. Solheim II
1985. Nusantao traders beyond Southeast Asia,
in Research Conference on Early Southeast
Asia (Proceedings of the Conference, Bangkok and Nakhon
Pathom, April 1985), ed. In press.
Tác giả: Willhelm G. Solheim II là một nhà nhân học
Mỹ, chuyên về khảo cổ học Đông Nam Á, đặc biệt là khảo cổ học tiền sử Philippine
và Đông Nam Á. Solheim II bắt đầu theo nghề Khảo cổ học tại Đại học Berkeley,
California, sau đó thực tập tại Đại học Philippines dưới sự hướng dẫn của Giáo
sư H. Otley Beyer, hoàn thành luận án Tiến sĩ tại Đại học Arizona năm 1959. Sau
khi nghỉ hưu, ông là Giáo sư Danh dự của Khoa Nhân học, Đại học Hawaii at Manoa,
từ 1991.
* Ghi chú của người
dịch:
Để khỏi nhầm lẫn các khái niệm
Malayo-Polynesian hoặc Austronesian với thuật ngữ Nusantao của Solheim, cần nhớ
rằng Nusantao là một từ ghép tiếng Nam
Đảo: nusa là đảo,
còn tau/tao là người, vì vậy nghĩa khái quát
của cái tên này là “người dân các đảo”. Vì vậy Austronesian và Nusantao không
thể sử dụng thay thế cho nhau được, khi Solheim đã thay đổi định nghĩa cũ để
loại người nói tiếng Nam Đảo nhưng lại không phải là những người đi biển ra,
nhưng lại bao gồm những người đi biển, nhưng không nói tiếng Nam Đảo vào tên gọi
Nusantao: “Giờ đây tôi định nghĩa Nusantao là những dân bản địa Đông Nam Á, và
con cháu họ, có một nền văn hóa định hướng biển ngay từ những buổi đầu, những
buổi đầu ấy có thể ở vùng đông nam của ĐNA hải đảo vào khoảng 5000 năm TCN hoặc
có thể sớm hơn”. [Solheim, Wilhelm G. II. 2006. Archaeology and
Culture in Southeast Asia: Unraveling the Nusantao. Quezon City: The
University of the Philippines Press.]
Tài liệu dẫn
Aikens , Melvin C. and Takayasu Higuchi
1982. Prehistory of Japan. New York Academic
Press.
Akazawa, Takeru 1983. An
Outline of Japanese Prehistory, in Recent Progress in
Natural Science in Japan 8: 1-11.
Bard S.M. 1974. Sham Wan,
Phase III, Plot 3. Journal of the Hong Kong Archaeological Society 5:
9-13.
Beyer H. Otley
1948. Philippine and East Asian archaeology, and its relation
to the origin of the Pacific Islands population. National Research Council
of the Philippines, Bull. No. 29.
Chang kwang - chih 1969. Feng Pi Tou, Ta Pen Keng and the Prehistory of Taiwan. New Haven; Yale Publications in Anthropology.
Chang kwang - chih 1969. Feng Pi Tou, Ta Pen Keng and the Prehistory of Taiwan. New Haven; Yale Publications in Anthropology.
Chard, Chester S.
1974. Northeast Asia in Prehistory. Madison: The University
of Wisconsin Press.
Davidson, Jeremy H.C.S.
1975. Recent archaeological activity in Vietnam,
Journal of the Hong Kong
Archaeological Society 6: 80-99.
Djarygasinova, R. Sh.
1964. Correlation of the Northern and Southern components in the
ethnogenesis of the Koreas. Printed at the VII International
Congress of Anthropological and Ethnological Sciences, Moscow, Aug. 1964.
Moscow: Nauka Publishing House.
Edwards W. 1983. Event and
Progress in the Founding of Japan: the Horse Rider Theory in Archaeological
Perspective. Journal of Japanese Studies 9(2):
265-95.
Fontaine, Henri 1980. On the
Extent of the Sa Huynh Culture in Continental Southeast Asia. Asian
Perspectives 23(1): 67-9.
Fox, Rober 1970. The Tabon Caves: archaeological explorations and excavations on Palawan Island, Philippines, Manila, National Museum of the Philippines.
Fox, Rober 1970. The Tabon Caves: archaeological explorations and excavations on Palawan Island, Philippines, Manila, National Museum of the Philippines.
Glover, I.C. 1990. Early Trade
between India and South – East Asia. (2nd revised
ed.) Occasional Paper 16, University of Hull: Centre for Southeast Asian
Studies.
Hayashi, Kensaku n.d.
1983. Jomon Culture : a Product of a Sedentary Foraging
Society. Paper presented in Seminar A.2 of the XXX1stInternational
Congress of Human Sciences in Asia and North Africa, Tokyo and Kyoto, August
September 1983.
Junzo, Shimizu
1959. Kamegaoka: A Study of the Kamegaoka Neolithic Site, Aomori
Prefecture, Japan, Tokyo: History Department, Faculty of Literature, Keio
University, Archaeology Series No.5.
Kaneko, Erica 1964. Japan.
Asian Perspectives 8(1): 24-68.
Kaneko, Erica 1983. Concerning
the Bicephalous Ornament. Ethnos in Asia 20: 126-37, (in
Japanese).
Kim, Byong-mo 1982. A New
Interpretation of Megalithic Monuments in Korea,
in Megalithic Monument in Asia. Ed. Kim Byung-mo: 164-88.
Seoul: Hanyang University, Monograph No2.
Kim Jeong-hak 1978. The
Prehistory of Korea. Translated and Edited by Richard J Pearson and Kazue
Pearson. Honolulu: University Press of Hawaii.
Kim Won-yong 1983. Recent
Archaeological Discoveries in the Republic of Korea. UNESCO and the Centre
for East Asian Cultural Studies.
Domoto, Masayuki
1982. Megalithic Monuments in Ancient Japan,
in Megalithic Monument in Asia. Ed. Kim Byung-mo:
4-40.
Lamb, Alastair 1965. Some
Observations on Stone and Glass Beads in early Southeast Asia. Journal of
the Malaysian Branch Royal Asiatic Society 36(2):87-124.
Ledyard G. 1975. Galloping
along with the Horseriders: Looking for the Founders of Japan. Journal of
Japanese Studies 1/2, 217-54.
Li, Kwang-chou 1983. Report of
Archaeological Investigations in the O-Luan-Pi Park at the Southern Tip of
Taiwan. Taipei: Department of Anthropology National Taiwan
University.
Loofs-Wissowa. H.H.E.
1980-1. Prehistoric and Protohistoric Links between the
Indochinese Peninsula and the Philippines, as Exemplified by two Types of Ear
Ornaments. Journal of the Hong Kong Archaeological Society
9:57-76.
Meacham, William (ed)
1976-8. Sai Wan, Journal of the Hong Kong Archaeological
Society 7:36-7.
Meacham, William (ed)
1978. Sham Wan , Lamma Island: An Archaeological Site Study,
Hong Kong Archaeological Society Journal Monograph III.
Mikami, Tsugio 1961. The
Dolmen and Stone Cists in Manchuria and Korea, Tokyo: Yoshikawa
Kobunkau.
Millier, Roy Andrew 1976. The
Relevance of Historical Linguistics for Japanese Studies. Journal of
Japanese Studies 2(2):335-8.
Mizuno, Seeichi, Takayasu Higuchi and Takashi
Okazaki 1953. Tsushima, Tokyo and Kyoto: Toa:koko-gakukwai
(The Far-Eastern Archaeological Society).
Murayama, Shirchiro 1976. The
Malayo-Polynesian Component in the Japanese Language. Journal of Japanese
Studies 2(2):413-36.
Murayama, Shirchiro n.d. The
Japanese – Korean Relationship viewed from the Standpoint of Language
Mixture. Manuscript Copy Notes as “Material for
Discussion”.
Ottino, Pual
1974. Madagascar, les Comores et Sud-Ouest de l’Océan
Indien. Tananarive: Université d
Madagascar.
Poirier, Jean
1982. Glottochronologie et histoire culturelle
Malgache. Taloha
9 : 97-120.
Solheim, Wilhelm
G. 1960. Jar burial in the
Babuyan and Batanes Islands and in Central Philippines, and its relationship
to jar burials elsewhere in the Far East. Philippines Journal of Science
89(1): 115-148.
Solheim, Wilhelm G. 1964a. Archaeology of central
Philippines : a study chiefly of the Iron Age and its relationships,
Manila : National Science Development Board, National Institute of Science and
Technology, No.
10, 1964.
Solheim, Wilhelm G. 1964b. Further
relationships of the Sa Huynh – Kalanay Pottery Tradition. Asian
Perspectives 8(1): 192-211.
Solheim, Wilhelm G. 1973. Remarks on
the Neolithic in South China and Southeast Asia. Journal of the Hong Kong
Archaeological Society 4:25-9.
Solheim, Wilhelm G. 1975a. Reflections
on the new data of Southeast Asian Prehistory, Austronesian
Origin and consequence. In Asian
Perspectives 18(2): 146-16.
Solheim, Wilhelm G. 1975b. The
Nusantao and South China. Journal of the Hong Kong Archaeological Society 6:
108-15.
Solheim, Wilhelm G. 1975c. Madagascar,
the Indian Ocean, and Southeast Asia, a review article.
In Asian Perspectives 18(2):
177-82.
Solheim, Wilhelm
G., et al. 1979a. New Data on Late Southeast Asian Prehistory
and their Interprestation (excerpts).Journal of the Hong Kong Archaeological
Society 8: 73-87.
Solheim, Wilhelm G., et al.
1979b. A look
at “L’Art préboudhique de la Chine et
de L’Asie du Sud-est et son influence en Océanie” forty years
after. In Asian
Perspectives 22(2): 165-205.
Solheim, Wilhelm
G., et al. 1980. New Data on Late Southeast Asian Prehistory
and their Interprestation. Saeculum 31(3-4): 409, (in
German).
Solheim, Wilhelm G., et al.
1982. Philippines Prehistory, in The People and Art of the
Philippines, by Gabriel Casel & Regalado Trota Jose, Jr., Eric S.
Casino. George R. Ellis and Wilhelm G. Solheim II:
16-83.
Solheim, Wilhelm G., et al.
1982-3. Remark on the ling ling-o and bicephalous ornaments.
Journal of the Hong Kong Archaeological Society 10:
107-11.
Solheim, Wilhelm G.
1984a. Prehistoric South China, Chinese or Southeast
Asian ? Computational Analysis of Asian and African Languages
No. 22: 13-9.
Solheim, Wilhelm G.
1984b. Prehistoric South China, Chinese or Southeast
Asian? Proceeding of the 31stInternational Congress
of Human Sciences in Asia and North Africa II, ed. Kamamoto, Tatsuro: 803-4,
Tokyo: The Toho Gakkai.
Qua ngay Tết Đoan Ngọ lâu rồi,
nhưng cứ post lại ở đây làm tư liệu
Vùng Á Đông được thế giới biết
đến với nhiều di sản văn hóa độc đáo, trong đó có các phong tục truyền thống.
Tết Đoan ngọ là một ví dụ. Việt Nam và Trung Hoa, hai quốc gia thuộc vùng văn
hóa chữ Hán, có lịch sử giao lưu văn hóa lâu đời, trong đó những ảnh hưởng của
văn hóa Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam là sâu sắc và có ý nghĩa. Tuy vậy,
mỗi nền văn hóa mang các đặc trưng bản sắc riêng do các điều kiện sinh thái và
lịch sử xã hội đặc thù mỗi nơi quy định. Nghiên cứu phong tục tết Đoan ngọ ở
Việt Nam và Trung Hoa dưới góc nhìn chức năng dưới đây như là một nghiên cứu
trường hợp điển hình.
1. Tết
Đoan ngọ – những vấn đề chung
Phong tục lễ tết Á Đông, trong đó
có Việt Nam và Trung Hoa, thường gắn liền với quan niệm coi trọng sự tuần hoàn
của thời tiết trong năm. Trên đại thể có thể chia thành hai tiểu hệ: (1) các
lễ tết gắn với chu kỳ của Trăng, bao gồm Thượng nguyên 15/1, Trung nguyên
15/7, Hạ nguyên 15/10 và Trung thu 15/8; và (2) các lễ tết gắn với các ngày
tháng có thành tố lẻ, gồm tết Xuân (1/1), tết Hàn thực (3/3)([2]), tết Đoan
ngọ (5/5), tết Ngâu (7/7), tết Trùng cửu (9/9). Ngoài ra, vùng Hoa Bắc có thêm
hai ngày tết gắn với các ngày tháng có thành tố chẵn tuy không quan
trọng, là Tết Đầu rồng (2/2, 龙头节 Long đầu tiết), Tết giặc giũ
(6/6,洗晒节). Về cơ bản, những lễ tết truyền thống Việt Nam và Trung Hoa mang nhiều
nét tương đồng, nhất là các đặc trưng chung của cả khu vực Á Đông. Nhiều trong
số các phong tục lễ tết Việt Nam bắt nguồn từ hoặc có quan hệ mật thiết với văn
hóa Trung Hoa, song chúng đã phát triển trên nền tảng của văn hóa canh nông lúa
nước Việt Nam, do đó bên cạnh những đặc trưng chung còn thể hiện những đặc điểm
đận chất bản sắc của văn hóa bản địa.
Ca dao Việt Nam có câu “Tháng
tư đong dậu nấu chè; Ăn tết Đoan ngọ trở về tháng năm”. Cả người Việt Nam
và Trung Hoa đều coi tết Đoan ngọ là cái tết quan trọng thứ hai trong năm, chỉ
sau tết Nguyên đán (Trung Hoa gọi là tết Xuân). Người Việt Nam còn gọi tết Đoan
ngọ là tết Nửa năm, tết Đoan dương, tết Trùng ngũ v.v., người Trung Hoa lại gọi
bằng nhiều tên gọi hơn chẳng hạn Đoan ngũ 端五, Đoan tiết 端节, Ngũ nguyệt ngũ 五月五,
Ngọ nguyệt ngọ 午月午, Trùng ngũ 重五, Trùng ngọ 重午, Địa lạp地蜡, Ngũ nguyệt tiết 五月节,
Thiên trung tiết 天中介, Long chu tiết 龙舟节, Tung tử tiết 粽子节, Dục lan tiết 浴兰节, Nữ
nhi tiết 女儿节, Ngải tiết 艾节v.v., có điều tuyệt nhiên không gọi là tết Nửa
năm.
Về từ nguyên, Đoan
ngọ có thể hiểu nôm na là “ngày mở đầu chuỗi ngày nóng nhất trong
năm”. Đoan (开) nghĩa là bắt đầu (khai
đoan). Ngọ (午) chỉ giờ ngọ, tức khoảng thời khắc nóng nhất
trong ngày (từ 11 giờ trưa đến 1 giờ chiều). Theo lịch kiến Dần (nông lịch hiện
nay), tháng năm là tháng Ngọ (tháng giêng là tháng Dần). “Ngày
5” âm Hán Việt đọc là “ngũ nhật” (五日trong đó “ngũ”(五/wu/) đồng
âm với “ngọ” (午/wu/), cho nên Đoan ngọ còn gọi là Đoan
ngũ (端五). Như vậy, ngày Đoan ngọ là thời điểm mở đầu những ngày
nóng nhất của tháng nóng nhất trong năm (nên gọi tết Đoan dương). Ngày
Đoan ngọ rất gần với tiết Hạ chí trong nhị thập tứ tiết khí nông lịch, do vậy
tết Đoan ngọ báo hiệu mùa nóng quay về. Ngày trước người Việt Nam xứ kinh kỳ gọi
ngày mồng 1 tháng năm là Đoannhất, mồng 2 là Đoan
nhị, cho đến ngày mồng 5 là Đoan ngũ [Toan Ánh 2005:
353].
Tết Đoan ngọ Việt Nam có cùng một
khởi nguồn với vùng đất Bách Việt ở Nam Trung Hoa (vào khoảng vùng hạ lưu Dương
Tử trở xuống) và Bắc Đông Dương. Từ ngàn xưa đây vốn là vùng nông nghiệp lúa
nước trù phú do các dân tộc Bách Việt gầy dựng nên. Do nằm dọc hai bên chí tuyến
bắc, mùa hè ở đây oi bức, khó chịu, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người.
May mắn, người nông dân với nghề lúa nước luôn đòi hỏi phải quan sát thời tiết,
cố để tránh tối đa những tác hại của nó và tận dụng hữu hiệu những lợi thế mà tự
nhiên mang lại (xem thêm Trần Ngọc Thêm [2004: 272], nhờ vậy phong tục tết Đoan
ngọ hình thành, đánh dấu một cột mốc quan trọng của chu kỳ tuần hoàn thời tiết.
Sách Lễ tết Trung Hoa (Chinese Festivals, N.Y. 1952) của W.
Eberhard có viết “Đoan ngọ là tết của phương Nam, tết cầu may, tết của sự sống”
(Double fifth is a Southern festival, lucky festival or festival of the living”
). Tác giả Trung Hoa tên là Nghê Nông Thủy [2011] cũng khẳng định “Tết Đoan ngọ
là cống hiến to lớn của người Bách Việt đối với văn hóa Trung Hoa” [Hội Dân tục
học Trung Quốc 2011]. Vì ngày Đoan ngọ mở đầu quãng thời tiết nắng nóng oi bức,
dân chúng nhiều người bị bệnh, cho nên dân chúng đã tổ chức cúng vái để cầu được
bình yên, tránh các trắc trở do thời tiết gây ra [Toan Ánh 2005:
353].
Thời cổ đại, người Việt Nam dùng
lịch kiến Tý, do vậy tháng mở đầu trong năm là tháng 11 âm lịch. Theo cách tính
này, ngày 5 tháng năm rơi vào thời điểm nửa năm, do vậy dân gian Việt Nam rất
chuộng tên gọi tết Nửa năm.
Đến đầu Công nguyên, Việt Nam
tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là dòng văn hóa quan phương gắn liền với
hệ tư tưởng Nho gia và hệ thống chữ Hán. Sự du nhập này góp phần hình thành diện
mạo văn hóa cổ điển của Việt Nam trong nhiều thời kì lịch sử sau đó. Tết Đoan
ngọ được gắn vào khung lý luận chính thống cùng các ý nghĩa, chức năng mang tính
quan phương khác, đặc biệt là các quan niệm “tưởng nhớ Khuất Nguyên”, “tưởng nhớ
Ngũ Tử Tư”, “tưởng nhớ Trần Luận và Nguyễn Thiệu” v.v. Dù vậy, đại đa số người
Việt Nam không biết đến các nhân vật này, và do vậy các hoạt động diễn ra trong
ngày tết Đoan ngọ không liên quan đến họ.
Bắt nguồn từ trí tuệ của truyền
thống nông nghiệp phương Nam, tết Đoan ngọ được người Trung Hoa phương Bắc tiếp
nhận và hưởng ứng, về sau tại nhiều địa phương khác nhau lại gắn vào nhiều điển
tích khác nhau từ Ngũ Tử Tư, Việt vương Câu Tiễn, Khuất Nguyên đến Tào Nga, Trần
Lâm v.v.([3]) để khoác lên ngày tết này những chức năng xã hội theo phong cách
riêng rất Trung Hoa. Tết Đoan ngọ xưa do nhân dân lao động cùng nhau sáng tạo,
cùng hưởng thành quả và không ai làm tác giả cụ thể. So với người Trung Quốc,
người Việt Nam thiên hẳn về lối sống dân gian, tư duy tổng hợp – trừu tượng và
truyền thống văn hóa truyền miệng đã giúp gìn giữ phong tục ngày tết này mà
không cần thiết gắn liền với các nhân vật lịch sử. Ngược lại, Trung Quốc lớn,
dân số đông, dân tộc đa dạng, việc chính thức hóa một phong tục
dân gian bằng thao tác gắn chúng với các nhân vật lịch sử có chức năng tích cực,
nhất là trong chức năng đại đoàn kết dân tộc.
2. Phong
tục Tết Đoan ngọ Việt Nam và Trung Hoa nhìn theo chức
năng
Tết Đoan ngọ Đông Á (Trung Quốc,
Triều Tiên, Nhật Bản([4]), Việt Nam) mang trong mình chức năng quan trọng nhất,
từ việc đáp ứng nhu cầu thực tế là được nghỉ ngơi, giải nhiệt, bảo vệ sức khỏe,
ăn uống (chức năng thực tế); củng cố đoàn kết dòng tộc, cộng đồng, tạo dựng ý
thức dân tộc (chức năng tâm lý xã hội); và cả gắn kết các thế hệ xuyên không
gian và thời gian (chức năng tâm linh). Phong tục tết Đoan ngọ ở Việt Nam và
Trung Hoa đều thể hiện phong phú và sâu sắc ở cả ba chức năng ấy, song sự thể
hiện ở mỗi nơi mỗi khác.
a. Chức năng đáp ứng nhu cầu
thực tế
Việt Nam là xứ nóng, và do vậy
văn hóa truyền thống Việt Nam thuộc kiểu văn hóa chống nóng. Là chủ nhân của nền
văn hóa sông nước, người Việt Nam tận dụng nước và môi trường nước để sinh tồn.
Việc kết hợp hai thứ ấy đã tạo ra truyền thống văn hóa canh nông lúa nước thuần
túy ở Việt Nam.
Văn hóa chống nóng ở Việt Nam
diễn ra liên tục trong năm. Hơn ai hết, người Việt Nam cảm thụ được cái nóng và
hiểu tác động của sức nóng. Qua hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã quen
với cái nóng, cũng vì thế họ rất linh hoạt trong cách thức giải trừ tác hại của
nhiệt. Để chống nóng thì cần đến nước. Nước hiện diện trong mọi phương diện của
đời sống người Việt, từ truyền thuyết-thần thoại (Sơn Tinh-Thủy Tinh, Chử Đồng
Tử, Lạc Long Quân-Âu Cơ..), ngôn ngữ, văn học đến tín ngưỡng (thờ Bà Thủy), kinh
tế (lúa nước, chợ nổi, dân thương hồ v.v.). Trong phong tuc tết Đoan ngọ, các
hoạt động chống nóng và tận dụng nước thể hiện sống động nhất.
Cũng giống như Việt Nam, người
Trung Hoa cũng chống nóng. Lãnh thổ Trung Hoa rộng lớn phân làm 3 vùng lớn là
miền bắc, miền nam và miền tây thì có đến hai vùng miền bắc miền nam ăn tết Đoan
ngọ. Trong hai vùng nam bắc thì phong tục ở miền nam sông nước điển hình hơn,
chứ đựng nhiều di sản văn hóa Bách Việt hơn. Tựu chung, tiêu độc do cái
nóng tạo ra và đua thuyền rồng trên sông để tế bái thủy thần, tiễn ôn
thần là hai dạng hoạt động chính trong ngày [W. Eberhard 1968], do vậy hầu hết
các nghi lễ, hoạt động đều xoay quanh hai hạng mục ấy.
Ở Việt Nam, ý nghĩa lớn nhất và
sâu sắc nhất của phong tục tết Đoan ngọ là Giết sâu bọ. Theo quan niệm
xưa, trong bộ phận tiêu hóa thường có sâu bọ (giun, sán ký sinh), nếu không trừ
đi sẽ sinh sản ngày một nhiều hơn và gây tai hại. Thế nhưng nhưng giết sâu bọ
không phải là chuyện dễ dàng và không phải vào bất cứ thời gian nào. Chỉ đến
ngày mồng 5 tháng năm chúng mới ngoi lên, là cơ hội quan trọng để trừ khử. Người
ta dùng thức ăn để giết sâu bọ, nhất là rượu nếp (giết giun sán) và hoa quả
(tăng cường vitamin). Mọi người sáng ngủ dậy không được đặt chân xuống đất, phải
súc miệng 3 lần cho sạch, tiếp đó ăn một quả trứng vịt luộc, rồi bước chân ra
khỏi giường, ăn một bát rượu nếp cho sâu bọ say, ăn tiếp trái cây cho sâu bọ
chết. Các gia đình truyền thống thường phải ăn ít nhất một bát rượu nếp, một bát
thạch quả, rồi đến trái cây tươi như mận, muỗm, sấu, đào, roi.. Có nơi uống một
ly rượu có pha một ít tam thần đơn để tiêu độc. Trẻ con được bôi một lớp bột
thần sa, hùng hoàng hay chu sa vào hai bên thái dương hoặc ở bụng. Một số nơi
còn cho trẻ con uống một ít thần sa. Nhiều gia đình pha hùng hoàng với rượu để
uống. Ngày nay, nhiều gia đình Việt Nam ở nông thôn lẫn thành thị vẫn ăn cơm
rượu, ăn trái cây và dành nhiều thời gian nghỉ ngơi. Trong văn hóa Việt Nam,
chính tết Đoan ngọ mới đích thực là tết Hàn thực vì thức ăn (cơm rượu, trái cây)
tuyệt đại đa số là thức ăn nguội, mang tính hàn để chống nóng. Trong khi đó ngày
3 tháng ba ở Việt Nam vốn dĩ là tết Ca hát (tương tự như phong tục Tết lồng
tồng của các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và Choang, Đồng ở Quảng Tây Trung
Quốc), sau dần biến thành tết ăn bánh trôi – bánh chay chứ thực sự không không
phải là tết ăn thức ăn nguội (Hàn thực) [Nguyễn Ngọc Thơ 2008].
Ở Trung Hoa, chức năng tiêu độc
chống nhiệt ngày Đoan ngọ rất được coi trọng. Ngoài bùa ngũ sắc, trẻ con còn đeo
túi lá ngải may bằng vải đỏ trước ngực để hít thở mùi dịu mát của chúng mà trừ
nhiệt. Người lớn dùng chu sa hay hùng hoàng bôi lên trán trẻ con chữ Vương (王)
để “xua đuổi tà ma”. Người lớn trang trọng pha những ấm trà lá ngải dùng cho cả
nhà, một số nơi uống rượu nếp pha bột hùng hoàng để bảo vệ sức
khỏe.
Thứ hai là tục đi hái thuốc
ngày 5 tháng năm, có ở cả Việt Nam và Trung Hoa, được cho là bắt nguồn từ
vùng Hoa Nam (Bách Việt cổ). Mỗi loại thảo mộc đều có dược tính riêng, và giờ
Ngọ ngày Đoan dương được tin là thời khắc dược tính đạt mức cao nhất. Các loại
thảo mộc được hái nhiều nhất trong ngày này là trà, ngãi cứu, đinh lăng, rau
ngò, lá mua, ích mẫu, tử tô, kinh giới, lá bưởi, lá cam, tỏi, gừng, trầu không,
bồ công anh, sen, vối, lạc tiên v.v., tương tự nhau ở cả Việt Nam và Trung Hoa.
Các loại lá được mang phơi khô, mỗi khi người nhà bị bệnh người ta mang đi sắc
thuốc mà dùng. Nhiều làng ở ven rừng, cư dân tổ chức đi hái lá rất đông vui, cứ
như một ngày hội lớn.
Thứ ba là treo ngãi cứu bảo
vệ sức khỏe. Cây ngãi cứu có dược tính khu phong giải độc, người bị nhức
đầu có thể lấy lá ngãi cứu đắp hai bên thái dương sẽ khỏi bệnh. Ngày Đoan ngọ,
người ta lấy lá ngãi cứu treo trước cửa nhà tránh đau ốm và để trừ tà. Dân gian
canh từng năm thuộc địa chi gì thì bó ngãi cứu thành hình dáng của con vật cầm
tinh năm ấy, chẳng hạn năm Tý thắt hình con chuột, năm Sửu thắt hình con trâu
v.v.. Xét ở khía cạnh khoa học, ngày 5 tháng năm người ta ăn nhiều rượu nếp và
trái cây có thể sẽ cảm thấy khó chịu, mùi lá ngãi cứu treo trên cửa nhà sẽ giúp
cảm thấy dễ chịu hơn, đồng thời còn giúp làm giảm bớt sức nóng của ngày Đoan
dương. Bó ngãi cứu được treo rất lâu sau ngày Đoan ngọ vì công dụng thực tế ấy
của nó. Ở Trung Quốc, ngoài ngãi cứu còn có lá chương phổ chương phổ, cành
đào.
Thứ tư là tục Tắm nước lá
mùi, nhiều nhất là ở các làng quê nông thôn Việt Nam và Trung Hoa. Người ta
đun các loại lá mùi, lá tía tô, kinh giới, lá sả, lá tre vào chung một nồi, rồi
mọi người già trẻ thay nhau múc tắm. Mùa nóng lại tắm nước nóng có lá thơm, mồ
hôi toát ra, cảm giác khoan khoái dễ chịu, thơm tho làm cho con người phấn chấn
và có lẽ cũng trị được cảm mạo, bởi nước lá mùi là vị thuốc thảo dược. Ở Trung
Hoa, người ta nấu nước lá ngải, lá chương phổ hoặc lá hoa lan để tắm mát, và vì
vậy tết Đoan ngọ còn gọi là Ngải tiết hoặc Dục lan tiết.
Cùng với tục tắm nước lá mùi là
thói quen tắm sông giải nhiệt. Tập tục này phổ biến ở Việt Nam hơn là
Trung Hoa. Nhiều địa phương ở ven sông, ven biển đi tắm sông, tắm biển đúng giờ
ngọ, gọi là Tắm mồng 5. Không ít cư dân đồng bằng sông Cửu Long tin
rằng nước sông Mê-kông trong ngày Đoan dương trở nên “linh thiêng”, có thể giúp
“tẩy rửa bệnh tật”, song cái chính vẫn là để được vui chơi, gặp gỡ bạn bè và
giải nhiệt. Tại Trung Hoa, thay vì đi tắm sông, họ tổ chức hội đua thuyền rồng,
vừa đạt mục đích giải nhiệt vừa thực hiện chức năng tâm linh là tế bái thủy thần
hay giải cứu các nhân vật lịch sử như Khuất Nguyên, Ngũ Tử Tư, Tào Nga (sẽ bàn ở
phần sau).
Có thể thấy, nhìn dưới chức năng
thực tế, người Việt Nam lẫn Trung Hoa đều có thói quen không khác nhau, đều tận
dụng tự nhiên để tiêu độc trừ phong, hạn chế những tác hại của nhiệt trong chuỗi
ngày Hạ chí.
b. Chức năng tâm lý – xã hội
(chức năng giáo dục cộng đồng)
Một số nhà xã hội học người Pháp
cho rằng con người luôn sắp xếp tốt hai nhịp làm việc và nghỉ ngơi trong đời.
Cùng với tết Xuân, Tết Đoan ngọ là một dịp nghỉ ngơi của nông dân Việt Nam sau
khi thu hoạch xong các vụ mùa xuân-hè([5]). Xét theo chức năng tâm lý xã hội,
các hoạt động tết Đoan ngọ ở Việt Nam tập trung vào hai nhóm chính, gồm
cúng bái tổ tiên – ăn uống và đi sêu tếtnhà bố mẹ vợ tương
lai, trong khi ở Trung Hoa ngoài cúng bái tổ tiên – ăn uống là các ý
nghĩa rèn luyện kỹ năng nội trợ và củng cố ý thức gắn kết dân
tộc.
Theo quy luật âm dương, dương
thịnh thì “bình dương kiện âm”. Tết Đoan Ngọ giữa mùa hè nóng bức (dương tính),
các tục lệ dân gian đặt trong tâm ở tố chất tình cảm gia đình – xã hội (âm
tính). Ở Việt Nam, các hoạt động tiêu biểu nhất có thể kể đến là tục cúng bái tổ
tiên, đi sêu nhà nhạc gia, thăm viếng thầy cô giáo cũ, thầy lang, hay thăm viếng
lẫn nhau.
Đầu tiên là tục Cúng bái
trong tết Đoan ngọ. Các gia đình chuẩn bị mâm thức ăn nguội (bánh chưng,
trái cây, thạch quả v.v.) trước để cúng bái tổ tiên sau ăn để bảo vệ sức khỏe.
Đối tược đượng cúng bái là vong linh tổ tiên, các vong hồn cô độc và Thổ công.
Miền Bắc Việt Nam thường phải có quả dưa hấu to bên bàn cúng lễ (vì đang mùa dưa
hấu). Các làng xã xưa tổ chức cúng lễ tại các đình, đền, miếu mạo. Các thôn xóm
nhỏ hơn tổ chức cúng ở các miếu tự. Sau cúng lễ, người Việt Nam tổ chức ăn uống
chứ không mang vứt xuống sông như ở phong tục Trung Quốc [Toan Ánh 2005: 355].
Dân cư miền Trung khu vực Huế thường nấu xôi ăn với thịt vịt (tính hàn, vị ngọt
mát)([6]), còn người Đà Nẵng đến Quảng Ngãi cho trẻ con vào vườn hái quả ăn, một
số ít gia đình nấu xôi chè cúng lễ [tư liệu đồng nghiệp cung cấp 2011]. Cư dân
nông thôn miền Nam thường đúc bánh lọt, nấu chè trôi nước và xôi gấc trước cúng
tổ tiên, sau ăn uống quây quần. Bài học đạo Hiếu ấy được truyền tụng suốt chiều
dài lịch sử và được các thế hệ tiếp nối theo. Các gia đình hành nghề Đông y còn
tổ chức cúng Thánh sư.
Thứ hai là tục đi sêu.
Những chàng trai đã hỏi vợ nhưng chưa cưới phải đi sêu nhà bố mẹ vợ. Lễ vật đi
sêu thường là gạo chiêm mới, đậu xanh, cặp ngỗng, cặp chim ngói, vài quả dưa
hấu.. hết thảy đều là sản phẩm canh nông đang vào mùa. Tình cảm là chính, do vậy
“quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Gia đình nhà gái nhận lễ, song lúc nào cũng hoàn
lại một phần để thể hiện ý nghĩa thông gia hữu hảo. Những chàng rể đã cưới vợ
rồi thì hết lệ sêu, song thông thường người ta vẫn tổ chức về nhà vợ viếng ông
bà trong ngày [Toan Ánh 2005: 362].
Cùng với tục đi sêu là
tục Thăm thầy cô giáo cũ. Trong những ngôi làng truyền thống Việt Nam
xưa các ông đồ dạy học thường không lấy tiền công, chính vì thế học trò thư sinh
thường đi tạ ơn thầy cô vào các ngày tết Xuân, tết Đoan ngọ hay tết Trùng cửu.
Lễ thường là chút đường bánh, hoa quả tùy vào tấm lòng của gia đình học trò. Học
trò cũ làm nên danh vọng cũng không quên ơn thầy cô cũ mà về viếng vào dịp này.
Tết Đoan ngọ còn là dịp Viếng ông lang. Các bệnh nhân đã chữa khỏi cũng
không quên ơn các thầy lang nên sắm lễ đi viếng các thầy lang. Mở rộng hơn nữa
là tục Thăm viếng ân nhân. Những người chịu ơn người khác, kẻ dưới
trong làng có tục đi quà biếu người ban ân hay những ai đã giúp mình để tỏ lòng
biết ơn. Tết Đoan ngọ ngày nay, qua mọi biến đổi của thời cuộc vẫn tồn tại trong
nhân dân với ý nghĩa thiết thực và thiêng liêng của nó. Dẫu qua bao biến đổi về
thời cuộc, song tết Đoan Ngọ vẫn tồn tại trong lòng người dân đất Việt như một
phong tục đẹp, với ý nghĩa thiêng liêng về đạo lý làm người.
Trong văn hóa Trung Hoa,
tục cúng tổ tiên cũng rất được coi trọng. Lễ vật cúng bái có thể phong
phú, song không thể thiếu bánh ú (粽子tung tử)([7]). Bên cạnh sắm sửa mâm cỗ cúng
tổ tiên, người ta còn chuẩn bị mâm cúng ôn thần (thần dịch bệnh), quỷ thần ngoài
đường, ngoài dầu ngõ. Lễ vật cúng tế tổ tiên thì được ăn, song mâm cúng ôn thần
thì phải thả xuống sông sau khi cúng tế([8]).
Song song với truyền thống uống
nước nhớ nguồn ấy, người Trung Hoa đặc biệt coi trọng chức năng rèn luyện
tài năng nội trợcủa nữ giới, chính vì thế ngày Đoan ngọ còn là ngày Tết nữ
nhi. Phụ nữ tự tay làm bánh ú (người lớn dạy trẻ em gái cùng làm), làm mâm cỗ,
treo ngải cứu (chương phổ, anh đào), chăm sóc trẻ con (vệ sinh, bôi hùng hoàng
v.v.). Ở một chừng mực nhất định, trong phạm vi không gian gia đình, tết Đoan
ngọ là dịp khẳng định vai trò nữ giới trong việc chăm sóc gìn giữ mái ấm gia
đình. Có thể thấy, phong tục tết Đoan ngọ trải rộng ở hai phạm vi không gian là
gia đình-gia tộc và xã hội. Nhìn theo chức năng luận, sự phân công nữ giới chăm
lo các hoạt động trong gia đình gia tộc là phụ hợp. Tết Đoan ngọ trước khi mở
rộng thành tết cộng đồng đã là ngày tết gia đình.
Ở phạm vi không gian xã hội, chức
năng chính được thể hiện là củng cố ý thức nguồn cội (认 同意识ý thức nhận
đồng). Hoạt động tiêu biểu nhất là đua thuyền rồng. Người Trung Hoa truyền tụng
nhau rằng đua thuyền rồng ngày Đoan ngọ là để tưởng nhớ các nhân vật lịch sử.
Vùng hồ Động Đình thì tưởng nhớ Khuất Nguyên, vùng Gia Hưng (Giang Tô) thì tưởng
nhớ Ngũ Tử Tư (trung thần nước Ngô thời Xuân Thu – Chiến Quốc), trong khi vùng
Thiệu Hưng (Chiết Giang) lại hướng đến hiếu nữ Tào Nga([9]) v.v. Đằng sau ý
nghĩa kỷ niệm các nhân vật lịch sử đó là mục tiêu đánh thức ý thức nguồn cội
trong cộng đồng. Tôn Dật Tiên từng nói, ở Trung Quốc không có chủ nghĩa quốc
tộc, mà chỉ có chủ nghĩa tông tộc. Chức năng khơi dậy ý thức nguồn cội ấy của
ngày tết Đoan ngọ hoàn toàn mang ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh là quốc gia quá
rộng lớn, quan hệ tộc người phức tạp ở Trung Hoa.
Ngoài ra, trong ngày Đoan ngọ,
một số địa phương tổ chức đúc kiếm đồng vì tin rằng kiếm sẽ được “linh thiêng”
hơn – một nét văn hóa có từ thời Ngô-Việt giao tranh, tổ chức thi đấu vật, thi
ném đá, thi bắn cung..[Lưu Hiểu Phong 2010] với mục tiêu cụ thể là vừa rèn luyện
sức khỏe thể chất để đối phó với tác hại của tự nhiên, vừa củng cố quan hệ cộng
đồng xã hội.
c. Tết Đoan ngọ
nhìn từ chức năng tâm linh
Ngoài hai chức năng trên, phong
tục tết Đoan ngọ ở Việt Nam và Trung Hoa còn thể hiện chức năng tâm linh, một
chức năng phái sinh được cho là sự nối dài của hai chức năng
trước.
Tục cúng tế tổ tiên (đã bàn) ít
nhiều đề cập đến sự giao hòa các thế hệ xuyên không gian và thời gian dù ý nghĩa
của nó nằm ở đạo Hiếu và truyền thống gia đình. Theo niềm tin dân gian Việt Nam
và Trung Hoa, do ngày mồng 5 tháng năm thời tiết nóng, dân gian nghỉ ngơi quây
quần, do đó người ta tin rằng tổ tiên cùng quay về quây quần cùng con cháu.
Chính vì thế Sự gắn kết siêu thời gian và không gian ấy là một phần quan trọng
không thể thiếu trong ngày Đoan ngọ.
Song song với phong tục hướng đến
tổ tiên và hoạt động trừ ma đuổi quỷ. Người xưa tin rằng lúc trời nóng
bức cũng là lúc ma quỷ lộng hành, không ngừng gieo rắc tai ương, bệnh tật. Người
Việt Nam và người Trung Hoa có những cách thức khác nhau để trừ ma đuổi
quỷ.
Theo dân gian Việt Nam, trẻ em là
đối tượng dễ bị tổn thương nhất nên các tập tục thường hướng vào chúng. Trẻ con
còn đượcđeo túi bùa ngũ sắc, dân gian gọi là bùa tua bùa
túi được tết bằng vải và chỉ 5 màu (đen, đỏ, xanh, trắng, vàng – ngũ hành)
thành hình ảnh của các loại trái cây có ở địa phương. Một túi bùa thường có: (1)
một cục hồng hoàng có tính chất kỵ rắn rết, đuổi quỷ; (2) một túi hạt mùi hình
vuông kỵ gió; (3) một quả ớt màu (xanh, đỏ, vàng); (4) một quả na; (5) một quả
hồng. Trong số các thứ ây, chỉ ngũ sắc để trị tà ma, hồng hoàng trị các hiểm họa
từ các loài động vật có nọc độc([10]), trái cây ngụ ý diệt trừ sâu bọ. Bên cạnh,
dân gian Việt Nam còn có tục Nhuộm móng tay – móng chân trị tà ma. Ở
các vùng nông thôn, phụ nữ và trẻ con có tục nhuộm màu móng tay móng chân. Màu
được lấy từ một loại lá cây ở địa phương, đem giã nhỏ rồi bọc lên đầu ngón tay
từ tối hôm trước. Khi nhuộm móng tay người ta chừa lại ngón trỏ vì đây là thần
chỉ. Hoạt động này được cho là giúp trừ tà ma, sâu bệnh. Tục này không có ở
Trung Quốc. Tục Khảo cây lấy quả trong dân gian cũng là một thể hiện
sinh động của chiều hướng tín ngưỡng tâm linh ngày Đoan ngọ. Nhiều cây trồng
nhiều năm không quả, người ta cho đó là các loại cây bướng bỉnh. Người Việt Nam
và Trung Hoa xưa tin mỗi cây có một linh hồn, do vậy cần khảo cây cho ra quả.
Ngày Đoan ngọ, một người leo lên cây, một người đứng dưới gốc. Người dưới gốc
vọng lên rằng tại sao cây không ra quả, nếu mùa sau vẫn không ra quả sẽ chặt cây
đi. Người trên cây đóng vai của cây vái lạy đừng chặt và hứa ra quả. Người dưới
cây hỏi sẽ ra mấy quả, người trên cây trả lời số quả tùy vào sức vóc của cây.
Cuối cùng còn phải kể đến tục lên chùa xin ấn. Nhiều gia đình mang áo lụa mới
đến chùa, đình xin ấn son rồi mang về nhà cho trẻ con mặc trong ngày với ngụ ý
dùng sức mạnh thần thánh xua đuổi tà ma hoặc tránh các tác động có hại của tự
nhiên (sức nóng, rắn tấn công v.v.).
Khác với Việt Nam, người Trung
Hoa có thiên hướng mượn uy lực của thần thánh để xua đuổi yêu ma trong
nhận thức dân gian. Tựu chung lại, ý nghĩa tôn giáo tâm linh trong phong tục của
họ quy kết thành ba nhóm chính. Thứ nhất là các nghi thức tế bái thủy thần. Đua
thuyền rồng được cho là một hoạt động gắn với tập tục sùng bái rồng (một dạng
thủy thần), được dân gian khoác lên mục đích tưởng nhớ một nhân vật lịch sử nào
đó. Vùng hồ Động Đình (Hồ Bắc, Hồ Nam) thì chọn Khuất Nguyên, vùng vịnh Hàng
Châu (Chiết Giang) thì tế Tào Nga, vùng Gia Hưng (Giang Tô, Thượng Hải) lại thờ
Ngũ Tử Tư. Tất cả họ đều được coi là thủy thần. Các hoạt động đua thuyền rồng,
cúng tế chư thần không nằm ngoài mục đích cầu mong thủy thần tăng cường trông
coi điều hòa nguồn nước, đảm bảo cho đời sống sản xuất và sinh
hoạt.
Thứ hai là tục tiễn Ôn thần, tức
tiễn đưa thần gây bệnh dịch. Khác với Phúc thần, Thần tài hay Thọ tinh, Ôn thần
được tôn xưng thành thần vì dân gian lo sợ hiểm họa. Trong các nghi thức ngày
Đoan ngọ, dân gian không quên dành chút thời gian để tiễn Ôn thần lên
núi.
Thứ ba là tục dán hình ảnh các vị
thần uy lực đề trừ ma đuổi quỷ, phổ biến nhất là Trương Thiên Sư, Chung Quỳ,
Quan Công v.v..
Trương Thiên Sư, tức Trương Đạo
Lăng, theo Tam Quốc Sử Lược, là người Đông Hán, tu đạo ở núi Hạc Minh
đất Thục. Tương truyền Trương Thiên Sư có quyền năng diệt trừ ngũ độc. Thời
Tống, niềm tin ấy trở nên phổ biến, dần dà trở nên quen thuộc, hễ đến ngày mồng
5 tháng năm là dán hình Trương Thiên Sư mới ngay cổng ra vào để trừ yêu đuổi
quỷ.
Chung Quỳ 钟馗cũng là một vị thần
trấn trạch. Theo Ngô Đô Tuế Thời Kỷ Lệ 吴 都岁时纪丽, dân gian Trung Hoa sớm
có tục dán hình Chung Qùy ngày tết Đoan ngọ để trừ yêu ma. Tương truyền vua
Đường Minh Hoàng ban ngày nằm mơ gặp yêu tinh, được một vị thần cứu mạng, vua
tỉnh giấc vẽ hình vị thần theo trí nhớ, đặt tên là Chung Qùy, dân theo đó mà tôn
thờ.
Quan Công cũng được xem là thần
hộ mệnh mùa Đoan ngọ. Danh tiếng Quan Công thực sự chỉ phổ biến từ thời Đường về
sau, nhất là Minh-Thanh, thường được hiểu là biểu tượng của trung dũng bất
khuất. Ấy vậy, dân gian Trung Hoa, nhất là miền Nam, coi Quan Công là một vị
thần hộ mệnh, thần tài. Đến mồng 5 tháng năm, dân gian dán hình Quan Công để bảo
vệ gia trạch, tham gia một số hoạt động tế bái Quan Công ở các miếu tự, do ngày
Đoan ngọ gần trùng với ngày sinh nhật Quan Công 15 tháng 5 âm
lịch.
Ngoài các vị thần hộ mệnh nói
trên, người Trung Hoa còn thờ ngôi Vệ Đà, nhất là các tín đồ Phật giáo, với hy
vọng được nương nhờ công đức chư Phật mà tránh xa các hiểm họa ngày Đoan
ngọ.
3. Đặc
trưng văn hóa Việt Nam và Trung Hoa qua phong tục tết Đoan
ngọ
Phong tục tết Đoan ngọ Việt Nam
thiên về các chức năng dân gian vốn có, tức ít bị chi phối mạnh mẽ của văn hóa
quan phương cùng các ý nghĩa xã hội mang tính quy củ. Ở một khía cạnh nào đó,
phong tục ấy mang tính tự phát, gắn liền với tính chất xã hội trục
hoành ở Việt Nam.
Chất tự phát và phong cách thuần
dân gian trong chức năng đáp ứng nhu cầu thực tế chống nóng ở Việt Nam thẩm thấu
qua việc tận dụng các lợi thế sẵn có trong tự nhiên để chống tác hại của tự
nhiên. Kinh nghiệm ấy được đúc kết qua hàng ngàn năm lịch sử mà chưa hề có một
kinh sách nào quy chuẩn hóa. Chất tự phác còn thể hiện ở đặc trưng đa
dạng khu biệt tính vùng miền, do Việt Nam trải dài 2000 km từ bắc chí nam,
trải qua nhiều loại hình khí hậu ẩm ướt và khô hạn khác nhau của đới nhiệt đới
xích đạo. Cho đến hôm nay, hoạt động lễ tết này vẫn hoàn toàn mang chất tự phát
dân gian toàn dân mà không hề có một hoạt động nào mang tính quan phương được tổ
chức.
Ở chức năng tâm lý – xã
hội, đạo hiếu và lối sống trọng tình là hai ý nghĩa được chú
trọng. Văn hóa Việt Nam tuy lỏng lẻo ở mối quan hệ dòng tộc, song đạo hiếu lại
phát triển mạnh mẽ ở quy mô gia đình hạt nhân như một quy luật bù trừ. Công việc
xã hội đầu tiên trong ngày phải là cúng bái tổ tiên. Việc đi sêu của các chàng
rể phần nào phản ánh dấu vết cổ xưa của một xã hội dành cho nữ giới một chỗ đứng
nhất định. Tương tự, tinh thần “uống nước nhớ nguồn” được gìn giữ và lưu truyền
qua các hoạt động thăm viếng nhau sau một mùa lúa xuân-hè vất vả, khó nhọc. Các
hoạt động xã hội khác (thăm viếng nhau, đền ơn đáp nghĩa) góp phần làm tăng
cường các mối quan hệ xã hội dân dã nơi làng quê cư trú.
Ở chức năng tâm linh, có lẽ phong
tục tết Đoan ngọ ở Việt Nam chia sẻ nhiều nét tương đồng với các dân tộc Nam
Trung Hoa([11]), Triều Tiên [xem W. Eberhard 1968: 156]. Yếu tố ước vọng sức
khỏe, ước vọng phồn sinh, cầu mưa, cầu thịnh vượng được dân gian gửi gắm vào các
hoạt động kết nối con người với các thế lực siêu nhiên, đầu tiên đó là cầu mong
thần thánh, tổ tiên bảo hộ, sau là tận dụng các phương thức huyền bí khác nhau
để trừ ma đuổi quỷ. Tuy nhiên, người Việt Nam không “quan phương hóa” phong tục
của mình bằng các quan niệm tưởng nhớ bất kì nhân vật lịch sử nào, do vậy các
hoạt động trong ngày chỉ đơn thuần là giao tế giữa con người với con người chứ
không nâng thành mục tiêu duy trì và tăng cường ý thức nguồn cội như trong văn
hóa Trung Hoa.
Trong khi đó, cũng bắt đầu từ
chức năng đáp ứng nhu cầu thực tế là chống nóng, người Trung Hoa nâng lên thành
phong tục của hai phạm vi không gian gia đình-gia tộc và quốc gia. Ý
nghĩa củng cố truyền thống gia đình (cấp gia đình-gia tộc) cũng
như duy trì ý thức nguồn cội (cấp quốc gia) luôn được đề cao, hoàn toàn
phù hợp với bối cảnh thực tế của xã hội Trung Hoa.
Ở phạm vi gia đình, người Trung
Hoa coi trọng trật tự chồng – vợ, coi trọng sự phân công lao động gia đình – xã
hội, do vậy tết Đoan ngọ còn là dịp duy trì và củng cố ý thức trách nhiệm của
người phụ nữ trong gia đình. Đây là một thể hiện khá sinh động của đặc
trưng tính tôn ti trong văn hóa Trung Hoa, nó xuất phát từ nền văn hóa
trục hoành trọng trật tự. Trong khi các nghi thức ở gia đình dành cho nữ giới
thì nam giới tham gia các hoạt động xã hội (đua thuyền rồng, tế bái thủy thần,
đấu vật..). Chức năng nhắm vào xã hội ở đây không phải là sự nối dài của ý nghĩa
củng cố truyền thống gia đình thông qua các phong tục tết Đoan ngọ, mà là nấc
thang thứ hai của tổ chức xã hội kiểu Trung Hoa:
sau gia là quốc. Trong ngày Đoan ngọ, người Trung Hoa không có
lệ đi sêu, cũng không có tục thăm viếng thầy cô hay ân nhân, tức không đặt mục
tiêu ở việc củng cố quan hệ xã hội – dân sinh. Các hoạt động xã hội được tổ chức
trên thực tế tuy có mục tiêu tạo không gian giao tiếp xã hội, song đằng sau nó
là mục tiêu đoàn kết toàn dân và ý thức nguồn cội. Một khi tất cả người Trung
Hoa ăn tết Đoan ngọ tưởng nhớ Khuất Nguyên, Ngũ Tử Tư hay Tào Nga thì vô hình
chung họ gặp nhau ở một tâm điểm: chung một nguồn cội. Có thể thấy, việc mượn
hoạt động tín ngưỡng – tâm linh hay một phát minh văn hóa để góp phần giáo dục
xã hội vốn không phải là mới mẻ ở Trung Hoa. Ngoài tết Đoan ngọ, ngày tết Hàn
thực (3 tháng ba) được gắn với nhân vật Giới Tử Thôi, ngày tết Ngâu 7 tháng bảy
gắn với tích Ngưu Lang – Chức Nữ, Âm dương – Bát quái gắn với Phục Hy, truyền
thống chợ búa và y học gắn với Thần Nông, nghề mộc gắn với Lỗ Ban v.v., người
Trung Hoa muốn mượn các hình tượng dân gian để giáo dục các ý nghĩa quan phương,
chính thống. Trong hội thảo phong tục tết Đoan ngọ Trung Hoa năm 2011 (tại Gia
Hưng), nhiều tác giả Trung Hoa kêu gọi tăng cường ý nghĩa giáo dục ý thức cộng
đồng thông qua tết Đoan ngọ, biến ngày tết này thành Tết yêu nước, Tết vệ sinh,
Tết Thể thao cộng đồng của họ. Sự vận động ấy hoàn toàn có cơ sở khi mà các hoạt
động trong ngày tết Đoan ngọ ở Trung Hoa chuyển tải thông điệp giáo dục toàn dân
vẫn được thực hiện trong suốt mấy trăm năm qua.
Trong xã hội hiện đại, tri thức
xã hội tăng thêm, thiết nghĩa chức năng tâm linh sẽ giảm dần và mất đi. Thời
tiết vẫn cứ nóng, thậm chí là nóng hơn, và do vậy ngày Đoan ngọ sẽ vẫn tồn tại,
người Việt Nam và người Trung Hoa vẫn tiếp tục chống nóng, song để ngày Đoan ngọ
thực sự là một ngày tết văn hóa, ý nghĩa xã hội của nó phải được chú trọng. Chất
dân dã có phần thiếu hệ thống của phong tục tết Đoan ngọ Việt Nam cần tăng cường
các ý nghĩa giáo dục quan phương hơn, trong khi người Trung Hoa cần bổ sung thêm
các mục tiêu củng cố mối quan hệ giao tiếp xã hội, tăng cường ý thức bình đẳng
giới song hành với việc duy trì các hoạt động vay mượn hình ảnh các nhân vật
lịch sử để giáo dục ý thức nguồn cội vốn là thế mạnh của họ.
Kết
luận
Phong tục tết Đoan ngọ ở Việt Nam
và Trung Hoa do dân gian nông nghiệp sản sinh ra qua quá trình sống và ứng xử
với môi trường tự nhiên. Do vậy, sự ra đời của phong tục tết Đoan ngọ trước hết
là đáp ứng nhu cầu chống nóng để bảo vệ sức khỏe. Tết Đoan ngọ là một phong tục
“bình dương kiện âm”, “dĩ hàn khứ nhiệt”, “dùng thủy trị hỏa” mang tính chất tự
phác gắn liền với văn hóa dân gian. Theo thời gian, phong tục này gắn thêm các ý
nghĩa giáo dục đạo đức xã hội và quan niệm tâm linh, biến tết Đoan ngọ thành một
phong tục văn hóa thể hiện sâu sắc các đặc trưng cơ bản của tính cách văn hóa
dân tộc.
Ở văn hóa Việt Nam, xã hội nông
nghiệp nông thôn và nếp sống tập thể làng xã đã đúc khuôn quan niệm nhân sinh,
lối sống và tư duy, do vậy phong tục tết Đoan ngọ gắn liền với chất trọng tình,
trọng quan hệ dân sinh – xã hội, mang tính dân dã, tự phát và . Tết Đoan ngọ đơn
giản là dịp sinh hoạt cộng đồng, là lúc thiết lập hay củng cố các mối quan hệ xã
hội theo chiều ngang, hoàn toàn phù hợp với kiểu xã hội trục hoành (horizontal
culture) truyền thống của Việt Nam.
Trong văn hóa Trung Hoa, ngoài
chức năng chống nóng bảo vệ sức khỏe, phong tục tết Đoan ngọ còn chuyển tải thầm
lặng thông điệp giáo dục ý thức nguồn cội, ý thức hướng nội ở quy mô toàn dân
tộc, và do vậy các phong tục thể hiện tính chất quan phương, có hệ thống, phản
ánh một xã hội trục tung (vertical culture) ở Trung Hoa, một đất nước rộng
lớn, dân số đông đúc song xã hội rất coi trọng tính quy củ, tôn ti, trật tự (bao
gồm cả trật tự nam-nữ trong gia đình lẫn trật tự xã hội).
Ở một chừng mực nhất định, chúng
ta có thể thấy phong tục tết Đoan ngọ ở Việt Nam mang chiều hướng mở theo chiều
ngang, trong khi phong tục ấy ở Trung Quốc có xu hướng hội tụ hướng tâm theo
chiều dọc. Sự tương tác, kết hợp và bổ sung cho nhau của cả hai khuynh hướng ấy
có thể sẽ là một mô hình lý tưởng cho tương lai cho cả Việt Nam và Trung
Hoa.
Reference
1. Toan Ánh 2005: Tín
ngưỡng Việt Nam (quyển hạ), NXB Trẻ.
2. Nguyễn Châu: “Tết Đoan
ngọ: Mồng 5 tháng năm âm lịch”, http://ttvnol.com/f_533/752941
3. Mai Viên Đoàn Triển
2008: An Nam phong tục sách, NXB Hà Nội.
4. Nguyễn Ngọc Thơ 2008: “Lại
bàn về nguồn gốc tết Đoan ngọ”, www.vanhoahoc.edu.vn
5. Nguyễn Ngọc Thơ 2008: “Từ
tết Lồng tồng (Tam nguyệt tam) của người Choang ở Trung Quốc bàn về tết 3 tháng
ba ở Việt Nam”. Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần 3, 2008, Hà
Nội.
6. Phan Kế Bính
1915: Việt Nam phong tục, NXB Văn học tái bản năm 2005
7. Trần Ngọc Thêm
2004: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tp. Hồ Chí
Minh
8. Vũ Ngọc Khánh 2008: Lễ
hội Việt Nam, NXB Thanh Niên.
9. www.cinet.vn: “Tết Đoan
ngọ – nét sinh hoạt văn hóa dân gian phương Đông”,
http://www.cinet.vn/upLoadFile/HTML/11_36_17_2852009/tetdoanngo.htm
10. Brandly
Womack 2006: China and Vietnam: the politics of asymmetry,
Cambridge University Press
11. Leon
E. Stever 1974: The cultural Ecology of Chinese Civilization, New York:
Pica Press.
12. Lung
Ki-Sun 2002: The Chinese national characters from nationhood to
individuality, An East Gate Book.
13. Wolfram
Eberhar 1968: The local culture of South and East China, translated
from German by Alide Eberhard, Leiden: E.J. Brill.
14. Cao
Bính Trung 2004: “Khởi nguồn và ý nghĩa tết Đoan ngọ”, Nghiên cứu dân
tộc, kỳ 5: 23-26 (高丙中 2004:《端午节的起源与意义》,民族研究,第5期:23-26).
15. Cát
Xuyên Chân Tư 2011: “Phong tục tết Đoan ngọ ở Nhật Bản thời cổ đại”, Kỷ yếu
hội nghị Phong tục tết Đoan ngọ – Gia Hưng 2011, Hội Dân tục học Trung
Quốc – Ủy ban nhân dân tp. Gia Hưng, Chiết Giang (倪农水 2011:“日本古代的端午节风俗考”,
《中国嘉兴2011年端午节风俗研讨会》,中国民俗学会-嘉兴市人民政府).
16. Cố Vĩ
Liệt 2005: Thông luận văn hóa Trung Quốc, NXB Đại học Sư phạm Hoa Đông
(顾伟列 2005:《中国文化通论》,华东师范大学出版社).
17. Hà Bồi
Kim cb. 1991: Văn hóa thuyền rồng Trung Quốc, NXB Tam Hoàn
(何培金主编 1991:《中国龙舟文化》,三环出版社)
18. Lưu
Hiểu Phong 2010: Đoan ngọ, Nhà sách Tam Liên
(六晓风 2010:《端午》,三联书店).
19. Nghê
Nông Thủy 2011: “Tết Đoan ngọ là cống hiến to lớn của người Việt cổ đối với văn
hóa Trung Hoa”, Kỷ yếu hội nghị Phong tục tết Đoan ngọ – Gia Hưng
2011, Hội Dân tục học Trung Quốc – Ủy ban nhân dân tp. Gia Hưng, Chiết
Giang (倪农水 2011:“端午节是古代越人对中国的伟大贡献”,
《中国嘉兴2011年端午节风俗研讨会》,中国民俗学会-嘉兴市人民政府).
20. Phùng
Minh Dương 2006: Việt ca: Lĩnh Nam bản thổ ca nhạc văn hóa luận, NXB
Nhân dân Quảng Đông (冯明洋2006:《越歌:岭南本土歌乐文化论》, 广东人民出版社).
21. Trần
Dũng Tân 2005: Bài ca thuyền rồng, NXB Nhân dân Quảng Đông
(陈勇新 2005:《龙舟歌》,广东人民出版社).
22. Văn
Sùng Nhất 1990: Trung Quốc cổ văn hóa, Công ty Thư đồ Đông Đại phát
hành (文崇一 1990:《中国古文化》,东大图书公司发行).
([1]) Thạc sỹ, Giảng viên Khoa
Văn hóa học, Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí
Minh.
([2]) Vùng văn hóa Hoa Nam và Bắc
Đông Dương từng có tết Ca hát (tết Lồng tồng, Tam nguyệt tam), thực chất là tết
Ca hát, sau chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa chuyển thành tết Hàn
thực.
([3]) người Trung Hoa gắn nguồn
gốc tết Đoan ngọ với nhiều nhân vật lịch sử như Câu Tiễn người nước Việt, Ngũ Tử
Tư người nước Sở về đầu quân nước Ngô, Khuất Nguyên người nước Sở, Tào Nga người
quê gốc Dương Tử, Trần Lâm người vùng Quảng Tây v.v.. Còn quá sớm để nói Sở –
Việt đồng nguyên, song Cảnh Sở vẫn là cư dân sông nước phương Nam. Tương tự như
vậy, tết Đoan ngọ ở Trung Hoa được tổ chức đặc biệt long trọng ở vùng sông nước
Dương Tử và Hoa Nam, ứng với vùng văn hóa Bách Việt cổ.
([4]) Tết Đoan ngọ từng xuất hiện
trong văn hóa Nhật Bản vào khoảng thế kỷ VIII, IX nhưng sau đó biến mất [Cát
Xuyên Chân Tư 2011].
([5]) Dân gian không nghỉ ngơi
vào tết Trung thu, mà đây là tết dành cho trẻ con
([6])Có thể thấy tục ăn thịt vịt,
thịt ngỗng hay chim ngói ở Việt Nam khá tương tương đồng với tục ăn canh thịt
cóc hay thịt chim cú (diều hâu) tại một số vùng ở Nam Trung Hoa [W. Eberhard
1968: 153-155].
([7]) Theo W. Eberhard [1968],
chiếc bánh ú ngày Đoan ngọ bắt nguồn từ tập tục của cư dân nhóm Thái, một trong
hai nhóm chính của Bách Việt cổ. Bánh ú được gọi là bánh tung
tử 粽子/zong zi/, đồng âm với từ tông tử 宗 子 tức tổ tiên, dòng họ.
Ngày nay, vùng Gia Hưng 嘉兴 (Chiết Giang) nơi có ngôi tổ miếu thờ Ngũ Tử Tư được
coi là quê hương chiếc bánh ú [tư liệu điền dã 2011].
([8]) Ngày nay người ta không còn
thả trôi sông nữa vì phong trào bảo vệ môi trường.
([9]) Người Đông Hán, rất hiếu
thảo. Tương truyền cha là pháp sư bị hại chết trôi sông, Tào Nga đi tìm 3 ngày
liền nhưng không thấy xác, nàng quyết định cùng trẫm mình xuống sông cùng
cha. Hôm ấy là ngày 5 tháng 5. Vài ngày sau, xác nàng nổi lên trong tư thế ôm
chặt xác cha mình, cả hai tỏa hương thơm ngác. Dân vùng Cối Kê (nay là Thiệu
Hưng) dựng miếu thờ, coi nàng là Nữ thủy thần cai quản nguồn nước cho dân [tư
liệu điền dã 2008].
([10]) Gắn liền với tục đeo bùa
tua bùa túi là hai câu chuyện dân gian Việt Nam:
(1) Len lén như rắn mồng 5: ngày mồng 5 ít khi gặp rắn. Ngày ấy loài bò sát này len lén đi trốn. Ngày ấy trẻ con đeo túi hồng hoàng (thư hoàng, realgar, orpiment) kỵ rắn nên chúng thường ẩn trốn.
(2) Sự tích con rắn mối: Thằn lằn cũng sợ hồng hoàng không kém. Sự tích kể rằng xưa có một người giàu hào phóng, cha mẹ mất, ăn tiêu thái quá đến tán gia bại sản, phải vay nợ nhiều người nhưng không thể trả. Chủ nợ đòi, anh hẹn lần hẹn lựa, một lần nọ anh ta hẹn ngày mồng 5 tháng năm sẽ trả nợ. Ngày hẹn tới, chủ nợ đến, anh ta đành phải trốn, rúc vào bụi cây trốn, chủ nợ tìm, anh ta sợ quá chết luôn ở đó, hóa thân thành con thằn lằn. Ngày thường thằn
lằn xuất hiện khắp nơi, song chúng thường lẩn trốn vào ngày 5 tháng năm. Dân gian có câu “trốn như thằn lằn mồng năm”.
(1) Len lén như rắn mồng 5: ngày mồng 5 ít khi gặp rắn. Ngày ấy loài bò sát này len lén đi trốn. Ngày ấy trẻ con đeo túi hồng hoàng (thư hoàng, realgar, orpiment) kỵ rắn nên chúng thường ẩn trốn.
(2) Sự tích con rắn mối: Thằn lằn cũng sợ hồng hoàng không kém. Sự tích kể rằng xưa có một người giàu hào phóng, cha mẹ mất, ăn tiêu thái quá đến tán gia bại sản, phải vay nợ nhiều người nhưng không thể trả. Chủ nợ đòi, anh hẹn lần hẹn lựa, một lần nọ anh ta hẹn ngày mồng 5 tháng năm sẽ trả nợ. Ngày hẹn tới, chủ nợ đến, anh ta đành phải trốn, rúc vào bụi cây trốn, chủ nợ tìm, anh ta sợ quá chết luôn ở đó, hóa thân thành con thằn lằn. Ngày thường thằn
lằn xuất hiện khắp nơi, song chúng thường lẩn trốn vào ngày 5 tháng năm. Dân gian có câu “trốn như thằn lằn mồng năm”.
([11]) Theo W. Eberhard [1968:
153] thì một số vùng ở Hoa Bắc coi đây là lễ hội lửa (fire
festival).
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thơ
Nguồn: Trang Văn Học và Ngôn Ngữ
http://khaitam.wordpress.com/2012/06/23/phong-tuc-tet-doan-ngo-viet-nam-va-trung-hoa-duoi-goc-nhin-chuc-nang-nguyen-ngoc-tho/
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thơ
Nguồn: Trang Văn Học và Ngôn Ngữ
http://khaitam.wordpress.com/2012/06/23/phong-tuc-tet-doan-ngo-viet-nam-va-trung-hoa-duoi-goc-nhin-chuc-nang-nguyen-ngoc-tho/
Solheim, Wilhelm G. II
n.d.a. Reflections on Prehistoric Southeast Asian Pottery and
Position of South China: Southeast Asian or Chinese. Submitted to Shigian
Yanjiu.
Solheim, Wilhelm G. II
n.d.a. Problems in the Relationship of the Prehistoric Pottery
of Vietnam to that of Island Southeast Asian. (Submitted
to Khảo cổ học in 1984, but not published by
1990.
Stamps, Richard B. 1980. Jar
Burials from the Lobussan Site, Orchid (Botol Tobago) Island. Asian
Perspectives 23(2): 181-92.
Sugihara, Sokuke and Chosuke Serizawa
1957. Shell Mounds of the Earliest Jomon Culture at Natsushima
Kanagawa Pref. Japan, Tokyo: Meoko University.
Sung, Wen-hsun, Huang Shi-chiang, Lien Chao
–mei and Li Kuang-chou 1967. O-luan-pi: A Prehistoric Site at
the Southern Tip of Formosa. Reprinted from Annual Bulletin
of the China Coucil for East Asian Studies No.6 (in Chinese
with English Summary).
Takamiya, Hiroe 1983. The
Historical Atlas of Okinawa, Japan (in
Japanese).
Tan, Ha Van
1974. Contributions to Studying the History of an Ear-ring
Variety. In Khảo cổ
học 24(4): 62-7. (in Vietnamese).
Valette, Jean
1965. De l’origine des Malgaches. Taloha : 1 :15-32.
You-di, Chin 1978. Nothing in
New, Muang Boran Journal 4(4):7-17.
http://kattigara-echo.blogspot.com/2012/08/cac-thuong-nhan-nusantao-ben-ngoai-ong_3830.html



01:42
danillewoods7537368
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét