GS.TS.
ĐỖ QUANG HƯNG
Bộ
môn Khoa học chính trị, Trường Đại học KHXHVNV
Đại
học Quốc gia Hà Nội
I. Đặt
vấn đề
Mới đây, tháng 12/2009 Trường
ĐHKHXH&NV của chúng ta đã tổ chức Hội thảo quốc
tế với chủ đề Nghiên cứu liên ngành trong Khoa
học Xã hội và Nhân văn: Kinh nghiệm và triển vọng. Trong phát biểu khai mạc
Hội thảo GS.TS. Nguyễn Văn Khánh, Hiệu trưởng nhà trường có nói rằng: “Trong
điều kiện hiện nay, mỗi nhà khoa học cũng như mỗi ngành học cụ thể vừa cần
chuyên môn hóa, tăng cường mở mang các hiểu biết bằng các phương pháp nghiên cứu
chuyên biệt của mình, đồng thời vừa phải chú trọng và mở rộng liên kết, thâm
nhập và hợp tác chặt chẽ với các ngành khoa học khác. Chính sự phát triển đến
trình độ cao, chuyên sâu của mỗi ngành, chuyên ngành sẽ đảm bảo cơ sở vững chắc
để phát triển nghiên cứu liên ngành hoặc các ngành liên ngành. Nghiên cứu liên
ngành chỉ thực sự đạt được những thành tựu nghiên cứu mới trên cơ sở kế thừa và
khai thác được thế mạnh của các ngành khoa học khác”[1].
Trong cuộc hội thảo này, chủ yếu
là cuộc đối thoại giữa các GS, các nhà nghiên cứu Trường ĐHKHXH&NV và một số
Trường đại học của Pháp, xoay quanh nhiều chủ đề có liên quan như: Lịch sử, Văn
minh và văn hóa; Kinh tế và quản lý; Ngôn ngữ học và Văn học; Tâm lý học, Xã hội
học và Khoa học giáo dục. Phần lớn các tham luận đi vào những chiều kích cụ thể
của “tính liên ngành”thể hiện qua mỗi chuyên ngành, gợi ra nhiều kinh nghiệm
trong nghiên cứu và đào tạo.
Trở lại với vấn đề này, tham
luận của chúng tôi muốn tiếp cận ở góc độ khác. Trên cơ sở đưa ra một cái nhìn
bao quát hơn về “tính lý thuyết”của phương pháp nghiên cứu liên ngành, đối chiếu
với thực tại của Trường chúng ta (cả bình diện nghiên cứu và đào tạo), để có thể
rút ra một số nhận định có tính phương pháp, tính thực tiễn sát hợp hơn, thúc
đẩy đường hướng nghiên cứu đúng đắn này trong điều kiện cụ thể của Nhà
trường.
Để đạt mục tiêu đó, tham luận
của chúng tôi đề cập 2 vấn đề sau đây:
- Thứ nhất, bàn thêm về “lý
thuyết nghiên cứu liên ngành”đối với Khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta hiện
nay.
- Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh
phương pháp nghiên cứu liên ngành ở Trường Đại học KHXH&NV chúng ta hiện
nay.
II.
Nội dung
II.1.
Bàn thêm về “lý thuyết nghiên cứu liên ngành”và những liên hệ cần
thiết
Cho đến hiện nay, khi nói
đến nghiên cứu liên
ngành (interdisciplinaire), đặc biệt trong lĩnh vực khoa
học xã hội và nhân văn, người ta thường nhấn mạnh đến sự chi phối trước hết của
lối nghiên cứu đa
ngành (multi-disciplinary), như một định đề mặc nhiên
được thừa nhận, đặc biệt từ nửa cuối thế kỷ XX. Điểm nhấn của lý thuyết này,
đúng như lời phát biểu trên đây là mỗi chuyên ngành cần có sự phát triển “trình
độ cao, chuyên sâu” để có thể “mở rộng liên kết, xâm nhập” với các
ngành khoa học khác.
Tính cách đa
ngành của lý thuyết này cũng được nhiều người trong chúng ta đi
sâu, thậm chí “mô hình hóa” nó, theo hướng: “Nghiên cứu liên ngành và một tổ hợp
của nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, đòi hỏi tính liên kết, tính tổ chức và
tính tập thể rất cao. Phương thức tốt nhất để tổ chức nghiên cứu liên ngành là
các nhóm nghiên cứu liên ngành”[2].
Lối “mô hình hóa” này cũng đưa
ra quan niệm “Nghiên cứu liên ngành không thích hợp với nghiên cứu cá nhân, cũng
không hiệu quả khi là tập hợp các chuyên gia cùng một chuyên ngành. Những chuyên
gia cùng một chuyên ngành dù giỏi đến mấy, khi ngồi cùng với nhau, trong một
nhóm như thế này, thì sự bổ sung, hỗ trợ nâng cao nhận thức của nhau trong nhóm
cũng không thật nhiều. Trái lại các chuyên gia ở các chuyên ngành khác nhau,
cùng có chung một vấn đề quan tâm… thì có thể làm giàu rất nhanh vốn hiểu biết
của mình cũng như toàn nhóm…”.
Như vậy là khi đề cập lý
thuyết nghiên cứu đa ngành, chúng ta có thói quen là nhấn
mạnh tính tất yếu của sự phối kết hợp của các chuyên gia của các chuyên ngành
khác nhau (đa ngành), dường như nó đối lập với “nghiên cứu cá nhân đơn lẻ và độc
lập”, mặc dù lập luận này cũng không phủ nhận vai trò cá thể trong nghiên
cứu.
Theo chúng tôi, cách hiểu lý
thuyết nghiên cứu đa ngành như thế đương nhiên
có tính hợp lý và thực tiễn. Nhưng việc “mô hình hóa” lý thuyết ấy cần có sự
tiếp cận từ những góc độ khác, để có thể lột tả đúng đắn hơn nữa bản chất của
“nghiên cứu đa ngành”.
Trước hết, chúng ta “đành phải”
trở lại câu chuyện sự phát triển của khoa học. Khoa học luận hiện nay đã chỉ ra
4 đặc tính quy luật của sự vận hành khoa học, chúng vừa có tính độc lập vừa phụ
thuộc lẫn nhau đó là: lý tính, thực nghiệm, tưởng tượng và kiểm
chứng. Trong đó thường xảy ra tình trạng xung đột thường xuyên giữa tư duy
lý luận và thực nghiệm luận (thực nghiệm thường phá hủy kết cấu của duy lý và
đòi hỏi nó phải tái cấu trúc). Sự bổ sung của yếu tố “tưởng tượng” và “kiểm
chứng” trong quá trình vận hành là rất quan trọng.
Tuy thế, nhìn một cách đại thể
trong lịch sử tư duy và khoa học thì, từ giữa thế kỷ XX trở về trước, khoa học
dường như đều dựa trên lối tư duy đơn thể, còn hiện nay là
sự ngự trị của tư duy phức hợp (pensée
complexe).
Theo ý kiến của Edgar Morin,
người sáng lập Hiệp hội tư duy phức hợp – APC (Paris) thì, bản chất của tư duy
hiện đại phải được hiểu là những gì được liên kết lại với nhau, đan dệt vào
nhau: “triển khai một lý thuyết, một logic, một tri thức luận về
tính phức hợp để có thể nhận biết con người”[3].
Trên cơ sở vạch ra những nguyên
tắc của khái niệm vĩ mô (nói như Pascal “Tôi
không thể quan niệm được cái toàn thể mà không quan niệm các bộ phận, và không
thể quan niệm được các bộ phận mà không quan niệm cái toàn thể”), làm rõ hơn mối
quan hệ “toàn thể nằm trong bộ phận, bộ phận nằm trong toàn thể”, Edgar Morin đã
gợi ý cho chúng ta bản chất, mục tiêu của tính phức hợp (la
complexité), xem đó như một động lực của khoa học hiện đại, trong đó để đạt
được kết quả ấy nó phải trải qua 3 giai đoạn. Ông viết: “Giai đoạn
đầu của tính phức hợp: ta thu nhận các tri thức giản đơn không
giúp ta nhận biết đặc tính tổng thể. Một nhận xét có vẻ tẻ nhạt như sau đây,
song các hệ quả của nó lại không nhàm chán: tấm tranh thảm lớn hơn tổng cộng các
sợi đã cấu thành nó. Cái toàn thể là lớn hơn tổng cộng những bộ
phận cấu thành.
Giai
đoạn thứ hai của tính phức hợp:
việc dệt nên tấm tranh thảm khiến cho chất lượng của loại sợi này hay loại sợi
khác không thể giúp cho tất cả đều được biểu hiện trọn vẹn. Chúng bị ức chế hoặc
mở ảo. Thế là cái toàn thể lại nhỏ hơn tổng cộng những bộ
phận.
Giai
đoạn thứ ba: tình hình đó gây nên những khó
khăn cho giác tính và cấu trúc tinh thần của ta. Cái toàn thể
vừa lớn hơn vừa nhỏ hơn tổng cộng những bộ phận”[4].
Lẽ dĩ nhiên, những ý kiến của
Edgar Morin về tri thức luận và tư duy phức hợp là mới mẻ và còn gây nhiều tranh
cãi. Nhưng ít nhất trong phạm vi nhận thức luận và phương pháp nó cũng cho ta
những kinh nghiệm quý báu về “những thảm cảnh tàn phá mà các quan điểm đơn giản
hóa đã gây ra, không chỉ trong thế giới trí tuệ mà cả trong cuộc sống”. Liên hệ
với chủ đề của chúng ta hôm nay, chúng tôi muốn có một liên hệ lý thuyết
rằng: bản thân nhu cầu của tri thức luận về tính
phức hợp tự nó cũng đòi hỏi mỗi cá nhân, cộng đồng (người bình thường cũng như
giới học thuật) phải tự trang bị cho mình phương pháp suy tư liên
ngành. Có như vậy trong thời đại của chúng ta hiện nay “cái
toàn thể” vừa lớn hơn vừa nhỏ hơn tổng cộng những bộ
phận.
Ý nghĩa triết học và phương pháp
này, sẽ soi rọi cho chúng ta một cái nhìn sâu rộng hơn về lý
thuyết nghiên cứu đa ngành. Cần khắc phục lối nhìn nó
như dấu cộng của các đơn thể (trong khoa học đã
“bị” phân hóa, cắt ra thành các chuyên ngành khác nhau), ngược lại phải coi nó,
phương pháp nghiên cứu liên ngành hôm nay như
một đòi hỏi tổng thể, vĩ mô và vi mô, của lối tư duy phức
hợp, điều mà nhân loại đang hướng tới.
Chúng tôi thử diễn tả, trong
cách hiểu như thế, nếu cần phải “mô hình hóa” lý thuyết nghiên cứu liên ngành
hôm nay là sự tái cấu hình (configuration) tổ
chức và hoạt động khoa học, bất kể khoa học xã hội nhân văn hay khoa học tự
nhiên. Điều đó không thể chỉ được hiểu đơn giản là “phương thức tổ chức nghiên
cứu liên ngành trên cơ sở nghiên cứu các nhóm nghiên cứu liên ngành”, dù rằng sự
tái cấu hình nói trên vẫn tôn trọng tính liên kết, tính tập thể và tổ
chức.
Khi đề cập đến nghiên cứu đa
ngành hiện nay, cũng có nhiều ý kiến nhấn mạnh vào việc nghiên cứu khu vực
hay Khu vực học (Area studies), nhất là trong nghiên cứu
khoa học xã hội và nhân văn. Thực ra việc nghiên cứu Khu vực
học hôm nay, đặt trong khung cảnh lý thuyết về tư duy phức hợp
mà chúng tôi đề cập ở phần trên, cũng chỉ là một biểu hiện trong việc nhận thức
sâu sắc, đầy đủ hơn về “cái toàn thể và cái bộ phận” trong đời sống nhân loại
hôm nay.
Nói tóm lại, ý nghĩa triết học
và phương pháp của lý thuyết nghiên cứu liên ngành là ở chỗ: nó không chỉ
là một phương pháp (trong nhận thức hoặc nghiên
cứu), không chỉ là một cách tiếp cận cần thiết trong khoa học xã hội và nhân văn
hôm nay, thậm chí là một tất yếu đi nữa mà nó còn/phải là đòi hỏi tự thân
của tri thức luận về tư duy phức hợp, mục tiêu và động lực
để đạt tới tính hiện đại (modernité) trong bối
cảnh thời đại cực hiện
đại (transmoderne) hiện
nay.
Nếu những suy nghĩ này là đúng
thì cách hiểu về nghiên cứu liên ngành theo chúng tôi phải là tổng thể của các
chiều kích sau đây:
- Thứ
nhất, chiều kích cá nhân: tự thân mỗi con người, mỗi nhà khoa
học phải vượt qua giai đoạn “nghiên cứu đơn nhất”, nói đúng hơn là dù chuyên sâu
về “nghiên cứu đơn nhất” cũng phải dựa trên những tri thức của “cái toàn thể”.
Điều này có lẽ nói rõ hơn yêu cầu của “hệ tri thức bổ trợ” với các chuyên gia
mỗi chuyên ngành cụ thể.
- Thứ hai,
bản thân mỗi chuyên ngành khoa học (ở đây là khoa học xã hội và nhân văn), ít
nhất từ giữa thế kỷ XX trở lại đây cũng phải tuân theo quy
luật tái cấu hình, theo hướng khắc phục sự đơn nhất, khu
biệt, hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa tính toàn thể và bộ
phận.
- Thứ ba,
chiều kích phối kết hợp giữa các đơn thể, các chuyên ngành. Sự phối kết hợp này,
như đã nói ở phần trên không chỉ có ý nghĩa như “một phương thức tổ chức tốt
nhất” để nghiên cứu liên ngành mà nó còn có ý nghĩa như một đòi hỏi tất yếu của
“cái tổng thể” (thực tại khoa học xã hội và nhân văn) khi đã/đang
được tái cấu hình[5].
Theo lôgic đó thì việc tổ chức
nghiên cứu, cao hơn là việc tái cấu hình khoa
học xã hội và nhân văn ở nước ta, hẹp lại là ở Trường ta, có lẽ cũng diễn ra
theo những chiều kích đó. Vấn đề chỉ còn lại là chúng ta cần nỗ lực suy nghĩ
hơn, đối chiếu tích cực, sáng tạo hơn với điều kiện thực tiễn của đất nước và
nhà trường để thực hiện được quá trình này.
2.2.
Nghiên cứu liên ngành trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn: Thành
tựu và triển vọng
2.2.1. Trường
ta khi mới thành lập, mái trường có vinh hạnh được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí quyết
định vào cuối 1945 đã có mô hình “liên ngành sơ khai”quen thuộc theo kinh nghiệm
Âu – Mỹ giữa thế kỷ XX, gọi là Đại học Văn Khoa, được hiểu
là Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn. Nhưng lúc đó thực chất là sự “đặt cạnh
nhau” của 3 ngành chính là Văn học, Sử học và Triết học (truyền thống “Văn – Sử
- Triết bất phân” đã có từ các giai đoạn trước) nhiều thầy giáo, nhà khoa học
tên tuổi của mái trường này thực ra cũng khó phân biệt họ là chuyên ngành gì.
Trường hợp các giáo sư nổi tiếng như Đặng Thai Mai, Nguyễn Văn Huyên, Trương Tửu
cho đến Trần Đức Thảo, Trần Văn Giáp…dù mỗi người trong họ đều có một mặt mạnh
để gọi họ là nhà triết học, nghiên cứu văn học, sử học hay dân tộc học…nhưng họ
lại tinh thông nhiều lĩnh vực lân cận.
2.2.2. Từ khi Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội ra đời, khối KHXH từng bước phát triển và chủ yếu theo mô
hình Xô viết, coi trọng tính chuyên biệt, sự phân hóa thành các ngành nghiên cứu
và đào tạo như Văn, Sử, Triết, sau đó bắt đầu có Khoa Luật, Kinh
tế…
Phải nói rằng mô hình này đặc
biệt đề cao tính chuyên sâu, chuyên ngành dù rằng về phương pháp nghiên cứu nó
không phủ nhận sự “hỗ trợ” của một số phương pháp có tính liên ngành. Dù sao, mô
hình ấy cũng đã tạo ra những ranh giới, những “chiến hào trí tuệ” mà từ đó nếu
không xảy ra sự xung đột thì cũng “kính nhi viễn chi”[6].
Mặc dù trong suốt mấy chục năm tồn tại của Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, tại hai
khoa lớn, Khoa Văn và Khoa Sử có được nhiều chuyên gia giỏi, nổi tiếng, nhiều
công trình nghiên cứu có ảnh hưởng trong cả nước và trong từng giới, nhưng chưa
có thể xuất hiện những công trình tầm cỡ lớn thể hiện tính cách liên
ngành.
2.2.3. Dưới mái trường
Khoa học Xã hội và Nhân văn của chúng ta hiện nay, một cấu trúc mới, hay có thể
áp dụng thuật ngữ trên là một thực tại giáo dục đào tạo theo
hướng tái cấu hình, thể hiện đa dạng và có chiều sâu hơn
tính liên ngành. Theo chúng tôi, khái quát lại những điều chúng ta đã làm được
là như sau:
- Thứ nhất,
ngày nay, từ một “mô hình văn khoa” hay “mô hình khoa học xã hội” (Xô viết)
chúng ta đã có một mô hình một trường đại học khoa học xã hội và nhân văn có
sự tái cấu hình rất rõ rệt trong từng ngành,
từng khối chuyên ngành. Từ khoa Văn, ngày nay nó đã là khối các khoa Ngôn ngữ,
Hán Nôm, Biên kịch và Điện ảnh (“sự lai tạo giữa văn học và điện ảnh”[7]).
“Sử học” ngày nay trong trường
chúng ta cũng đã đa nghĩa hơn nhiều. Bên cạnh những chuyên ngành lịch sử truyền
thống, các chuyên ngành trong “tộc họ” như Dân tộc học, Quốc tế học, Lưu trữ học
và quản trị văn phòng…đã có thể “ra ở riêng” thành những ngành khoa học có liên
quan. Trong đó, phải kể đến sự chuyển biến từ Dân tộc học sang Nhân học mang ý
nghĩa thật tiêu biểu về phương pháp, tri thức luận và tính hiện đại. Trường hợp
Khoa Đông Phương học cũng là sự liên ngành giữa Lịch sử, Văn học, Ngôn ngữ và
Văn hóa học.
Sự xuất hiện các Khoa Xã hội
học, Báo chí, Tâm lý học, Khoa học quản lý và sắp tới đây là Khoa học Chính trị,
Khoa học về chính sách cũng tạo thêm những không gian cần thiết cho nghiên cứu
liên ngành và nói cho cùng cũng đề đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của xã
hội.
Trường chúng ta cũng đã bỏ nhiều
công sức để xây dựng nhiều Trung tâm nghiên cứu và đào tạo về Thông tin – thư
viện; Hỗ trợ và tư vấn tâm lý; Châu Á Thái Bình Dương; Nghiên cứu giới và phát
triển; Nghiên cứu Trung Quốc; Nghiên cứu văn hóa quốc tế; Trung tâm nghiên cứu
dân số và công tác xã hội, đặc biệt là Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo đương đại
gần đây nhất…
Viện Việt Nam học và phát triển,
dù danh nghĩa trực thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội, nhưng vì nằm trên đất của trường
chúng ta, cũng đã trở thành một Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo liên ngành có
dấu ấn khá đậm nét của KHXH-NV.
- Thứ hai,
tư duy về phương pháp liên ngành cũng đã khiến chúng ta thúc đẩy chiều hướng tái
cấu trúc từng ngành, chuyên ngành cụ thể. Đây là một phương diện quan trọng có ý
nghĩa khá quyết định đến sự thành bại.
Rất mừng là trong nhiều khoa,
nhiều ngành nghiên cứu của trường chúng ta đã đi theo phương hướng này và đã có
những kết quả đáng khuyến khích.
Các khoa học lịch sử những năm
gần đây đã chú trọng đến việc nghiên cứu Khu vực học[8],
vận dụng những lý thuyết và phương pháp chuyên ngành hiện đại. Về mặt này, Khảo
cổ học cũng có những chuyển biến khá rõ khi vận dụng những kiến thức, phương
pháp của khoa học tự nhiên, điều mà ngành khoa học này từ lâu đã có ý thức[9].
Nhiều ngành khoa học vốn yên
tĩnh và tính khu biệt cao như Văn học, Triết học… ngày nay cũng đã tích lũy cho
mình nhiều kinh nghiệm cụ thể về nghiên cứu liên ngành[10].
Đối với những ngành mới ra đời,
việc vận dụng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu liên ngành có vẻ “tự nhiên” và
thuận lợi hơn. Chẳng hạn, ngành Tâm lý học hôm nay đã khác nhiều so với Tâm lý
học cổ điển (chủ yếu tâm lý học cá nhân, tâm lý học xã hội), chúng ta đã quan
tâm đến tâm lý học thần kinh, lâm sàng (có những liên đới
với Phân tâm học - Psychanalyse)…
Chúng tôi muốn dừng lại chút ít
ở một ngành khoa học còn non trẻ ở Trường chúng ta là Khoa học
chính trị. Khoan hãy bàn đến hoặc nói lại về tính cách của ngành Khoa học
chính trị ở nước ta. Đây là một trong những ngành khoa học mũi nhọn ở nhiều
trường đại học Âu – Mỹ. Đặc điểm “liên ngành” của ngành khoa học này còn thể
hiện sâu sắc ngay ở các phương pháp tiếp cận cơ bản của nó. Khoa học chính trị
luôn bị giằng xé giữa nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu có tính xã hội
học và thực nghiệm, điều mà đã làm các nhà Chính trị học và Sử học xa cách
nhau[11].
Tuy vậy, trên cơ sở nỗ lực tìm
ra các điểm tương đồng giữa Sử học và Chính trị học người ta cũng rút ra được
những kết luận để tạo nên “phương pháp liên ngành” giữa bản thân hai ngành khoa
học gần gũi này. Phillip Tetlock và Aron Belkin trong cuốn Lật
ngược vấn đề qua thí nghiệm trong lĩnh vực chính trị quốc tế: Logic luận, Phương
pháp luận và Tâm lý luận (1996) đã rút ra sự “liên ngành” giữa
sử học và chính trị học nhờ vào: “Cả hai chuyên ngành này đều nằm trong số các
ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng không thể dùng phòng thí nghiệm. Cả
hai ngành đều áp dụng phương pháp truy nguyên. Cả hai đều phải có sự tưởng tượng
và lập luận theo kiểu lật ngược vấn đề. Nhưng còn dự báo, hoặc chí ít kiến nghị
chính sách thì sao? Hầu hết các nhà sử học lảng tránh những ưu tiên này như ma
cà rồng gặp cây thánh giá. Còn nhiều nhà khoa học chính trị lại nhiệt tình làm
việc này. Nếu có điểm đồng ở lĩnh vực này thì cũng rất khó tìm ra”[12].
Thí dụ này gợi cho chúng ta
những suy nghĩ thú vị khi xác định việc mở các chuyên ngành mới và xác lập cho
nó những phương pháp nghiên cứu cơ bản ban đầu.
- Thứ ba,
trong thực tiễn cũng đã có không ít những kết quả của phương pháp nghiên cứu
liên ngành ở Trường chúng ta. Mới đây khi “nhìn lại” những kết quả nghiên cứu
của Nhà trường trong dịp hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, chúng ta
cũng đã ghi nhận những kết quả đáng khích lệ của Viện Việt Nam học và khoa học
phát triển trong việc tổ chức nghiên cứu, phối kết hợp giữa nhiều chuyên ngành
trong và ngoài nhà trường.
2.2.4.
Mấy suy nghĩ phía trước
·GS A.
Florin trong tham luận Cấu trúc nghiên cứu trong khoa học xã hội
và nhân văn tại vùng Loire: Một vài ví dụ liên ngành và liên trường, đã gợi
cho chúng ta một kinh nghiệm ở Pháp mà chúng ta nên hướng tới. Đó là, cấu trúc
nghiên cứu liên ngành hiện nay không chỉ diễn ra với từng ngành, từng trường
hoặc liên trường – viện, mà nó còn đòi hỏi phải có những dự án lớn liên kết
nghiên cứu Quốc gia – Khu vực (Les Contrats de Projets Etat-Région, gọi
tắt là CPER)[13].
Có lẽ trường chúng ta cũng có sứ
mệnh như vậy khi có thể mở rộng sự liên kết, thông qua Nhà nước và Chính quyền
địa phương, tạo nên những mô hình liên kết mới như thế, đáp ứng được quy mô, vị
thế của những vấn đề nghiên cứu lớn.
·Chúng
ta đã có những nỗ lực thay đổi cấu trúc ngành nghề, nói cách khác
là tái cấu hình trường ĐHKHXH&NV hiện đại
đa ngành, đa lĩnh vực, đào tạo chất lượng cao và nghiên cứu cơ bản. Một mặt, cần
hướng tới sự hoàn thiện mô hình đó trên cơ sở tính toán cân nhắc mà những kinh
nghiệm lý thuyết chúng tôi đã đề bên trên nói tới. Đối với một số ngành rất cần
thiết nên thúc đẩy sự ra đời của chúng. Chẳng hạn, Nghiên cứu
tôn giáo (Tôn giáo học) là một ngành như thế. Hiện nay việc đào
tạo chuyên ngành và cao học Tôn giáo học thuộc khoa Triết học, trước mắt vẫn là
hợp lý. Nhưng không thể không nghĩ đến một ngành độc lập cho
nó.
·Cần rà
soát các hướng nghiên cứu, chương trình đào tạo của tất cả các ngành hiện có
theo hướng phối kết hợp nghiên cứu liên ngành giữa các ngành hoặc giữa hai ngành
(song phương và đa phương) để có được sự tiến triển hơn nữa về nghiên cứu và đào
tạo, cập nhật và hiệu quả.
Cuối cùng với mỗi con người
chúng ta chắc hẳn cũng không thể chỉ đào sâu “chuyên môn”của mình theo
hướng sự sùng bái những điểm khác biệt nho nhỏ giữa mình với
người khác, ngược lại muốn trở thành một chuyên gia giỏi thực sự trong bất
cứ lĩnh vực nào thì cũng phải có được một tư duy phức
hợp.
Hà Nội
ngày 29 tháng 10 năm 2010
[1] Kỷ yếu Hội thảo quốc
tế Nghiên cứu liên ngành trong Khoa học xã hội và nhân văn: Kinh nghiệm và triển
vọng, Trường ĐHKHXH&NV, Hà Nội 12/2009, tr.7.
[2] Xem bài Nghiên cứu và
đào tạo liên ngành: Ưu thế và trọng trách của ĐH Quốc gia Hà Nội, tham luận của
Chi bộ Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ ĐH
Quốc gia lần thứ IV (9/2010), tr.3.
[3] Edgar
Morin, Nhập môn tư duy phức hợp (Introduction à la pensée complexe), Nxb Tri
thức, 2009, tr.15.
[4] Edgar
Morin, Nhập môn tư duy phức hợp, sđd, tr.131-132.
[5]
[6] Điều này
phải chăng là kết quả của thứ nhận thức “sự sùng bái những điểm khác biệt nho
nhỏ giữa mình và người khác”như Sigmund Freud có nói trong
cuốn Nền văn minh và Sự bất đồng của nó, New York, Norton,
1961.
[7] Xem bài
của Trần Hinh, Lai tạo giữa văn học và điện ảnh trong sáng tác
của M.Duras, trong Kỷ yếu Nghiên cứu liên ngành… sđd,
tr.218-228.
[8] Xem bài
của GS Vũ Dương Ninh, PGS.TS Nguyễn Văn Kim… trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế,
Nghiên cứu liên ngành…sđd.
[9] Xem bài của PGS.TS Lâm
Thị Mỹ Dung, Sử dụng phương pháp và lý thuyết của Khảo cổ học hiện đại trong
nghiên cứu Khảo cổ học Việt Nam: Vấn đề và triển vọng, trong Kỷ yếu Hội thảo
Quốc tế, Nghiên cứu liên ngành…sđd.
[10] Chẳng hạn xem bài của
PGS.TS Trần Ngọc Vương, Từ thực tế nghiên cứu lịch sử Văn học
Việt Nam thời trung đại bàn về việc phối hợp nghiên cứu liên ngành, trong Kỷ
yếu Hội thảo Quốc tế, Nghiên cứu liên ngành…sđd. Tương tự
như vậy, có thể tham khảo ý kiến của PGS.TS Nguyễn Hồng
Cổn, Nghiên cứu liên ngành trong Việt ngữ học; của PGS.TS
Trần Nho Thìn về phương pháp nghiên cứu liên ngành trong Văn
hóa…
[11] Chẳng hạn việc áp
dụng phương pháp định tính và định lượng trong nghiên cứu Chính trị học hiện đại
cũng bắt buộc như các phương pháp so sánh, tâm lý học đám đông, tâm lý học lãnh
đạo… Xem Christopher Shea, Các nhà khoa học chính trị tranh cãi
nhau về giá trị nghiên cứu khu vực, trong tạp chí Chronicle
of Higher Education, số 43, (1/1997).
[12] Dẫn lại trong
cuốn Phương pháp nghiên cứu khoa học, Học viện Ngoại giao,
Nxb Thế giới, 2008, tr.25.
[13] GS A. Florin cho
chúng ta biết dự án CPER có giá trị trong 7 năm tài chính (2007-2013), giữa đại
diện của nhà nước, chính quyền khu vực Loire và lãnh đạo 3 trường đại học chủ
yếu trong vùng với 10 chương trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực như nghiên cứu
y học, nông nghiệp, vật liệu, năng lượng, khí lỏng, khoa học và kỹ thuật truyền
thông đại chúng, hóa học… và tất nhiên có những nội dung của khoa học xã hội và
nhân văn. Chương trình này cũng hướng tới cả việc đào tạo hàng loạt các nhà
nghiên cứu – sư phạm; các tiến sĩ, các kĩ thuật viên… Xem tham luận của GS này
trong Kỷ yếu Nghiên cứu liên ngành…sđd, tiếng Pháp,
tr.40-44.
Nguồn:
http://www.google.com/url?sa=t&rct=j&q=nghi%C3%AAn+c%E1%BB%A9u+li%C3%AAn+ng%C3%A0nh&source=web&cd=2&ved=0CE8QFjAB&url=http%3A%2F%2Ftainguyenso.vnu.edu.vn%2Fjspui%2Fbitstream%2F123456789%2F5538%2F1%2FNghien+cuu+lien+nganh.doc&ei=2xYRUIjWHqqj0QXd8YDoDw&usg=AFQjCNF-35DnKdq3dQNCCLuhVZhY_98VgA
http://chuyencuachi.blogspot.com/2012/07/may-van-e-ve-nghien-cuu-lien-nganh.html



20:35
danillewoods7537368
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét