Tác giả: G.N. Machusin Nhà xuất bản
Mir, Maxcova, 1982
Người dịch : Phạm Thái Xuyên dịch
sang tiếng Việt có bổ sung và sửa chữa Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội, 1986
CÔBI-FORA
Trong thời niên thiếu, chính con
trai của vợ chồng Luis và Mêri Liki là Risac Liki đã tuyên bố là cậu ta đã chán
ngấy khảo cổ học và nhân chủng học, cậu ta sẽ không học ngành nào cả. Risac đã
trở thành người đi săn chuyên nghiệp và đã sống mấy năm trong rừng rậm. Thời
gian đó, Luis Liki đã chuẩn bị xong cho cuộc khảo sát quốc tế đầu tiên của
"những người săn tìm vật cổ" ở Êtiôpi. Người ta đã thuyết phục ông tham gia cuộc
khảo sát đó - cuộc khảo sát của những nhà khoa học nổi tiếng nhất - C. Arambua,
I. Côpen từ Pháp đến, Clac Hauen từ Mỹ đến và của nhiều nhà khoa học khác nữa.
Nhưng ngay trước khi lên đường thì ông lại bị ốm. Các bác sĩ cấm không cho ông
tham gia đoàn khảo sát. Luis gọi con trai đến và yêu cầu tạm thời thay ông làm
việc ở Ômô. Cực chẳng đã, Risac lên đường đi Êtiôpi. Lúc đầu, Risac không gặp
may. Ở Ômô, trong khu vực mà Risac đặt chân đến, không có những lớp cổ xưa để có
thể tìm thấy tổ tiên. Risac làm việc một mùa ở Ômô và bắt đầu suy tính. Nếu buộc
phải quay về với khảo cổ học thì tốt hơn cả là phải tìm cho mình một vị trí độc
lập. Không có bằng cấp mà làm việc trong cùng một đoàn khảo sát với những giáo
sư có tước vị như Arambua, Côpen hoặc Hauen, thì có nghĩa là lúc nào cũng phải
phụ thuộc vào họ. Nếu Risac có một phát hiện nào đó thì mọi người sẽ cho rằng
các giáo sư đã phát hiện ra. Risac quyết định chọn cho mình một địa điểm khác.
Risac ước tính và đi theo các tuyến đường đi săn của mình trước đây một cách
chính xác hơn. Risac lấy chiếc máy bay lên thẳng mà đoàn thám hiểm đã thuê chung
và bay quay trở lại Kênia. Risac lượn quanh bờ phía đông hồ Tucan và dừng lại lơ
lửng trên không, nơi mà phía dưới là những vách đá dựng đứng trải dài ra và đã
bị xói mòn - những vách đá dựng đứng ấy có vẻ hứa hẹn. Sau khi đỗ máy bay xuống,
Risac đã ở trong một cảnh quan có niên đại ba triệu năm. Xương động vật hóa
thạch ngổn ngang chung quanh. Tuy không phải chuyên nghiệp, Risac cũng phải ngạc
nhiên. Risac bay trở lại Ômô và công bố cho mọi người biết rằng Risac rời bỏ
đoàn khảo sát.
Từ đó, Risac tiến hành những
nghiên cứu của riêng mình, trong xứ sở của mình. Trước người cha nóng tính, đó
là một quyết định dũng cảm đối với người thanh niên 23 tuổi. Cuộc đột kích bằng
máy bay lên thẳng là một hành động trinh sát táo bạo nhằm truy tìm những vật cổ
xưa. Risac Liki thành lập một đội khảo sát gồm những người có chuyên môn và dựng
một cái trại cố định ở Côbi-Fora - ở mũi đất thuộc bờ phía đông và lấn sâu vào
hồ Tucan. Những vật tìm được của Risac đã tạo nên những ấn tượng gây chấn động
toàn thế giới.
Thế Risac Liki đã tìm thấy cái
gì ở Côbi-Fora?
Những phát hiện của Risac Liki
đã biến người đi săn trong rừng rậm không ai biết đến thành một trong những nhà
khoa học nổi tiếng thế giới. Chính phủ Kênia ủy thác cho Risac lãnh đạo tất cả
các cuộc khai quật trong nước. Hội địa lý học quốc gia đã cấp cho Risac những
khoản tiền như đã cấp cho người bố của Risac. Hàng triệu người đã đọc những bài
báo của Risac. Báo "Sự thật" Liên Xô và những báo chí khác đã đăng lại những bài
phỏng vấn Risac.
Đến được Côbi-Fora quả là không
đơn giản. Con đường từ Nairôbi, chạy qua sa mạc, qua những vùng đất muối
(sôlônsăc), sau đó vượt qua những khối đá núi lửa sắc như những chiếc rìu băm
cắt lớp xe ôtô. Có một tấm ảnh thơ mộng chụp Risac Liki đang cưỡi trên lưng lạc
đà. Tuy nhiên, tốt hơn cả là dùng xe Len-Rôve (xe chạy mọi địa hình) hoặc máy
bay lên thẳng hạng nhẹ để vượt qua sa mạc và những vách đá. Risac Liki đã đi
bằng máy bay nhiều hơn để đến thẳng hồ. Hồ Tucan dài 300 km, nhưng đã có thời kỳ
chiều dài của nó nước tràn ngập bờ hồ, nhận chìm cả sinh vật và nơi ở của những
người đi săn sơ khai. Di cốt của những sinh vật bị ngập nước đã bị bùn phủ kín.
Sau đó nước hồ rút đi. Sự sống lại trở lại ở những nơi trước kia bị ngập nước,
và sự kiện này đã xảy ra nhiều lần. Nhiều lớp bùn đã được hình thành và không dễ
dàng nghiên cứu những lớp bùn ấy.
Nhiều nhà địa chất đã làm việc ở
Côbi-Fora. Mỗi người soạn ra biểu đồ của mình về mức nước lên xuống của hồ.
Những lớp cổ xưa được xác định niên đại khi thì 3 triệu, khi thì 1 triệu năm.
Một cặp "lớp có nhãn hiệu" của đá túp núi lửa được tách ra. Có thể xác định niên
đại của chúng theo đồng vị phóng xạ. Một trong hai lớp đó do nhà nữ địa chất học
ở Trường đại học tổng hợp Ien là Kây Beresma phát hiện ra. Lớp này được đặt tên
theo những chữ cái đầu trong tên gọi của nhà nữ địa chất ấy - KBS. Đó là lớp
quan trọng nhất. Vì rằng ở trên cũng như ở dưới lớp này, đặc biệt có nhiều xương
hóa thạch và công cụ cổ xưa, và thậm chí có cả di cốt của chính con người. Những
cuộc tranh cãi kéo dài hàng chục năm về niên đại của lớp KBS đã lôi cuốn các
nhà khoa học của nhiều nước, và chỉ chấm dứt vào năm 1982 tại hội nghị ở
Maxcơva.
Risac Liki tập trung sự chú ý
chủ yếu của mình để nghiên cứu những vật tìm được ở lớp KBS. Ở đây đã tìm thấy
những công cụ cổ xưa nhất. Risac Liki thành lập một đội khảo sát gồm những người
Kênia địa phương và huấn luyện cho họ biết cách tìm những chiếc xương và công cụ
cổ xưa nhất. Đội khảo sát gồm những người Kênia này đã phát hiện ra nhiều di
chỉ, nhiều địa điểm có những chiếc xương cổ xưa nhất ở Côbi-Fora. Một trong số
những người Kênia ấy là Kamaia Kimxy, bây giờ đã trở thành một trong số những
chuyên gia thực địa giỏi nhất về xương hóa thạch của họ người ở châu Phi. Gần
như cùng một lúc đã tìm thấy xương của họ người ở bốn địa điểm. Một số người tìm
thấy những chiếc xương ấy ở ngay lối đi vào trại, những người khác - cách trại
10 dặm, một số khác nữa - cách trại 20 dặm, nhóm thứ tư - phong phú nhất - cách
trại 25 dặm chếch về phía bắc. Nhưng khó mà xác định được di chỉ nào cổ xưa hơn,
di chỉ nào có tuổi ít hơn. Xương của ôstralôpitec (rôbustus) thường gặp rất
nhiều. Cũng đã tìm thấy những mẫu xương nhỏ và Risac Liki cho rằng đó là di cốt
của "người khéo léo". Ông hy vọng mình không chỉ củng cố thêm những phát hiện
của cha mình mà còn sẽ chứng minh được "người khéo léo" là một loài riêng biệt,
cũng như xác định được loài này đã tồn tại bao nhiêu
lâu.
Ở Côbi-Fora có những điều kiện
tốt để làm việc đó. Các lớp ở đây phong phú hơn ở Ônđuvai, đi sâu vào lòng thời
gian hơn, những di cốt của người và động vật hóa thạch cũng nhiều hơn. Năm 1972,
Risac Liki đã có một phát hiện gây chấn động hơn tất cả các phát hiện khác. Dưới
lớp đá túp, Liki đã tìm thấy một chiếc sọ người khác thường. Ông xác định niên
đại chiếc sọ ấy là 2,9 triệu năm vì rằng chiếc sọ ấy nằm dưới lớp KBS, mà lớp
này - những người nước Anh đã xác định niên đại theo đồng vị phóng xạ là 2,6
triệu năm.
- Ông gọi
tên người mới như thế nào ? Người ta hỏi ông trong cuộc phỏng
vấn.
- Tôi gọi là Người. Tôi không
đặt cho người mới này một cái tên đặc biệt vì rằng đó không phải là ngành chuyên
môn của tôi. Đối với tôi, chỉ có hai giống thuộc họ người trên hồ Tucan - một
giống tôi gọi là ôstralôpitec - tất cả đều là rôbustus. Những người còn lại -
đều là người. Nghĩa là Risac Liki đã xếp cả "bêbi từ Taung" và tổ tiên của
Zinzanthropus vào cùng một loài - loài người. Vật mới tìm được này đã ghi vào
bảng thống kê với số liệu KMN- EP-1470. Người ta còn gọi nó theo địa điểm tìm
thấy - Đông Ruđônfơ. Vì Risac không đặt tên cho người hóa thạch, nên vật tìm
được này của ông đi vào khoa học thế giới với số hiệu No.1470. Đó là một trong
những vật hóa thạch tuyệt vời nhất tìm được trong thế kỷ. Tất cả các nhà khoa
học thế giới đều gọi nó như vậy. Nếu một người nào đó nói đến số hiệu 1470, thì
bất kỳ nhà khảo cổ, nhà nhân chủng học nào trên thế giới đều hiểu người ấy nói
về cái gì. Căn cứ vào chiếc sọ mà đoán định thì đó là con người với nghĩa đầy đủ
của từ đó. Sọ của người này cao hơn, thanh mảnh hơn và tròn hơn so với những
chiếc sọ thuộc dòng ôstralôpitec. Điều tuyệt diệu là thể tích sọ - 775 cm3. Đó
là một con số khẳng định, vì khác với những chiếc sọ Ônđuvai, chiếc sọ này hoàn
toàn nguyên vẹn. Vợ của Risac là Miv, đã buộc phải giải quyết không ít những
việc nan giải trước khi gắn kết từ hàng trăm mẩu xương bé tý thành chiếc sọ. Vật
tìm được mang số 1470 làm cho mọi người choáng váng trừ Luis Liki. Ông rất mãn
nguyện vì vật tìm được này. Nó khẳng định chính cái điều mà ông mơ ước từ lâu:
loài người đã xuất hiện từ lâu, từ rất xa xưa, và bằng cớ cho điều đó đã được
tìm thấy. Đó là một trong số không nhiều những thời điểm tươi sáng trong cuộc
đời của Luis. Ông già rồi và lại bị ốm trầm trọng, trách nhiệm nặng nề luôn dày
vò ông. Sự phát hiện của con trai - một thành công rực rỡ đối với Luis Liki. Và
sự kiện đó đã xảy ra vào chính năm 1972, năm ông qua đời. Cái chết đã đến với
ông khi mà người con trai ông - Risac Liki, đã đạt đến đỉnh quang vinh, hoàn tất
sự nghiệp của bố.
Những dạng "người khéo léo" khác
ở Ônđuvai có tuổi từ 1,5 - 1,8 triệu năm. Thể tích sọ - 640 cm3. Ở đây, sọ có
bước nhảy vọt khổng lồ, đến 775 cm3, còn tính theo tuổi thì nó sớm hơn đến 1
triệu năm. Cây phả hệ của con người là một đường cong? ! Rôbustus không phải là
tổ tiên con người, đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa, Những chiếc sọ cổ xưa
nhất của rôbustus ở Ômô chỉ có 2 triệu năm tuổi. Ở Côbi-Fora cũng tìm thấy sọ
của rôbustus, nhưng chỉ có tuổi 2 triệu năm. Nếu tuổi của chiếc sọ 1470 được xác
định chính xác, thì hóa ra là nó còn sớm hơn Zinj (Đông Phi) đến 3/4 triệu năm
nữa ! Risac Liki đã tuyên bố không có ai trong số những người hóa thạch tìm được
là tổ tiên của chiếc sọ 1470. Và tất cả các lý thuyết tiến hóa đều không đúng.
Mới cách đây không lâu, người ta còn cho rằng ôstalôpitec châu Phi - "bêbi từ
Taung" là tổ tiên, đến bây giờ quan niệm ấy đã bị chôn vùi như những quan niệm
khác.
Mọi việc đều do niên đại xác
định. Tuổi của "africanus" ở Nam Phi vẫn chưa xác định được, mặc dù phần lớn các
nhà khoa học cho rằng "africanus" đã sống vào khoảng thời gian từ 2 đến 2,5
triệu năm trước đây. Còn 1470 là 2,9 triệu năm. Nghĩa là "africanus" không có
thể là tổ tiên của 1470. Cổ xưa hơn 1470 thì chỉ có hai vật tìm được của họ
người ở Bắc Kênia - xương tay ở Kanapôi - 4 triệu năm, và một mẩu xương hàm cùng
với răng ở Lôtêghem - 5,5 triệu năm. Cả hai vật tìm được này chỉ là hai mẩu bé
nhỏ. Căn cứ vào chúng, không thể nói được bất cứ vấn đề gì, ngoài vấn đề sau đây
: hình như chúng cũng thuộc họ người, phải chăng những dạng ấy là tổ tiên,
những anh em họ hoặc là thuộc dòng ôstralôpitec bôixây. Vẫn chưa rõ. Như vậy,
con người đã trở nên cổ xưa cũng như tổ tiên của mình. Căn cứ vào nhiều dấu
hiệu, các dạng ôstralôpitec rôbustus và bôixây là nguyên thủy hơn cả. Cũng không
thể hiểu gì hơn về những dạng này.
Bây giờ đã biết rõ "người khéo
léo". Ảnh hưởng của "người khéo léo" bỗng nhiên tăng lên. Dù cho Risac Liki
không đặt một cái tên đặc biệt cho 1470 - "Tôi chỉ muốn gọi là "Homo", ông đã
nhắc đi nhắc lại điều đó. Tuy nhiên, cũng không khó khăn gì liên hệ 1470 với địa
vị "thống trị" của những "người khéo léo" ở Ônđuvai. Tuổi của dạng người này
được kéo dài thêm một triệu năm nữa. Bây giờ nhiều người đã thừa nhận "người
khéo léo" là một loài riêng biệt. Tuy nhiên không phải mọi người đều đồng ý như
vậy. Lôring Brây ở Trường đại học tổng hợp Misigân là người nêu ý kiến phản đối
có tính nguyên tắc nhất. Ông đã nhiều năm ròng xây dựng nhánh trực tiếp cho cây
phả hệ của con người. Ông giải thích những sai khác cá thể ở những chiếc sọ -
những biến thể trong nội bộ loài, cũng giống như những cá nhân khác nhau trong
loài người hiện đại. Như vậy, chỉ có những cá thể khác nhau về niên đại : ở một
số cá thể có sọ lớn hơn, ở số khác - nhỏ hơn. Nhưng tất cả những cá thể ấy đều
thuộc một loài. Trong nhiều năm, Brây và những người kế tục ông đã mô hình hóa
cây tộc hệ của con người dưới dạng một nhánh trực tiếp: ôstralôpitec - người đi
thẳng - người hiện đại. Điều đó có nghĩa là ông thống nhất tất cả ôstralôpitec
cùng với "người khéo 1éo" vào một loài. Sơ đồ của Brây hấp dẫn ở chỗ là nó đơn
giản. Nhưng cùng với sự phát hiện ra 1470 thì không thể sắp xếp những dạng ấy ở
cùng một mức độ. Những dạng ấy có tuổi khác nhau. Lúc đó, Brây chỉ tách rôbustus
ra thành một loài riêng biệt, nhưng cũng như trước đây, ông thống nhất "người
khéo léo" và "africannus" vào một loài.
Risac Liki xem xét vấn đề theo
cách khác. Cho đến nay, ông vẫn không thừa nhận là đã có "dạng châu Phi" thuộc
ôstralôpitec ở Nam Phi. Ông gọi tất cả những dạng đó, cả "Bêbi ở Taung", cả
"người khéo léo", cả 1470 - "người", còn tất cả rôbustus là ôstralôpitec. Như
vậy, cả Brây, cả Risac Liki đều gộp chung "người khéo léo" và "Bêbi ở Taung"
(africanus và habilis) vào một loài, vào một "rọ". Nhưng Liki và Brây đã dán
những chiếc nhãn khác nhau cho chiếc rọ ấy. Tựu trung, các cuộc tranh luận đều
dẫn đến một vấn đề đã có từ lâu đời : loài là gì ? Thường thì người ta xếp một
nhóm động vật hay thực vật bị cách ly lâu dài với những nhóm động vật hay thực
vật khác, vào một loài, vì sự cách biệt đó, ở nhóm này đã hình thành những sai
khác di truyền trong cơ thể. Sự cách biệt có thể là tự nhiên - sa mạc hoặc đại
dương đã phân tách hai quần thể mà trước đây trong một khoảng thời gian nào đó
chỉ là một quần thể. Sự cách biệt cũng có thể là do tập tính : ví dụ, chó không
chung đụng với mèo là không phải chỉ do chúng không có ý định làm việc đó, mà
còn do những sai khác lớn về di truyền giữa chúng, nên không thể sinh con đẻ
cái. Ngựa và lừa là những loài gần gũi nhau hơn so với mèo và chó. Nhưng khi
giao phối với nhau, chúng sinh ra con la. Nhưng bản thân con la lại bất
thụ.
Lôring Brây đã xác định những
sai khác giữa ôstralôpitec africanus với "người khéo léo" và đã không tìm được
những sai khác tới mức phải dán những chiếc nhãn của những loài khác nhau cho
những dạng người ấy. Sự hoài nghi không chỉ do sự xác định loài của những vật
tìm được gây nên, mà cả niên đại của chúng nữa. Với niên đại 2,9 triệu năm của
chiếc sọ 1470 không phải là chuyện đơn giản. Mặc dù đã nhận được niên đại đó từ
phòng thí nghiệm của Fise và Mule ở Luân Đôn theo phương pháp đồng vị phóng xạ.
Điều đó đã làm cho 1470 trở thành một trong số những dạng cổ xưa nhất. Tuy
nhiên, không phải tất cả các nhà khoa học đều đồng ý với niên đại đó. Ví dụ,
trong cuộc hội nghị năm 1974 về nguồn gốc con người ở Viện khảo cổ học Liên Xô,
nhà nhân chủng học nổi tiếng V. P. Alecxêep đã nói về chiếc sọ
1470:
- Tôi không nghĩ rằng 1470 lại
có 2,9 triệu năm tuổi và lại có dạng người đến thế. Có thể có sai sót về niên
đại khi dán nhãn.
- Nhưng chiếc sọ này lại nằm ở
phía dưới lớp đá túp thuộc lớp KBS kia mà. Lớp đá túp có 2,6 triệu năm tuổi.
Niên đại này đã được xác định theo phương pháp kali-acgon, - các đồng nghiệp
không tán thành.
- Ở đây có một cái gì đấy nhầm
lẫn về niên đại. Chúng ta hãy nhìn về một phía khác trong thời gian hai triệu
năm. Ở đó không có cái gì cả ngoài những chiếc sọ ít phát triển giống như thuộc
dòng ôstralôpitec nguyên thủy với những chiếc răng lý thú. Khi chúng ta đi sâu
vào lòng thời gian một triệu năm nữa, thì bỗng nhiên nảy ra 1470. Chiếc sọ này
hiện đại tới mức dựng tóc gáy.
- Ông cho rằng niên đại được xác
định sai ? - Tác giả cuốn sách này hỏi. Chắc là thế. Thật ra, địa tầng ở
Côbi-Fora hết sức phức tạp và rất khó giải thích. Các lớp rất mỏng và do đó dễ
dàng bị hủy hoại. Các lớp đá núi lửa xen vào giữa rất ngắn. Chúng bị gián đoạn,
tan vỡ và xáo trộn. Nhiều chỗ khó mà gắn kết lớp này với lớp khác. Điều đáng
ngạc nhiên hơn cả là xương của động vật hóa thạch nằm cả ở phía trên và cả phía
dưới lớp đá túp của lớp KBS (2,6 triệu năm), nhưng ở Ômô chúng lại nằm ở những
lớp trẻ hơn. Về mặt lý luận thì sinh vật ở hai địa điểm ấy phải giống hệt nhau
vì chúng ở cách nhau chỉ có 50 dặm. Và nhiều động vật trong số đó như voi chẳng
hạn, có thể tự do đi từ Ômô đến Côbi-Fora và ngược lại. Khí hậu ở cả hai địa
điểm này là như nhau.
Khi xem xét những bộ sưu tập ở
Côbi-Fora, Clac Hauen đã đưa ra nhận xét với Bazin Kuc - chuyên gia nghiên cứu
nhóm lợn. - Lợn ở Côbi-Fora không giống với lợn của chúng ta cũng cùng thời kỳ
đó. Những con lợn này trông có vẻ trẻ hơn. Bazin Kuc chú ý đến những con lợn ở
phía đông hồ Ruđônfơ. Ông đã nghiên cứu một cách chi tiết sự tiến hóa của lợn
trong vòng 2 triệu năm. Ông làm việc chủ yếu ở Ômô, nơi mà niên đại được xác
định một cách có cơ sở hơn cả. Ông so sánh lợn ở Ômô và những vật tìm được ở
những địa điểm khác thuộc hệ đứt gãy châu Phi với lợn ở Ônđuvai, ở Sađa và
v.v... Toàn bộ sự việc đó nói lên rằng những động vật ấy có cùng một lịch sử. Sự
tiến hóa của lợn, trên một lãnh thổ rộng lớn, đều giống nhau ở khắp mọi nơi, trừ
vùng hồ Tucan. Ở đó có tới 800 nghìn năm cổ xưa hơn. Ở đó đã có những giống lợn
cổ xưa như mêzôsêrus. Những động vật này phân bố rộng rãi ở Đông Phi 2 triệu năm
trước đây. Nhưng ở KBS thuộc hồ Tucan, chúng lại được xác định niên đại là 3
triệu năm. Các nhà nghiên cứu muốn thay đổi quan điểm của Risac Liki. Nhưng
Risac Liki vẫn giữ ý kiến của mình.
Năm 1982 Đại hội quốc tế đã được
ấn định ở Maxcơva. Khi chuẩn bị cho đại hội, nhà địa chất học người Anh là
Viliam Bisôp mời các nhà khoa học đến họp ở Luân Đôn. Cuộc đấu chọi đầu tiên đã
chín muồi. Glin Azec - nhà khảo cổ học Nam Phi nổi tiếng, người giúp việc cho
Risac Liki trong các cuộc khảo sát ở hồ Tucan, đã đến cuộc họp với khí thế như
ông đã tuyên bố : "dùng gươm để bảo vệ con người thoát khỏi những con 1ợn". Ông
quyết định tấn công Bazin Kuc. Kuc thắt chiếc caravát có dòng chữ MSP. Trong năm
ấy những chiếc caravát như vậy được bán rộng rãi ở Mỹ. Azec nói rằng những chữ
ấy có nghĩa : "Đàn ông - kẻ ăn bám lợn" [1] .
Nhưng khi Bazin Kuc bắt đầu đọc
bản báo cáo thì mọi người đã quên hẳn những câu chuyện vui đùa. Kuc tuyên bố
rằng cần phải kiểm tra lại niên đại của Fise và Mule bằng cách so sánh động vật
ở Ômô và ở Tucan. Nếu ở khắp mọi nơi, mêzôsêrus được xác định niên đại chỉ là 2
triệu năm, thì ở Côbi-Fora chúng không thể có 3 triệu năm tuổi. Risac Liki không
nói một lời nào cả. Còn Glin Azec lao vào cuộc tranh luận… Ông nói rằng ông tin
niên đại ở hồ Tucan là đúng, sự không giống nhau giữa Ômô và Tucan chỉ có nghĩa
là có sự sai khác tự nhiên ở hai địa điểm đó. Chính Jôn Haris trước đây cũng nói
như vậy.
Sau khi nghe Azec nói xong, Kuc
đứng lên, chỉ vào những chữ ở chiếc caravat rồi nói : "Ông cho rằng ông đã biết
những chữ MSP có nghĩa là gì, nhưng ông chưa biết đâu. Những chữ này có nghĩa là
: "Mêzôsêrus có quyền nghiêm ngặt" [2] .
Chuỗi cười vang lên kết thúc lời
đáp lại của ông. Azec không bác bỏ được những chứng cớ của Kuc. Hầu như mọi
người (trừ nhóm của Risac Liki) đều đi đến kết luận cần phải xem xét lại niên
đại của lớp đá túp thuộc lớp KBS. Jôn Haris thuyết phục Tim Oat nghiên cứu lại
toàn bộ tài liệu ở Côbi-Fora để củng cố thêm niên đại của lớp đá túp thuộc lớp
KBS. Tim Oat nhận lời giúp ông. Hai người cùng nhau nghiên cứu một cách chi tiết
những con lợn ở Tucan. Haris đã thất vọng. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng
Kuc đúng và niên đại ở Côbi-Fora là sai.
Nhưng Risac Liki không lùi bước.
Risac Liki quyết định triệu tập cuộc họp ở Côbi-Fora để mọi người thảo luận lại
một lần nữa. Glin Azec và Kây Berensma đều có mặt. Ian Finlate - nhà địa chất
học chính của Risac Liki cũng bay từ Luân Đôn tới. Mọi người chú ý nghe thông
báo của Jôn Haris và Tim Oat về sự xác định niên đại của lợn cổ xưa. Sau đó bắt
đầu thảo luận, Ian Filate bảo vệ niên đại cũ và khẳng định rằng niên đại đó là
chính xác, những người khác ủng hộ ông. Đã có được một quyết định đưa ra một hệ
thống giải mã mới đối với những vật tìm được. Người ta đánh số lại tất cả các di
chỉ theo một hệ thống nhất. Bây giờ lại còn khó khăn hơn khi muốn biết thông tin
đến từ nơi nào - so với lớp đá túp thuộc lớp KBS. Tim Oat và Jôn Haris gửi một
bài báo nói về những nghi vấn trong việc xác định niên đại ở Côbi-Fora cho tạp
chí "Tự nhiên" (Nature), ở Luân Đôn. Nhưng người ta trả lại bài báo cho họ với
lý do không thể đưa in. Tim Oat nói rằng đó là sự bóp nghẹt ý kiến. Ông nhớ lại
cũng chính tạp chí đó đã giữ lại những bài báo của Rôbec Brum như thế nào khi
Rôbec Brum lên tiếng bảo vệ "Bêbi ở Taung" của Đact. Ông nói họ cũng là những
vật hy sinh của chế độ bóp nghẹt ý kiến, cũng như Rôbec Brum cách đây 40 năm.
Mãi đến tháng giêng năm 1977, bài báo của họ mới được công bố tại Saen ở Mỹ. Sau
sự kiện đó, Tim Oat không bao giờ còn nhận được giấy mời trở lại làm việc ở
Tucan nữa. Risac Liki không chờ đợi một cách bình thản khi người ta còn chưa
phân phát hết sơ đồ xác định niên đại của ông. Ông yêu cầu phòng thí nghiệm ở
Anh, bằng đồng vị phóng xạ (của Fise và Mule) xác định lại niên đại của lớp KBS
theo phương pháp kali-acgon. Người ta đã phân tích và nhận được niên đại 2,4
triệu năm trước đây, chứ không phải là 2,6 triệu năm như lần đầu tiên đã xác
định. Đó là bước đầu tiên theo hướng đúng đắn. Nhưng là bước ngắn ngủi tới mức
mà những người ủng hộ Kuc vẫn cảm thấy cần phải có những niên đại mới. Họ rất
vui mừng khi Tupe Secling - nghiên cứu sinh của Trường đại học tổng hợp
Califocni, đưa từ thực địa về những mẫu đá tup của lớp KBS, lấy ở hồ Tucan. Tupe
Secling giao những mẫu đó cho phòng thí nghiệm của Kutis - người mở đầu cho
phương pháp xác định niên đại theo kali-acgon đối với các trầm tích pliôxen và
pleixtôxen. Kutis đã phân tích các mẫu của Secling. Một mẫu trong số đó có niên
đại 1,8 triệu năm, mẫu khác - 1,6 triệu năm. Những niên đại ấy gần như trùng với
những niên đại mà các chuyên gia nghiên cứu lợn hóa thạch đã giả định đối với
lớp KBS. Họ phấn khởi vì những niên đại mới. Những niên đại mới này làm cho
Risac Liki bối rối.
Trong bài tổng quan về họ người
ở Tucan mà ông đã viết vào năm 1978 cho "Saentific American", ông ghi nhận sự
không trùng hợp giữa những niên đại của Fise - Mule với những niên đại của
Kutis, nhưng R. Liki không chỉ rõ ông bằng lòng với niên đại nào hơn
cả. Tuy nhiên, những niên đại ấy đã chứng minh chiếc sọ 1470
không thể cổ xưa hơn 2 triệu năm trước đây. Năm 1982, tại đại
hội địa chất học ở Maxcơva, niên đại 1,87 triệu năm được thừa nhận là đúng và
chính xác. Ngay cả G. Azec cũng thừa nhận như vậy.
Vấn đề là ở chỗ nào ? Tại sao
các niên đại lại khác biệt nhau đến 700 nghìn năm? Toàn bộ vấn đề là ở độ tinh
khiết của các mẫu. Kutis và nhóm của ông ở Beckli đã thận trọng nghiên cứu mẫu
dưới kính hiển vi. Họ thấy trong lớp đá túp thuộc KBS không có nhiều hạt có
nguồn gốc cổ xưa hơn. Họ đã kiếm cách vứt bỏ những vật cổ xưa gây bẩn trước khi
phân tích mẫu. Các kết quả khớp nhau một cách hiển nhiên : tất cả các kết quả
tập trung thành nhóm khoảng 1,8 triệu năm. Lúc đó họ tin vào hai vật liệu khác
nhau trong mẫu : tinh thể đá bồ tát (fenspat) và đá bọt thủy tinh. Cả hai loại
đều được kiểm tra bằng máy đếm nguyên tử theo phương pháp kali-acgon. Cả hai đều
cho niên đại như nhau.
Tháng 8 năm 1982, tại hội nghị ở
Maxcơva, những kết quả phân tích mới về Côbi-Fora theo đồng vị phóng xạ đã được
báo cáo. Hóa ra là niên đại đầu tiên 2,6 triệu năm là sai lầm. Tuổi lớp đá túp
thuộc lớp KBS khoảng 1,87 triệu năm. Côbi-Fora cũng có tuổi giống như những di
chỉ ở Ônđuvai. Chiếc sọ 1470 không cổ xưa hơn "người khéo léo" Ônđuvai. Những
nghi vấn của các nhà khoa học Liên Xô tỏ ra là chính xác. Nghĩa là con người đã
"trẻ lại" cả một triệu năm? Và con người sống không phải 3 mà chỉ là 2 triệu năm
như Luis Luki đã xác lập điều đó ngay từ buổi đầu của những năm thứ
60?
Không phải thế. Người ta chưa
kịp dừng các cuộc đấu chọi vì Côbi-Fora, thì đã tìm thấy những di chỉ mới, mà
lần này không phải ở Đông Phi, mà ở Êtiôpi. Di chỉ Hôn cùng với những công cụ
bằng đá có tuổi 3 triệu năm đã được tìm thấy ở đó. Cũng ở đó đã phát hiện ra
những tổ tiên mới của con người có tuổi gần 4 triệu năm. Tất cả những điều đó đã
được nói tới tại hội nghị ở Maxcơva vào năm 1982. Con người đã không muốn trẻ
lại! Nhà cổ nhân chủng học trẻ tuổi Đônan Jôhansơn đã tìm thấy di cốt mới của tổ
tiên con người ở khu vực Sađa. Ở đó đã tìm thấy cả một bộ xương nguyên vẹn của
Luxi...
Chú
thích
[1] Trong nguyên bán tiếng Nga:
MSP - khớp với những chữ cái đầu trong câu giải thích hài hước của Kuc (đã dịch
từ tiếng Anh sang tiếng Nga). ND. [2] Trong nguyên bản tiếng Nga: MSP - cũng
khớp với những chữ đầu trong câu giải thích hài hước thứ hai của Kuc (đã dịch từ
tiếng Anh sang tiếng Nga). ND. (Post ngày 27.2)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét